Hiển thị các bài đăng có nhãn Những bài thuốc quý. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Những bài thuốc quý. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 28 tháng 12, 2016

BÍ PHƯƠNG CHỮA BỆNH GAN DO RƯỢU

BÍ PHƯƠNG CHỮA BỆNH GAN DO RƯỢU


     Trong những năm gần đây, bệnh gan có nguyên nhân do lạm dụng rượu bia đang có xu hường gia tăng nhanh chóng và gây ra rất nhiều hệ lụy. Thường gặp nhất là ba loại : gan nhiễm mỡ do rượu, viêm gan do rượu và xơ gan do rượu. Để dự phòng và điều trị căn bệnh này ngoài việc sử dụng thuốc của y học hiện đại người ta có xu hướng tìm đến y học cổ truyền với những loại thảo dược có công năng trị liệu các chứng bệnh tương ứng với bệnh gan do rượu như “Tửu đản”, “ Tích tụ”, “Hiếp thống”, “Chướng mãn”…Các thảo dược này được lựa chọn và phối hợp tạo thành các bí phương, nghiệm phương rồi được khảo trên lâm  sàng theo quan điểm “biện chứng luận trị” hoặc “biện bệnh luận trị”. Dưới đây xin được giới thiệu 12 ví dụ điển hình.
1. Cát hoa thang : Cát hoa (hoa sắn dây) 12g, liên kiều 12g, hổ trượng 9g, xương bồ 5g, sa nhân 3g, sinh cam thảo 20g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Một nghiên cứu khảo sát trên 82 ca, kết quả : tốt 26 ca, khá 39 ca, không hiệu quả 17 ca.
2. Sài cầm thang : Sài hồ 12g, trạch tả 12g, , trư linh 15g, đẳng sâm 15g, bạch truật 10, bán hạ chế 10g, quế chi 10g, chích thảo 6g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Công dụng : sơ can lợi mật, giải rượu tả độc, dùng hữu hiệu cho những bệnh nhân bị tổn thương gan do rượu.
3. Nhu can tiêu thủy thang : Cát căn 20g, sinh hoàng kỳ 50g, biển đậu 10g, hải tảo 10g, kê nội kim 10g, địa miết trùng 10g, đan sâm 10g, thanh bì 10g, thanh đại 6g, bạch truật 15g, trạch lan 15g, lai phục tử 15g, côn bố 15g, sài hồ 15g, trạch tả 15g, nhân trần 18g. Khí hư thì gia thêm hồng sâm hoặc tây dương sâm 10g, huyết hư thì gia thêm đương quy 6g, âm hư thì gia thêm miết giáp 20g, dương hư gia thêm phụ tử chế 10g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.
4. Gia vị ôn đởm thang : Tích tương thực 10g, hoàng liên 10g, bán hạ chế 10g, bạch linh 15g, trúc nhự 12g, trần bì 12g, đào nhân 12g, sài hồ 12g, xích thược 12g, bạch thược 12g, đan sâm 30g, sơn tra 30g, miết giáp 24g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Công dụng : giải rượu tả độc, lý khí vận tỳ, hoạt huyết hóa ứ, dùng thích hợp cho bênh gan do rượu thuộc thể Can uất tỳ hư, nhiệt ứ hỗ kết.
5. Giải tửu bảo can thang : Sơn tra sao 30g, tích tương tử 15g, trạch tả 15g, trư linh 15g, sài hồ 15g, kê nội kim 15g, chi tử sao 10g, bạch thược sao 10g, hoàng cầm 10g, thần khúc 10g, sa nhân 10g, uất kim 20g, sinh khương 5g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Công dụng : sơ can thanh nhiệt, giải rượu hóa trùng, tiêu kiên giáng mỡ, dùng thích hợp cho trường hợp gan nhiễm mỡ do rượu. Một khảo sát trên 23 ca, kết quả khỏi 8 ca, chuyển biến tốt 13 ca, không hiệu quả 2 ca, đạt tỷ lệ hiệu quả 91,3%.
6. Thanh chi phục can thang : Sinh sơn tra 30g, hắc sửu 15g, bạch sửu 15g, tỳ giải 15g, hà thủ ô 10g, trạch tả 10g, đan sâm 20g, nhân trần 20g, sắc uống mỗi ngày 1 thang, 20 thang là 1 liệu trình. Công dụng : thanh tả thấp nhiệt, hoạt huyết giáng mỡ, dùng thích hợp cho bệnh gan nhiễm mỡ do rượu. Một khảo sát trên 48 ca, kết quả khỏi 28 ca, có chuyển biến 14 ca, không tác dụng 6 ca, đạt hiệu quả 87,5%.
7. Thanh can hoạt huyết phương : Sài hồ, hoàng cầm, đan sâm, miết giáp, cát căn, hàm lượng bằng nhau, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Công dụng : sơ can thanh nhiệt hoạt huyết giải độc, dùng cho bệnh gan do rượu. Một khảo sát lâm sàng trên 35 ca, kết quả khỏi 17 ca, tốt 12 ca, khá 5ca, không hiệu quả 1 ca.
8. Thanh can giải tửu ẩm : Nhân trần 20g, cát căn 20g, thiết quan âm trà 20g, bạch mao căn 20g, bạch linh 15g, sơn tra 15g, trạch lan 10g. Nếu thấp nhiệt uất kết can vị bất hòa gia bồ công anh 15g, đại hoàng 6g, chi tử 10g ; nếu thấp trệ tỳ hư, can khí uất kết gia bán hạ chế 10g, hậu phác 10g, bạch truật 15g, thảo quyết minh 15g ; nếu thấp ứ hiệp trở, can tỳ lưỡng hư gia xích thược 12g, đương quy 10g đào nhân 10g, hồng hoa 8g, manh trùng 6g, sâm cao ly 3g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Công dụng : thanh lợi tửu thấp, hòa can khứ tích, chuyên dùng cho bệnh gan do rượu. Một khảo sát lâm sàng trên 42 ca, kết quả khỏi 22 ca, có chuyển biến rõ 15 ca, không hiệu quả 5 ca.
9. Thanh can giải độc thang : Sài hồ 10g, hoàng cầm 10g, bán hạ chế 10g, tam thất 10g, bồ công anh 30g, sơn tra 30g, hổ trượng căn 30g, căn hoa 30g, ý dĩ 30g, đan sâm 15g, bản lam căn 15g, bạch linh 15g, sinh cam thảo 6g. Nếu bụng đầy đi lỏng, rêu lưỡi trắng nhờn gia thương truật 15g, bạch truật 15g, thần khúc 15g, trần bì 10g ; nếu vàng da gia nhân trần 30g ; nếu có cổ trướng hoặc phù chi dưới gia xa tiền tử 30g, trạch tả 15g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Công dụng : thanh nhiệt hóa thấp, hoạt huyết giải độc, chuyên dùng cho bệnh gan do rượu, men GGT tăng cao. Một khảo sát trên 42 ca, kết quả khỏi 38 ca, có chuyển biến 4 ca.
10. Giải tửu hộ can ẩm : Căn hoa, cát căn, tích tương tử, nhân trần, hổ trượng, đan sâm, đẳng sâm, bạch truật, bạch mao căn lượng bằng nhau, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Công dụng : thanh nhiệt trừ thấp, kiện tỳ hòa vị, chuyên dùng cho bệnh gan do rượu. Một khảo sát trên 36 ca, kết quả khỏi 24 ca, có chuyển biến rõ 8 ca, không có hiệu quả 4 ca.
11. Sơn tra trà diệp thang : Sinh sơn tra đan sâm 15g, trà diệp 15g, thảo quyết minh 15g, hà diệp 10g, bạch truật 10g, đại hoàng 10g, lộ lộ thông 10g, hương phụ 10g, uất kim 10g, quy vĩ 12g, xích thược 12g, bạch phàn (tán bột uống) 1,5g, hà thủ ô 30g, sắc uống mỗi ngày 1 thang, 3 tháng là 1 liệu trình. Công dụng : tiêu tích lợi thấp, sơ can kiện tỳ, chuyên dùng chữa bệnh gan do rượu.
12. Thanh nhiệt lương huyết giải tửu phương : Nhân trần 30g, cát căn 30g, bạch mao hạ khô thảo 30g, bạch mao căn 30g, bạch hoa xà thiệt thảo 30g, tiêu sơn tra 30g, thanh cao 10g, trạch lan 10g, xích thược 15g, đan sâm 20g. Nếu thấp nhiệt uất kết, can hỏa phạm vị gia bồ công anh 30g, đại hoàng 6g, kim ngân hoa 15g ; nếu thấp khốn tỳ hư, can khí uất trệ gia hậu phác 10g, bán hạ chế 10g, thương truật 10g ; nếu thấp nhiệt hiệp ứ, can tỳ lưỡng hư gia đương quy 10g, đào nhân 10g, địa miết trùng 6g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, 7 tuần là 1 liệu trình. Công dụng : kiện tỳ lợi thấp, lương huyết thanh nhiệt, sơ can hòa vị, chuyên dùng cho bệnh gan do rượu. Một khảo sát trên 47 ca, kết quả khỏi 25 ca, có chuyển biến rõ 16 ca, không có hiệu quả 6 ca.

