Hiển thị các bài đăng có nhãn dược thiện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dược thiện. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 25 tháng 1, 2018

TRÀ DƯỢC DƯỠNG SINH TRƯỜNG THỌ

 DƯỠNG SINH TRƯỜNG THỌ BẰNG TRÀ DƯỢC


     Tết đến Xuân về, bên cạnh những đồ giải khát của thời hiện đại, có gia đình nào trên bàn tiếp khách lại thiếu vắng ấm trà. Người ta uống trà để giải khát, để giã rượu tiêu cơm, để hưng phấn và tỉnh táo, để nhâm nhi mà bàn chuyện đạo lý và sự đờiNhưng, chắc hẳn không phải ai cũng biết rằng : uống trà đúng cách còn giúp cho người ta có thể sống khoẻ hơn và sống lâu hơn, điều mà ai nấy đều mong mỏi và cầu chúc cho nhau mỗi dịp Xuân về.
     Y học cổ truyền phương Đông đã nhận biết công năng và sử dụng trà làm thuốc chữa bệnh và kéo dài tuổi thọ từ rất sớm. Y thư cổ Thần nông bản thảo kinh đã từng khen trà là thứ thuốc “vị khổ hàncửu phục an tâm ích khíkhinh thân nại lão” (vị đắng tính hànuống lâu ngày có công dụng an tâm ích khílàm nhẹ mình và sống lâu). Rồi dần theo thời gian, ngoài việc dùng trà hãm uống đơn thuần, cổ nhân còn nghĩ ra cách cho thêm vào ấm trà một số vị thuốc hoặc thậm chí chỉ mượn phương thức pha và uống mà dùng thuốc thay trà để bồi bổ cơ thể, nâng cao sức khoẻ nhằm mục đích phòng chống lão hoá và kéo dài tuổi thọ. Từ đó, hình thành nên loại hình dùng thuốc hết sức đặc biệt, được gọi là Trà dược dưỡng sinh trường thọ.
@ - Trà dược dưỡng sinh trường thọ là gì ?
     Trà dược, có thể hiểu một cách đơn giản theo hai nghĩa : Nghĩa hẹp, là để chỉ các loại chế phẩm dùng trà hoặc lấy trà làm chủ phối hợp với một số vị thuốc khác nhằm mục đích phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ con người ; Nghĩa rộng, là để chỉ dạng thuốc bao gồm một hay nhiều loại dược liệu được chế biến và sử dụng giống như trà uống hàng ngày nhưng kỳ thực không hề có chút lá trà nào trong thành phần, người ta gọi là “dĩ dược đại trà” (lấy thuốc thay trà).
     “Dưỡng” là nuôi dưỡng, bảo vệ ; “sinh” là sự sống, mạng sống ; dưỡng sinh, còn gọi là “bảo sinh”, “nhiếp sinh”, “đạo sinh”, có nghĩa là bảo vệ và nuôi dưỡng sinh mạng. Trà dược dưỡng sinh trường thọ chính là một loại chế phẩm dùng trà đơn thuần, dùng trà phối hợp với các vị thuốc hoặc dùng thuốc thay trà để phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhằm mục đích kéo dài tuổi thọ.
@ - Trà dược dưỡng sinh trường thọ có từ bao giờ ?
     Thật khó có thể nói mốc thời gian chính xác, nhưng qua ghi chép trong các y thư cổ có thể nói rằng : trà dược nói chung và trà dược dưỡng sinh trường thọ nói riêng đã có một lịch sử phát sinh, tồn tại và phát triển lâu đời. Như trên đã nói, Thần nông bản thảo kinh là cuốn y thư cổ nói đến công dụng “khinh thân bất lão” của lá trà sớm nhất. Rồi sau đó các sách thuốc cổ khác như  Thần nông thực kinh, Ngoại đài bí yếu, Hoà tễ cục phương, Thái bình thánh huệ phương...đã lần lượt bàn luận và ghi lại một khối lượng lớn các phương trà dược mà trong thành phần có hoặc không hề có một chút lá trà nào, trong đó nhiều loại trà dược có công dụng dưỡng sinh trường thọ. Những năm gần đây, trà dược ích thọ ngày càng được chú ý sưu tầm, chỉnh lý, nâng cao và sáng tạo ra nhiều phương mới nhằm không ngừng đáp ứng nhu cầu sống khoẻ và sống lâu của con người.
@ - Có mấy loại trà dưỡng sinh trường thọ ?
     Căn cứ vào thành phần, cách chế, loại hình sử dụng mà người ta chia trà dược dưỡng sinh trường