                                                                                  Hoàng Khánh Toàn

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2015

Rượu thuốc xoa bóp

                                                   VÀI PHƯƠNG RƯỢU THUỐC XOA BÓP


     Mươi vị thuốc y học cổ truyền ngâm trong bình hoặc lọ kín với rượu tốt, sau vài ngày là ta đã có được một thứ dược tửu để xoa bóp nhằm mục đích để dự phòng và điều trị các chứng đau mỏi gân xương, cơ khớp trong những ngày đông tháng giá. Nhưng, vấn đề là ở chỗ, phải biết chọn dùng những vị thuốc nào và phương cách chế biến ra sao thì mới mong có được những loại rượu thuốc xoa bóp vừa đơn giản lại vừa có hiệu quả như mong muốn. Bài viết này xin được giới thiệu một vài ví dụ điển hình để độc giả có thể tham khảo và vận dụng khi cần thiết.
     Bài 1 : Huyết giác 10g, đại hồi 10g, địa liền 10g, quế chi 10g, hoa chổi xể 10g, lá thông 10g, thiên niên kiện 10g, ấu tầu (ô đầu) 5g, mán chỉ (kim sương) 10g. Các vị tán nhỏ, ngâm với 500 ml rượu trắng trong bình hoặc lọ kín, mỗi ngày đảo hoặc lắc 1 lần, sau 7 ngày là có thể dùng được. Chỉ dùng để xoa ngoài khớp hoặc nơi đau mà da không có tổn thương, tuyệt đối không được uống.
     Bài 2 : Phụ tử chế 12g, tam thất 6g, bạch chỉ 6g, chế xuyên ô 6g, tế tân 6g, mộc qua 10g, xuyên khung 10g, hồng hoa 10g, cẩu tích 10g, độc hoạt 10g, ngô công 1 con, địa long 3 con, mã tiền tử 2 hạt. Các vị tán vụn, ngâm với 500 ml rượu trắng, sau 7 - 10 ngày là có thể dùng được. Chỉ dùng để xoa ngoài khớp hoặc nơi đau mà da không có tổn thương, tuyệt đối không được uống.
     Bài 3 : Hồng hoa 12g, đào nhân 20g, xuyên khung 50g, đương quy 50g, thảo ô 20g, hạt tiêu 50g. Các vị tán vụn, ngâm với 1000 ml rượu trắng, sau 3 ngày thì dùng được. Chỉ dùng để xoa ngoài khớp hoặc nơi đau mà da không có tổn thương, tuyệt đối không được uống.
     Bài 4 : Khương hoạt 15g, độc hoạt 15g, quế chi 15g, tần giao 15g, đương quy 15g, dây đau xương 15g, nhũ hương 15g, một dược 15g, mộc hương 15g, tang chi 30g. Các vị tán vụn, ngâm với 1500 ml rượu trong bình kín, sau 7 ngày thì dùng được. Dùng để xoa ngoài khớp hoặc nơi đau, không được uống.
     Bài 5 : Hồng hoa 6g, đào nhân 6g, nhũ hương 6g, đương quy 12g, sinh nam tinh 12g, sinh bán hạ 12g, sinh xuyên ô 9g, khương hoạt 9g, độc hoạt 9g, bạch giới tử 3g, băng phiến 3g, tế tân 4,5g, tạo giác 4,5g. Các vị tán vụn, ngâm với 1000 ml rượu trắng trong bình kín, sau 7 - ngày là có thể dùng được. Chỉ dùng để xoa ngoài khớp hoặc nơi đau mà da tại chỗ không có tổn thương. Tuyệt đối không được uống.
     Bài 6 : Đương quy 12g, độc hoạt 12g, khương hoạt 12g, thiên niên kiện 10g, hồng hoa 8g, tô mộc 12g, nhục quế 8g, tần giao 12g, huyết giác 12g, ngải cứu 6g, mộc qua 10g. Các vị tán vụn, ngâm với 1000 ml rượu trắng, sau 7 ngày là có thể dùng được. Chỉ dùng để xoa ngoài khớp hoặc nơi đau, không được uống.

                                                                             Hoàng Khánh Toàn


Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2014

Ngọc bình phong ẩm

NGỌC BÌNH PHONG ẨM, MỘT LOẠI TRÀ DƯỢC QUÝ



     Ngọc bình phong ẩm là tên một bài trà thuốc cổ, được ghi lại trong y thư nổi tiếng Đan khê tâm pháp của Chu Đan Khê, một trong tứ đại gia trứ danh đời Kim Nguyên (Trung Quốc), có công dụng ích khí, cố biểu và chỉ hãn, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như hay đổ mồ hôi do biểu hư, cảm mạo ở những người thể chất hư nhược. "Bình phong" có nghĩa là tấm chắn, "Ngọc bình phong" là tấm chắn được chế bằng ngọc có công dụng che chắn bảo vệ cơ thể nhằm phòng chống ngoại tà (các nhân tố gây bệnh từ bên ngoài) xâm nhập vào cơ thể.
     Công thức loại trà dược này hết sức đơn giản, chỉ gồm có ba vị : hoàng kỳ sao 18g, bạch truật sao 12g, và phòng phong 6g. Cách dùng : ba vị sấy khô, tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 - 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
    Trong bài, hoàng kỳ vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ khí cố biểu, là một trong những dược liệu có tác dụng dược lý rất phong phú như tăng cường công năng miễn dịch của cơ thể, cải thiện quá trình chuyển hoá tế bào, điều tiết đường huyết, cường tim, nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống tạo huyết, bảo hộ tế bào gan và thận, chống lão hoá, chống mệt mỏi, chống phóng xạ, kháng khuẩn, kháng vi rút, chống viêm, tăng cường khả năng ghi nhớ, trấn tĩnh, giảm đau và ức chế các tế bào ung thư.
     Bạch truật vị đắng ngọt, tính ấm, có công dụng kiện tỳ ích khí, táo thấp lợi thuỷ, chỉ hãn an thai. Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, vj thuốc này cũng có khả năng tăng cường miễn dịch, chống lão hoá, làm giảm mỡ máu, hạ đường huyết, kháng khuẩn, lợi niệu, chống ung thư, lợi mật và bảo hộ tế bào gan.
     Phòng phong vị cay ngọt, tính hơi ấm, có công dụng trừ phong giải biểu, trừ thấp, trấn thống và giải kính. Theo dược lý học hiện đại, phòng phong có tác dụng giải nhiệt, kháng khuẩn, chống viêm, chống dị ứng, giảm đau, trấn tĩnh, chống co giật, kháng ung thư và nâng cao năng lực miễn dịch không đặc hiệu.
     Kết quả nghiên cứu dược lý và lâm sàng của các nhà khoa học Trung Quốc cho thấy, với cấu trúc phối hợp ba vị thuốc nói trên, Ngọc bình phong ẩm có tác dụng khá đặc biệt trên hệ thống miễn dịch của cơ thể, vừa nâng cao năng lực miễn dịch dịch thể, vừa cải thiện tích cực miễn dịch tế bào, ức chế phản ứng quá mẫn, tăng cường sức chống đỡ của niêm mạc đường hô hấp, từ đó phòng chống hữu hiệu tình trạng viêm nhiễm do vi khuẩn và vi rút gây nên. Bởi vậy, đây là loại trà dược đặc biệt tốt cho những người hay bị cảm mạo và các bệnh lý đường hô hấp. Trên thực tế, hiện nay người ta còn sử dụng Ngọc bình phong ẩm gia giảm để chữa khá nhiều chứng bệnh như tự hãn (vã mồ hôi nhiều khi thức), đạo hãn (hay đổ mồ hôi trộm), ho do nhiều nguyên nhân, viêm thận, liệt mặt, sốt khi hành kinh, khí hư, bí tiểu sau khi sinh con, chứng nhiều mồ hôi ở trẻ em, viêm mũi dị ứng, mày đay, hồng ban đa hình, hen phế quản, viêm nhiễm đường hô hấp trên
    Trong hoàn cảnh hiện nay, khi vấn đề ô nhiễm môi trường sống trở nên hết sức cấp bách, các bệnh lý trực tiếp hoặc có liên quan đến đường hô hấp đã và đang diễn biến rất phức tạp, đặc biệt là dịch SARS và cúm gà, thì việc tìm kiếm, nghiên cứu đánh giá và sử dụng các vị thuốc và bài thuốc của y học cổ truyền có ý nghĩa không nhỏ. Thiết nghĩ, Ngọc bình phong ẩm có lẽ cũng là một trong những loại trà dược cần được lưu tâm nghiên cứu và khuyến khích sử dụng.




Đan sâm ẩm

ĐAN SÂM ẨM, MỘT LOẠI TRÀ DƯỢC QUÝ



     Bất cứ ai có chút kiến thức về y học cổ truyền đều biết đến Tứ vật thang, một bài thuốc rất đơn giản chỉ gồm 4 vị : thục địa, đương quy, bạch thược và xuyên khung, nhưng lại là một phương thang “ bổ huyết điều huyết” kinh điển hết sức cơ bản và trọng yếu, được các thầy thuốc y học cổ truyền sử dụng thường xuyên trong công tác chẩn trị bệnh tật.
     Nhưng, cũng từ xa xưa giới chuyên ngành đông y, đông dược đã lưu truyền  câu ngạn ngữ : “ Nhất vị đan sâm ẩm, công đồng Tứ vật thang” (một vị đan sâm cũng có tác dụng ngang với cả bài thuốc Tứ vật). Y thư cổ Bản thảo hối ngôn cũng viết : “ Đan sâm nhất vật, nhi hữu Tứ vật chi công. Bổ huyết sinh huyết, công quá Quy, Thục ; điều huyết liễm huyết, lực kham Thược dược ; trục ứ sinh tân, tính bội Khung cùng” ( Chỉ mình vị Đan sâm mà có công năng như bài Tứ vật, bổ huyết và sinh huyết hơn cả Đương quy và Thục địa, điều huyết liễm huyết không thua kém Bạch thược, trừ huyết ứ sinh huyết mới vượt cả Xuyên khung). Dẫu cho cổ nhân có đánh giá hơi quá mức một chút, nhưng đủ thấy Đan sâm là vị thuốc rất có giá trị về phương diện huyết mạch, đặc biệt là công dụng hoạt huyết khứ ứ.
     Đan sâm ( Radix Salviae multiorrhizae) thực chất là rễ phơi hay sấy khô của cây đan sâm có tên khoa học là Salvia miltiorrhiza Bunge. “ Đan” là đỏ, “ sâm” là sâm, vì rễ cây này trông giống sâm mà lại có màu đỏ nên gọi là Đan sâm. Theo y thư cổ, Đan sâm vị đắng tính hơi lạnh, vào được hai kinh tâm và can, có công dụng hoạt huyết khứ ứ, tiêu thũng chỉ thống, lương huyết dưỡng huyết và an thần ; thường được dùng để chữa các chứng bệnh của đông y do huyết ứ gây nên như thống kinh, bế kinh, kinh nguyệt không đều, tâm thống, hung hiếp thống, quản phúc thống, phong thấp tý thống, ung thư thũng thống, tâm quý chính xung, trật đả thương tổn…
     Nghiên cứu hiện đại cho thấy, với thành phần chủ yếu gồm Tanshinone I, IIA và IIB ,  Cryptotanshinone, Salvianolic acid A, B và C, Tanshiquinone…, Đan sâm có tác dụng dược lý khá phong phú :
- Làm giãn và tăng lưu lượng động mạch vành, phòng chống tích cực tình trạng thiếu máu và hoại tử cơ tim, làm chậm nhịp tim .
- Cải thiện vi tuần hoàn, nâng cao sức chịu đựng của tế bào não và cơ tim trong điều kiện thiếu ô xy.
- Chống đông máu, ức chế chức năng tiểu cầu và ổn định màng hồng cầu.
- Điều chỉnh rối loạn lipid máu : làm giảm cholesterol và triglycerid ; ức chế và làm chậm quá trình hình thành các mảng vữa xơ động mạch.
- Bảo vệ và thúc đẩy sự tái sinh tế bào gan, bảo hộ và chống tình trạng loét niêm mạc dạ dày, cải thiện công năng thận và dự phòng cơn hen tái phát.
- Ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn coli, lỵ và thương hàn.
- Nâng cao năng lực miễn dịch, chống thương tổn do phóng xạ, thanh trừ và ức chế sự hình thành các gốc tự do, thúc đẩy quá trình liền sẹo vết thương.
- Trấn tĩnh và chống co giật.
     Trên cơ sở nghiên cứu dược lý này, người ta đã dùng Đan sâm và các chế phẩm của nó để điều trị khá nhiều mặt bệnh theo y học hiện đại như viêm gan, viêm thận cấp và mạn tính, hen phế quản, viêm thần kinh ngoại vi do đái đường, đau dây thần kinh tam thoa, đâu đầu do mạch máu, ù tai do nguyên nhân thần kinh, mụn nhọt...và đặc biệt là các bệnh lý tim mạch như thiểu năng tuần hoàn não, tai biến mạch não, cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, thiểu năng mạch vành, xuất huyết võng mạc, viêm động tĩnh mạch...
     Hiện nay, ngoài việc dùng Đan sâm đơn thuần hoặc phối hợp với các vị thuốc khác dưới dạng đơn sắc, viên hoàn hoặc bột thuốc theo lối cổ truyền, người ta còn ứng dụng công nghệ hiện đại để sản xuất và đưa vào sử dụng Đan sâm với hình thức dịch tiêm truyền, viên nén, viên nang, trà tan...Tuy nhiên, các dạng thuốc này đều khá phức tạp, khó chế, khó dùng và đắt tiền, chưa thích hợp với điều kiện kinh tế hiện nay và yêu cầu của công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu. Bởi vậy, việc chọn dùng Đan sâm dưới một dạng thuốc tương đối dân dã, dễ chế, dễ dùng và rẻ tiền mà vẫn giữ được tác dụng ở một mức độ đáng kể là điều hết sức cần thiết.
     Đan sâm ẩm, một loại trà dược được ghi trong sách Trung quốc dược thiện học, có lẽ đáp ứng được đầy đủ những yêu cầu này. Cách chế và cách dùng cụ thể như sau:
     Đan sâm 6 gam rửa sạch, thái mỏng rồi hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 - 20 phút có thể dùng được, uống thay trà trong một ngày. Chú ý chọn loại to chắc, khô, mềm, sắc ngoài đỏ tía, sắc trong vàng thâm mịn, không có xơ và không có rễ con là tốt. Nên dùng loại trà dược này với mục đích dự phòng tích cực, điều trị hỗ trợ hoặc điều trị duy trì cho những mặt bệnh đã nêu ở trên. Khi uống, nếu bị đi lỏng thì có thể sao qua Đan sâm trước khi dùng hoặc cho thêm vào ấm trà vài lát gừng tươi. Riêng đối với bệnh lý động mạch vành tim, để nâng cao hiệu quả trị liệu có thể phối hợp Đan sâm với một số vị thuốc hoạt huyết khác như Đàn hương, Tam thất, Hồng hoa, Nguyệt lý hoa... Ví dụ : Đan sâm 15g, Tam thất 100g, hai thứ tán vụn, mỗi ngày dùng 10g, bọc trong túi vải , hãm uống thay trà hoặc Đan sâm 9g, trà búp 3g, hai thứ tán vụn hãm uống thay trà trong ngày. Cũng cần lưu ý là Đan sâm ẩm không được dùng cho phụ nữ có thai và những người không có có hội chứng huyết ứ.

                                                                                                                                                                                                                                               


Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2014

Hai cổ phương chữa viêm loét dạ dày tá tràng

Hai phương thuốc hữu hiệu chữa viêm loét dạ dày

    
     Bà Nguyễn Thị Nguyên, 75 tuổi, ở phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội, bị bệnh viêm loét dạ dày từ hơn 30 chục năm nay. Biểu hiện chủ yếu là đau vùng thượng vị với tính chất âm ỉ, tăng lên khi ăn đồ cay chua và lúc thời tiết thay đổi, kèm theo ợ hơi, có lúc buồn nôn nhưng không nôn, đại tiện táo lỏng thất thường…Bà đã đi khám ở nhiều cơ sở tây y, được dùng nhiều loại thuốc khác nhau nhưng bệnh chỉ ổn định hoặc thuyên giảm mà không khỏi hẳn, thậm chí có giai đoạn bệnh không hề biến chuyển chút nào. Năm 2005, bà đã được bác sĩ chỉ định dùng phác đồ 3 thuốc (omeprazol, amoxilin, metronidazol) với chẩn đoán viêm loét hang vị nhưng bệnh cũng chỉ ổn định trong vài tháng. Năm 2012, khi xuất hiện thêm triệu chứng nóng rát sau xương ức, kèm theo cảm giác khó chịu vùng hầu họng, bà đến khám tại một bệnh viện lớn, kết quả nội soi cho thấy có hình ảnh viêm trợt rải rác hang vị và trào ngược thực quản, test vi khuẩn Hp (+), được chỉ định dùng các thuốc như pariet, ospamox, clacid, motulium, dogmatic…trong 1 tháng, bệnh ổn định, test Hp (-) nhưng chỉ sau chừng nửa năm các triệu chứng lại tái diễn tuy mức độ không trầm trọng như trước.
     Buồn phiền quá, bà Nguyên tìm đến đông y bắt mạch kê đơn những mong bệnh ổn định lâu dài. Thật may mắn, sau khi thầy thuốc khám và chẩn đoán là mắc chứng Vị quản thống thể tỳ vị hư nhược, được kê 5 thang thuốc, sắc uống mỗi ngày 1 thang, bà Nguyên cảm thấy bụng đỡ đau, dễ chịu, hết cảm giác buồn nôn, thèm ăn và đại tiện trở lại bình thường. Uống tiếp 10 thang nữa, các triệu chứng hầu như đã hết, uống trọn 30 thang bệnh ổn định hoàn toàn. Sau đó, cứ mỗi tháng bà uống duy trì 5 thang, kéo dài trong nửa năm, cho đến nay bà Nguyên không còn phải chịu nỗi khổ sở vì căn bệnh dạ dày nữa.  
     Theo ThS Hoàng Khánh Toàn, chủ nhiệm khoa Đông y, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, viêm loét dạ dày tá tràng là một bệnh thường gặp và đã được y học cổ truyền đề cập đến từ hàng ngàn năm nay trong các chứng Vị thống, Vị quản thống, Tào tạp, Bĩ mãn…do nhiều nguyên nhân gây ra như tiên thiên bất túc (di truyền), thất tình (rối loạn tâm thần kinh), ẩm thực bất điều (ăn uống không hợp lý), ngoại cảm tà khí (nhiễm trùng, nhiễm độc), rối loạn công năng các tạng phủ, lạm dụng các thuốc cay nóng và có sức công phá mãnh liêt…Bệnh được chia làm nhiều thể khác nhau như Can khí phạm vị, Tỳ vị hư nhược, Tỳ hư vị nhiệt, Vị âm bất túc, Vị lạc ứ trở…Bệnh thường hay tái phát, ảnh hưởng đến công việc và chất lượng cuộc sống nên sau khi khỏi bệnh việc uống thuốc củng cố là rất cần thiết để tránh tái phát. Thực tế có rất nhiều bệnh nhân nhờ điều trị triệt để sau hàng chục năm vẫn không bị lại.
     ThS Toàn nhấn mạnh, việc tìm ra nguyên nhân gây bệnh trên cơ sở đó trị bệnh tận gốc và bồi bổ các cơ quan liên quan mạnh lên thì mới khỏi được bệnh. Điều này phụ thuộc vào kinh nghiệm và kỹ năng chẩn trị, gia giảm thuốc của bác sĩ trên mỗi cơ thể người bệnh.Với ThS Toàn, ông đã vận dụng cả kiến thức tây y trong nhiều năm học hỏi kết hợp kiến thức Đông y của người xưa được đúc kết trong dân gian, sách thuốc cổ và kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, đặc biệt là Trung Quốc, cộng với kinh nghiệm thực tiễn trong chuyên ngành Đông y gần 30 năm đã áp dụng trị liệu bằng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó chủ yếu là uống thuốc theo đơn và kết hợp châm cứu, bấm huyệt, cấy chỉ cát gút khi cần thiết.
     ThS Toàn cho biết, về thuốc, tốt nhất là được kê đơn thuốc sắc theo nguyên tắc “biện chứng luận trị”, nghĩa là, tùy theo thể bệnh mà kê đơn cho phù hợp. Tuy nhiên, đơn giản nhưng hữu hiệu là chọn lấy một bài thuốc làm hạt nhân rồi trên cơ sở đó tùy theo bệnh trạng cụ thể mà gia giảm các vị thuốc cho chuẩn xác. Kinh nghiệm cho thấy, hai cổ phương “Hương sa lục quân tử thang” (mộc hương, sa nhân, nhân sâm, bạch linh, bạch truật, cam thảo, trần bì, bán hạ chế) và “Sâm linh bạch truật tán” (nhân sâm, bạch linh, bạch truật, cam thảo, liên nhục, ý dĩ, sa nhân, cát cánh, biển đậu, hoài sơn) là những bài thuốc thường được lựa chọn hơn cả, có thể dùng riêng hoặc phối hợp với nhau. Nếu nhiệt thịnh gia hoàng cầm, bồ công anh ; nếu hàn thịnh, đại tiện lỏng gia can khương, ngô thù, nhục đậu khấu ; nếu đau bụng nhiều gia xuyên luyện tử, huyến hồ sách ; nếu mệt mỏi nhiều gia hoàng kỳ ; nếu ăn kém, đầy bụng gia thần khúc, mạch nha, sơn tra, kê nội kim ; nếu ợ chua nhiều gia ô tặc cốt, mẫu lệ ; nếu nhiệt miệng, táo bón gia cát căn, mạch môn, chỉ xác…Thông thường bệnh nhân uống chừng mươi thang là có chuyển biến rõ rệt.
     Box: Để phòng bệnh, cách tốt nhất là chú ý tạo được một đời sống tinh thần cân bằng, thư thái, tránh căng thẳng, nghỉ ngơi đầy đủ, thường xuyên tập luyện thể dục thể thao hoặc các môn tập của y học cổ truyền như dưỡng sinh, yoga, thái cực quyền, cân ma đạt kinh, ngồi thiền…Chế độ ăn cần khoa học và hợp lý, tránh các đồ ăn thức uống quá nóng lạnh, quá cay chua, khó tiêu và có tính chất kích thích. Nên trọng dụng nghệ tron g việc chế biến các món ăn. Hạn chế bia rượu, bỏ thuốc lá, thuốc lào, cà phê và trà quá đặc. Mỗi ngày nên xoa bóp bụng theo chiều kim đồng hồ 2 lần, mỗi lần chừng 100 vòng. Định kỳ thăm khám sức khỏe để phát hiện và trị liệu bệnh sớm, dùng thuốc củng cố theo đúng hường dẫn để phòng chống tái phát.


Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014

Thiên ma câu đằng ẩm

“Thiên ma câu đằng ẩm”, phương thuốc phòng chống rối loạn tiền đình


     Kết hợp kiến thức Tây y, Đông y và kinh nghiệm đúc kết sau gần 30 năm trong nghề, ThS Hoàng Khánh Toàn, Chủ nhiệm khoa Y học cổ truyền BV TƯ quân đội 108 đã chữa khỏi cho nhiều người bị   rối loạn tiền đình  (RLTĐ) chỉ sau 5 - 10 ngày xoa bóp bấm huyệt và uống thuốc.

Nằm nhắm mắt cũng không yên
     Chị Ngô Thị Liên, 32 tuổi, ở Khu tập thể Kim liên, Hà nội, tháng 12/2013 bị với các biểu hiện như hoa mắt, chóng mặt, có cảm giác các vật quay xung quanh người, kém theo buồn nôn, nôn, vã mồ hôi, tim đập nhanh…Chị mời bác sĩ đến nhà truyền dịch và uống thuốc liên tục 3 ngày mà bệnh vẫn chưa thuyên giảm, phải nhắm nghiền mắt, chẳng dám quay đầu và không ngồi dậy được. Sau ngày đầu tiên được ThS Toàn châm cứu ở đầu mặt, tay và chân kết hợp với day bấm huyệt, chị Liên đã mở mắt, quay cổ được mà không bị chóng mặt. Tiếp tục xoa bóp bấm huyệt kết hợp uống thuốc theo đơn mỗi ngày 1 thang, sau 5 ngày thì bệnh của chị đã khỏi về cơ bản . Chị tiếp tục uống 10 thang thuốc củng cố và bệnh ổn định cho đến nay.
Theo ThS Hoàng Khánh Toàn, chủ nhiệm khoa Đông y, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, RLTĐ là một hội chứng bệnh lý thường gặp do nhiều nguyên nhân gây nên và được chia làm hai loại: hội chứng tiền đình ngoại vi và hội chứng tiền đình trung ương. Trong đông y, bệnh thuộc phạm vi chứng “Huyễn vựng”, biểu hiện bằng các triệu chứng như chóng mặt, choáng váng như say sóng, hoa mắt, nhìn không rõ, mắt tối sầm xây xẩm, ngã nhào, nôn…Bệnh thường gặp ở người trung niên và có tuổi nhưng hiện nay đang có xu hướng trẻ hóa ngay cả với lưa tuổi đôi mươi. Điều nguy hại của  RLTĐ  là ở những bệnh nhân có bệnh lý đi kèm như thiếu máu não hoặc tăng huyết áp sẽ có nguy cơ đột quỵ dẫn đến tử vong. Bệnh thường hay tái phát, ảnh hưởng đến công việc và chất lượng cuộc sống nên sau khi khỏi bệnh uống thuốc củng cố rất ý nghĩa để tránh tái phát. Thực tế có rất nhiều bệnh nhân nhờ điều trị triệt để sau hàng chục năm vẫn không bị lại.

Quan trọng là chẩn đoán chính xác bệnh
     ThS Toàn nhấn mạnh,  RLTĐ là trạng thái tổn thương hệ thần kinh có liên quan đến mạch máu nuôi não, hay gặp ở những người bị xơ vữa động mạch hoặc hư xương sụn cột sống cổ…nên bệnh nhân phải được khám cả bằng tây y để xác định chẩn đoán chính xác. Trong nhiều trường hợp bệnh nặng, nguy hiểm tính mạng phải kết hợp cả đông y và tây y, thậm chí có khi phải điều trị tây  y trước rồi sau đó mới dùng đông y để củng cố.
Trong Đông y, huyễn vựng gây nên bởi nhiều nguyên nhân như khí hư hoặc huyết hư, hoặc cả khí huyết đều hư (suy nhược cơ thể); do chữa nhầm thuốc; sinh hoạt tình dục quá độ; say rượu kéo dài làm tổn thương tinh huyết; do bị ngoại cảm, cảm nhiễm tà khí (phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa); do bị chấn thương, mất máu quá nhiều, chấn động não bộ…Vì vậy, tìm ra căn nguyên gây bệnh trên cơ sở đó trị bệnh tận gốc và bồi bổ các cơ quan liên quan mạnh lên thì mới khỏi được bệnh. Điều này phụ thuộc vào kinh nghiệm và kỹ năng chẩn trị, gia giảm thuốc của bác sĩ trên mỗi cơ thể người bệnh.Với ThS Toàn, ông đã vận dụng cả kiến thức tây y trong nhiều năm học hỏi kết hợp kiến thức Đông y của người xưa được đúc kết trong dân gian, sách thuốc cổ và kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, đặc biệt là Trung Quốc, cộng với kinh nghiệm thực tiễn trong chuyên ngành Đông y gần 30 năm đã áp dụng trị liệu bằng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó chủ yếu là châm cứu bấm huyệt và uống thuốc theo đơn
ThS Toàn cho biết, tùy theo bệnh tình và từng thể bệnh khác nhau, các huyệt vị như bách hội, thái dương, ấn đường, phong trì, nội quan, hợp cốc thường được trọng dụng với hình thức thể châm kết hợp với day bấm các huyệt và xoa bóp vùng đầu, cổ và gáy. Về thuốc, tốt nhất là được kê đơn thuốc sắc theo nguyên tắc “biện chứng luận trị” – tùy theo bệnh mà có thuốc trị. Tuy nhiên, đơn giản nhưng hữu hiệu là chọn lấy một bài thuốc làm hạt nhân rồi trên cơ sở đó tùy theo bệnh trạng cụ thể mà gia giảm các vị thuốc cho phù hợp. Kinh nghiệm cho thấy, “Thiên ma câu đằng ẩm” (thiên ma, câu đằng, thạch quyết minh,  chi tử, hoàng cầm, ngưu tất , ích mẫu, tang ký sinh, dạ đằng giao, bạch linh) là bài thuốc cổ thường được lựa chọn hơn cả. Nếu có đau đầu, buồn nôn gia thêm trần bì, bán hạ chế, bạch chỉ; nếu vã mồ hôi lạnh, sợ lạnh gia phòng phong; nếu khí hư gia đẳng sâm, bạch truật, hoàng kỳ; nếu huyết hư gia đương quy, hà thủ ô; nếu âm hư gia thục địa, kỷ tử ; nếu dương hư gia ba kích, nhục dung…Thông thường bệnh nhân chỉ điều trị từ 5 – 10 thang là có chuyển biến rõ rệt.
     Box: Để phòng bệnh cách tốt nhất là thường xuyên tập thể dục thể thao. Đối với người làm việc văn phòng cần tránh ngồi quá lâu trước máy vi tính. Thường xuyên thực hiện các bài tập vận động vùng đầu, cổ gáy. Tập đẩy hơi vào 2 tai bằng cách dùng 2 bàn tay áp vào 2 bên tai mỗi ngày 50 - 100 lần. Uống nước thường xuyên khoảng 2 lít/ngày. Khi bị bệnh cần phải cẩn trọng trong tư thế sinh hoạt, không nên quay cổ một cách đột ngột hoặc đứng lên ngồi xuống quá nhanh…


Thúy Nga (Báo Khoa học và Đời sống)

Thứ Ba, 29 tháng 7, 2014

Những bài thuốc trị thiểu năng tuần hoàn não

NHỮNG BÀI THUỐC ĐƠN GIẢN CHỮA THIỂU NĂNG TUẦN HOÀN NÃO




     Thiểu năng tuần hoàn não (TNTHN) là tình trạng bệnh lý thường gặp ở người có tuổi và hiện nay đang có xu hướng gia tăng. Có hai nguyên nhân chính : một là do các mảng vữa xơ làm hẹp lòng động mạch cung cấp máu nuôi não, hai là do hư xương sụn cột sống cổ gây nên tình trạng thiểu năng hệ động mạch đốt sống - thân nền. Cả hai nguyên nhân đều đưa đến hậu quả làm tổ chức não thiếu dưỡng khí và từ đó phát sinh hàng loạt triệu chứng như : đau nặng đầu, hoa mắt chóng mặt, ù tai, giảm trí nhớ, rối loạn cảm xúc, tê bì tay chân, mất ngủ...
     Trong y học cổ truyền, TNTHN thuộc phạm vi các chứng “huyễn vựng”, “đầu thống”, “thất miên”, “tiểu trúng phong”...với các biện pháp trị liệu hết sức phong phú từ dùng thuốc, châm cứu, xoa bóp đến khí công, dưỡng sinh, y thực trị...Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu một số bài thuốc đông y rất đơn giản trong cấu trúc cũng như về cách dùng để bạn đọc có thể tham khảo và vận dụng khi cần thiết.
   Bài 1 :  Sắn dây tươi (sinh cát căn) 15 - 18g, câu đằng 6 - 9g. Hai vị thái vụn trộn đều, mỗi lần lấy 20 - 30g cho vào túi vải hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 - 30 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : thăng thanh sinh tân, bình can tức phong, dùng rất tốt cho người bị TNTHN do hư xương sụn cột sống cổ có huyết áp cao, đầu gáy cứng đau, tai ù tai điếc. Tuy nhiên, người dễ bị đi lỏng do tỳ vị hư yếu thì không nên dùng bài thuốc này.
   Bài 2 :  Thiên ma 10g, bán hạ chế 9g, xuyên khung 7g, sa tiền tử 15g. Các vị tán vụn trộn đều, mối lần lấy 40g cho vào túi vải, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dung : tức phong, sáng mắt, táo thấp, hoá đàm, dùng thích hợp với những người bị TNTHN biểu hiện triệu chứng mình mấy nặng nề, hay chóng mặt, buồn nôn, lợm giọng, đại tiện lỏng nát...Những người bị âm hư hoả vượng, hay phiền táo thì không nên dùng bài này.
   Bài 3 :  Nấm linh chi 3 - 5 g thái vụn, hãm với nước sôi uống thay trà trong ngày, mỗi ngày từ 1 - 2 lần. Công dụng : bổ hư, an thần, chỉ khái, bình suyễn, giáng áp, dùng thích hợp cho những người bị TNTHN có cao huyết áp, thiểu năng mạch vành, rối loạn lipid máu và đường huyết cao.
   Bài 4 :  Nấm linh chi 10g, hà thủ ô chế 15g, ngọc trúc 15g, kỷ tử 15g, nữ trinh tử 15g, thạch xương bồ 10g. Tất cả đem sắc lấy nước uống, mỗi ngày 1 thang. Công dụng : bổ ích can thận, dùng rất tốt cho những người bị TNTHN do vữa xơ động mạch.
   Bài 5 :  Thảo quyết minh, đan sâm, xuyên khung, sơn tra, liều lượng như nhau. Tất cả đem thái vụn, sao thơm, mỗi lần dùng 20 - 30g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : hoạt huyết hoá ứ, làm giảm cholesterol máu. Phụ nữ có thai hoặc đang hành kinh thì không nên dùng bài này.
   Bài 6 :  Hồng hoa 10g, đan sâm 30g, sinh sơn tra 30g. Tất cả đem sắc kỹ lấy nước uống, mỗi ngày 1 thang, chia uống 2 lần sáng và chiều. Công dụng : Hoạt huyết, hoá ứ, tiêu trệ, làm giảm cholesterol máu, dùng thích hợp cho những người bị TNTHN có cao huyết áp, thiểu năng mạch vành và rối loạn lipid máu. Phụ nữ có thai hoặc đang hành kinh thì không nên dùng bài này.
   Bài 7 :  Sinh địa sấy khô 12g, mạch môn 12g, huyền sâm 12g, thạch hộc 9g, nữ trinh tử 9g, nhục dung 9g. Tất cả đem sắc lấy nước uống mỗi ngày 1 thang, chia uống 2 lần sáng và chiều. Công dụng : thanh nhiệt tư âm, bổ can ích thận, dùng thích hợp cho những người bị TNTHN có các chứng đầu choang mắt hoa, tứ chi tê bì, khó thở tức ngực, miệng khô họng ráo, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ. Người có chứng đàm thấp, tỳ vị hư yếu dễ đi lỏng thì không nên dùng bài thuốc này.
   Bài 8 :  Đan sâm 100g, tam thất 20g. Cả hai thứ đem sao thơm rồi tán thành bột mịn, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 5g. Công dụng : hoạt huyết, bổ huyết, dùng thích hợp cho những người bị TNTHN có thiếu máu cơ tim, vữa xơ động mạch. Phụ nữ có thai hoặc đang hành kinh thì không nên dùng bài thuốc này.
     Các bài thuốc trên đây đều rất dễ kiếm, dễ chế, dễ dùng và rẻ tiền, nếu sử dụng thường xuyên chắc chắn sẽ thu được kết quả ở các mức độ khác nhau. Hầu hết các vị thuốc nêu trên đều đã được nghiên cứu trên thực nghiệm và lâm sàng chứng minh là có tác dụng cải thiện tuần hoàn não, tuần hoàn vành tim, điều chỉnh rối loạn lipid máu, phòng và chống tắc mạch. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả như mong muốn, lời khuyên và sự chỉ dẫn tỉ mỉ của các thầy thuốc y học cổ truyền bao giờ cũng là điều hết sức cần thiết.




Thứ Năm, 4 tháng 7, 2013

Sinh mạch tá, một bài thuốc quý

SINH MẠCH TÁN, MỘT BÀI THUỐC QUÝ


                                                             ThS Hoàng Khánh Toàn

     Sinh mạch tán (SMT) do Trương Nguyên Tố, tự Khiết Cổ, y gia trứ danh đời Kim (Trung Quốc), người sáng lập họa phái “Dịch thủy” chế ra và được ghi lại trong sách “Y học khải nguyên” nổi tiếng của Ông. Nó là một trong những bài thuốc điển hình của phép ích khí dưỡng âm chuyên dùng để chữa chứng khí âm lưỡng hư trong y học cổ truyền phương Đông. Ngày nay, bằng phương pháp nghiên cứu khoa học của y học hiện đại, người ta đã chứng minh phương thang này có khả năng chữa trị được khá nhiều loại bệnh như viêm cơ tim, rối loạn nhịp tim, bệnh lý động mạch vành tim, hội chứng yếu nút xoang, tâm phế mạn tính, viêm phế quản mạn tính, khí phế thũng, choáng do các nguyên nhân, xuất huyết dưới da do giảm tiểu cầu nguyên phát, viêm kết trạng mạn tính...

1. Thành phần và cách dùng
     Sinh mạch tán được cấu thành bởi ba vị thuốc là nhân sâm 6-9g, mạch môn 9-15g và ngũ vị tử 6-9g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Hiện nay, còn được sử dụng dưới dạng trà thuốc, dịch thuốc uống và tiêm truyền đường tĩnh mạch. Dịch thuốc uống được gọi là “Sinh mạch ẩm”, mõi ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 10ml. Dịch thuốc tiêm được gọi là “Sinh mạch hoặc Sâm mạch chú xạ dịch” dùng tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch

2. Công dụng và chủ trị
      Theo y thư cổ, SMT có công dụng ích khí sinh tân, liễm âm chỉ hãn, được dùng để chữa các chứng khí âm bất túc gây ra mồ hôi nhiều, mệt mỏi, khó thở, ngại nói, họng khô miệng khát ; hoa lâu ngày do phế hư làm thương tân tổn tkhí, đàm ít, thở ngắn, tự đổ mồ hôi, nạch hư hoặc chứng tâm căn suy nhược (suy nhược thần kinh) thể âm hư gây tâm phiền, mất ngủ, đau đầu, chóng mặt, háo khát, táo bón...
     Trang phương, nhân sâm đại bổ nguyên khí là quân ; mạch môn dưỡng âm sinh tân, thanh nhiệt trừ phiền là thần ; ngũ vị tử liễm phế chỉ hãn là tá và sứ. Ba vị tương hợp, một bổ, một thanh, một liễm tạo nên công năng ích khí sinh tân, liễm âm chỉ hãn của bài thuốc.

3. Nghiên cứu dược lý
     Trên thực nghiệm và lâm sàng, kết quả nghiên cứu cho thấy, SMT có tác dụng tăng cường sức co bóp cơ tim, làm giãn hệ thông huyết quản ở một mức độ nhất định, từ đó làm giảm sức cản ngoại vi và cải thiện chức năng tống máu của tim một cách rõ rệt thông qua cơ chế ức chế hoạt tính của men ATPase trong tế bào cơ tim và làm giảm nồng độ AMP vòng trong huyết tương. Tuy nhiên. đối với tim bình thường tác dụng cường tim của SMT rất yếu hoặc không có. Thêm nữa, bài thuốc này còn có tác dụng làm giãn và tăng cường lưu lượng động mạch vành tim vì vậy trên lâm sàng hiệu quả điều trị của nó đối với các bệnh lý động mạch vành tim là rất có ý nghĩa. vả lại, SMT còn có khả năng nâng cao năng lực chịu đựng của cơ thể trong điều kiện thiếu dưỡng khí, làm giảm lượng ôxy tiêu thụ của cơ tim, thúc đẩy quá trình tổng hợp DNA trong tế bào tâm tạng. Bởi vậy, ngoài hiệu quả đối với bệnh lý mạch vành nó còn có khả năng chống rối loạn nhịp tim khá tốt.
     Mặt khác, SMT còn có tác dụng điều tiết huyết áp và cải thiện tình tạng rối loạn vi tuần hoàn trên thực nghiệm cũng như lâm sàng, kết quả các nghiên cứu đều cho thấy, trong trạng thái choáng do bất cứ nguyên nhân nào, bài thuốc này đều có hiệu quả bảo hộ rõ rệt. Ngoài ra, SMT còn làm tăng hoạt tính của men succinate dehydrogenase, hàm lượng glucogen và acid ribonucleic trong tế bào gan. Đồng thời cũng có tác dụng chống động máu ở một mức độ nhất định.

4. Ứng dụng lâm sàng
* Đối với tình trạng choáng : một nghiên cứu sử dụng SMT phối hợp với Tư nghịch thang đều dưới dạng tiêm để điều trị 70 ca choáng, trong đó có 57 ca choáng tim, 9 ca choáng truyền nhiễm và 4 ca chonags mất máu. Sinh mạch tán được tiêm bắp mỗi lần 2-4ml, 2-4 giờ 1 lần hoặc pha 30-50ml trong 500ml glucose 10% truyền tĩnh mạch, đạt hiệu quả 87,19%.
* Đối với bệnh lý động mạch vành tim : một nhóm chuyên gia bệnh lý mạch vành thuộc Viện n ghiên cứu Trung y Quảng Đông (Trung Quốc) đã dùng SMT gia sơn thù, hà thủ ô, đan sâm và đại táo trị liệu 114 ca. Kết quả sau 90 ngày dùng thuốc có 69,74% hết tình trạng đau thắt ngực, 53,09% có sự cải thiện rõ rệt trên điện tim. Người ta còn phối hợp bài thuốc này với mao đông thanh tiêm bắp, mỗi ngày 1-2 lần, mỗi lần 4 ml, kết quả sau 60 ngày 94,43% hết đau ngực, 66,66% có sự cải thiện rõ rệt trên điện tâm đồ.
* Đối với rối loạn nhịp tim : một nghiên cứu sử dụng SMT gia hoàng kỳ, đan sâm, quế chi, đương quy và chích thảo trị liệu 30 ca rối loạn nhịp tim, trong đó 16 ca do bệnh mạch vành, 11 ca do viêm cơ tim, 3 ca do bệnh lý tuyến giáp. Kết quả, sau 7-120 ngày dùng thuốc 17 ca khỏi, 8 ca có chuyển biến rõ rệt, 5 ca không có tác dụng, đạt hiệu quả 80%.
* Đối với hội chứng yếu nút xoang : có tác giả đã dùng SMT gia hoàng kỳ, đan sâm, bá tử nhân, viễn trí, ma hoàng và tế tân trị liệu 37ca đạt hiệu quả 89,16%. Một nghiên cứu khác dùng bài thuốc này gia phụ tử chế, can khương, chích thảo, đan sâm, đương quy và phá cố chỉ điều trị 30 ca, sau 30-90 ngày dùng thuốc có 8 ca khỏi bệnh, 14 ca có chuyển biến rõ rệt và 8 ca thất bại, đạt hiệu quả 73,3%.
* Đối với viêm cơ tim : một nghiên cứu dùng SMT gia hoàng kỳ phối hợp với Chu sa an thần hoàn trị liệu 18 ca, kết quả khỏi 13 ca, có hiệu quả 5 ca.
* Đối với tâm phế mạn tính : có tác giả đã dùng SMT gia trầm hương và đan sâm điều trị 32 ca. Kết quả sau 15-30 ngày dùng thuốc, 18 ca khỏi bệnh, 12 ca có chuyển biến rõ rệt và 2 ca thất bại.
* Đối với xuất huyết dưới da do giảm tiểu cầu nguyên phát : một nghiên cứu dùng SMT gia a giao, tam thất phấn, ngẫu tiết thán, đương quy và cam thảo trị liệu 12 ca, sau 30-90 ngày dùng thuốc tất cả đều khỏi bệnh, theo dõi sau 1 năm cũng không thấy tái phát.
* Đối với viêm kết tràng mạn tính : có tác giả dùng SMT gia hoài sơn, biển đậu, quế chi, bạch thược và cam thảo điều trị 37 ca, kết quả sau 20 ngày dùng thuốc tỉ lệ đạt hiệu quả là 89,2%.
* Đối với chứng ra nhiều mồ hôi : một nghiên cứu dùng SMT gia hoàng kỳ, mẫu lệ, bạch thược, bạch truật, phù tiểu mạch, phòng phong và hoài sơn điều trị 50 ca đạo hãn và tự hãn, chỉ sau 3-6 ngày dùng thuốc 43 ca khỏi bệnh, 7 ca có chuyển biến rõ rệt.
     Có thể thấy, SMT là một phương thang rất đơn giản về cấu trúc nhưng phạm vi sử dụng trên lâm sàng khá rộng rãi, hiệu quả điều trị tương đối tốt nếu như biết cách gia vị và phối hợp với các phương thang khác một cách hợp lý. Bài thuốc này rất cần được lưu tâm nghiên cứu sâu thêm về cả thực nghiệm và lâm sàng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1. Ngô Hồng Châu. Nghiên cứu và ứng dụng trung y dược hiện đại. NXB Đại học Trung y dược Thượng Hải, 1996 : 215-217
2. Dương Đức Tài, Lưu Tổ Phát. Bệnh tâm não. NXB Tài liệu Khoa học và Kỹ thuật Thượng Hải, 1999

3. Lưu Vĩnh Xương. Trung tây y trị liệu bệnh lý mạch máu tim não. NXB Trung y dược Trung Quốc, 1996 : 437-448

Đông y dùng nước chữa bệnh như thế nào ?

ĐÔNG Y DÙNG NƯỚC CHỮA BỆNH NHƯ THẾ NÀO ?


     Với trái đất, nước là một trong những yếu tố cấu thành hết sức quan trọng, “trái đất ba phần tư nước mắt, trôi như giọt lệ giữa không trung” (Xuân Diệu). Với con người, nước không chỉ là một chất dinh dưỡng trọng yếu duy trì mọi hoạt động sống ,à còn là một nhân tố tham gia tích cực vào việc phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khỏe. Từ xa xưa, trong y học cổ truyền phương Đông, nước đã được sử dụng như một phương tiện, một thứ thuốc để chữa bệnh và dưỡng sinh. Sách “Lễ ký” thời Xuân thu Chiến quốc đã viết : “đầu hữu sang tắc mộc, thân hữu dương tắc dục”, ý nói khi ở đầu và thân mình có bệnh thì nên sử dụng việc tắm gội như một phương pháp chữa trị. Còn sách “Sơn hải kinh.Thủy kinh chú” có đoạn viết : “Ôn tuyền thủy, thủy tây bắc huyền cốc, kỳ thủy ôn nhiệt như thang, năng dụ bách bệnh” (nước suối nóng có thể chữa được trăm loại bệnh). Y thư kinh điển cổ nhất còn lưu lại đến ngày nay “Hoàng đế nội kinh” cũng đã viết : “Kỳ hữu tà giả, tứ hình dĩ vi hãn”, ý nói nên lấy việc ngâm rửa làm một trong những nội dung trọng yếu của “hãn pháp” (phương pháp làm ra mồ hôi để loại bỏ tà khí)
     Tiếp đó, trong các y thư cổ nổi tiếng đời sau như “Thiên kim yếu phương”, “Kinh sử chứng loại bị cấp bản thảo”, “Trửu hậu bị cấp phương”, “Thiên kim dực phương”, “Ngoại đài bí yếu”, “Ngoại khoa tinh nghĩa”, “Chứng loại bản thảo”...đều đã ghi lại những kinh nghiệm dùng nước để chữa bệnh ở các mức độ khác nhau. Đặc biệt, trong sách “Bản thảo cương mục”, nhà bác học Lý Thời Trân đã tiến hành thu thập và tổng kết kinh nghiệm sử dụng thủy liệu pháp của các bậc tiền nhân. Căn cứ vào nguồn gốc, trạng thái và tính chất của các loại nước, Ông đã chia nước ra thành hai loại lớn là Thiên thủy và Địa thủy, đồng thời còn nói rõ đặc tính cảu 43 loại nước khác nhau như nước mưa, sương, mù, tuyết, băng, mưa đá, nước biển, nước sông, nước suối, nước hồ ao...Ông còn cho rằng, con người ở các vùng đấtb khác nhau, uống các loại nước có tính chất không giống nhau thì sự mạnh yếu của nhân thể, thọ yểu của sinh mạng cũng có nhiều khác biệt. Ông cũng ghi chép một cách tỷ mỉ tính vị, quy kinh, công dụng, chỉ định vad cách dùng của tứng loại nước, thống kê và tập hợp một khối lượng khá lớn các phương thuốc có sử dụng nước để các thầy thuốc đời sau tiện tra cứu và tuyển dụng trong thực tiễn phòng và chữa bệnh cho nhân dân.
     Vậy, y học cổ truyền đã sử dụng nước để chữa bệnh theo những phương thức nào ? Có thể nói, tùy theo yêu càu của bệnh trạng, tính chất của các loại nước và điều kiện khí hậu, địa lý cụ thể, người xưa đã vận dụng thủy liệu pháp theo những phương thức chủ yếu sau đây :

* Ẩm thủy pháp, còn gọi là ẩm yến pháp, là phương pháp dùng các loại nước tự nhiên như nước giếng, nước suối, nước mưa...uống trực tiếp để chữa bệnh. Tùy theo tính chất hàn nhiệt của nước mà người ta phân ra làm hai nhóm Lãnh ẩm pháp (dùng nước lạnh) và Nhiệt ẩm pháp (dùng nước nóng). Theo quan niệm của cổ nhân, nước lạnh có khả năng điều hòa tràng vị, thanh nhiệt giải độc, trừ phiền chỉ khát ; nước nóng ó tác dụng thông dương phát hãn, ôn trung trừ hàn. Ví như, để chữa chứng trong ngực buồn phiền rạo rực, vã mồ hôi nhiều, sách “Chứng loại bản thảo” khuyên nên đào một cái hố, đổ nước vào trong, khuấy đục đợi cho nước trong trở lại, múc lên đun sôi để nguội rồi uống dần.
* Hấp táp pháp là phương pháp là phương pháp cho người bệnh ngậm một ít nước rồi từ từ nuốt xuống họng. Theo cổ nhân, phương thức này có tác dụng điều hòa tỳ vị, lợi họng giải độc thường được dùng để chữa các bệnh đường tiêu hóa, hầu họng...Ví như, để chữa hóc xương cá, cho người bệnh uống một cốc nước rồi ngậm miệng nuốt nhanh xuống họng ; để chữa chứngtrong bụng ậm ạch khoa chịu về mùa hè dùng nước tương chua hòa một chút bột gừng khô, ngậm rồi nuốt dần xuống họng.
* Hàm thấu pháp là phương pháp cho người bệnh ngậm nước, súc miệng rồi nhổ ra, có tác dụng làm sạch khoang miệng, giải độc lợi họng, tiêu sưng giảm đau, thường dùng trong các bệnh khoang miệng. Ví như, để chữa chứng miệng hôi, hàng ngày vào buổi sáng nên ngậm và súc miệng bằng nước giếng mới đào ; để chữa chứng hư hỏa nha thống (viêm quanh răng) nên dùng nước ép địa cốt bì pha với nửa bát nước giếng và nửa bát nước sông ngậm và súc miệng.
* Xạ lâm pháp là phương pháp dùng nước phun lên toàn thân hoặc tại chỗ để trị bệnh, có tác dụng làm sạch da, khai khiếu tỉnh thần, chỉ huyết tán ứ, trừ độc khứ uế, thường dùng trong các bệnh ngoài da. Ví như, dể chữa chứng tay chân sưng nề dùng nước giếng mới đào phun rửa tại chỗ sao cho da bớt nóng đỏ thì ngừng ; để chữa say nắng, đặt bệnh nhân nàm vào chỗ mát và thoáng gió, lấy nước ấm phun vào rốn.
* Tháp tứ pháp là phương pháp dùng nước lạnh hoặc nước nóng thấm đẫm vào khăn rồi đắp lên nơi bị bệnh, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, thông lạc chỉ thống, khai khiếu tỉnh thần, thường dùng trong chữa trị trúng độc, ngất và các bệnh ngoại khoa.
* Tốn thủy pháp là phương pháp dùng nước tưới lên toàn thân hoặc nơi bị bệnh, có tác dụng tỉnh thần, chống co giật, thu sáp (làm co) và cầm máu. Ví như, để chữa chứng đột nhiên co giật, cửu khiếu xuất huyết, dùng nước giếng lạnh tưới phun lên mặt ; để chữa chứng sa trực tràng dùng nước lạnh tưới phun lên toàn thân gây cảm giác rét run khiến trực tràng co lên nhanh chóng.
* Thủy quán pháp là phương pháp thụt nước vào mũi miệng hoặc hậu môn, có tác dụng khai khiếu tỉnh thần, nhuận họng trừ đàm, thanh nhiệt giải độc, nhuận tràng thông tiện. Ví như, để chữa chứng đại tiện bí kết lâu ngày ở người già dùng nước sạch thụt vào hậu môn, nín chịu một lúc rồi đi đại tiện. Thủ thuật này, về nguyên tắc, tương tự như kỹ thuật thụt tháo đại tràng của y học hiện đại, nhưng vấn đề ở chỗ nó đã được tiến hành từ hàng trăm năm nay.
* Dược dục pháp là phương pháp dùng nước có pha dịch chiết thảo dược hoặc trực tiếp dùng nước sắc thảo dược để tắm rửa toàn thân hay tại chỗ. Đây là cách chữa bệnh hết sức độc đáo của y học cổ truyền, vừa dùng tác nhân vật lý vừa lợi dụng sức thuốc để đạt mục đích trị liệu, được dùng để chữa hàng trăm chứng bệnh thuộc nhiều chuyên khoa khác nhau. Ví như, để chữa cảm mạo có thể ngâm hai chân trong nước sắc gừng tươi ; để chữa phong thấp có thể ngâm rửa các khớp sưng đau trong nước sắc của các vị thuốc khu phong trừ thấp như ngư tất, độc hoạt, tần giao... ; để chữa chứng mày đay có thể dùng nước sắc các vị thuốc như phòng phong, kinh giới, đơn đỏ, sà sàng tử, bạch tiên bì, khổ sâm...để tắm rửa.
* Ôn tuyền liệu pháp là phương pháp dùng nước suối nóng để chữa bệnh. Theo cổ nhân, nước suối nóng có vị ngọt, tính ấm, có tác dụng cổ động dương khí, ôn thông kinh lạc, hành khí hoạt huyết và bổ dưỡng. Đây cũng là phương pháp được y học hiện đại sử dụng rộng rãi.
     Tóm lại, việc dùng nước để chữa bệnh trong y học cổ truyền đã có một lịch sử rất lâu đời và nội dung hết sức phong phú. Ngày nay, nhiều phương pháp tỏ ra không còn thích hợp nữa và cũng ít được sử dụng. Tuy nhiên, với tinh thần “gạn đục khơi trong”, nắm lấy cái “thần” là chính, chắc chắn thủy liệu pháp của y học cổ truyền vẫn còn sức hấp dẫn đối với chúng ta, nhất là trong điều kiện nguồn tài nguyên nước của chúng ta hết sức phong phú.

                                                                              Hoàng Khánh Toàn
    


Thứ Năm, 24 tháng 1, 2013

Trà, đậu xanh phòng chống nhiễm phóng xạ


Trà, đậu xanh phòng chống nhiễm phóng xạ

Cháo đậu xanh giúp giải độc cơ thể (nguồn ảnh: internet)

Để bảo vệ sức khỏe cho mình và người thân trước nguy cơ nhiễm phóng xạ, đông dược có một số bài thuốc đơn giản nhưng rất hữu ích bạn nên áp dụng.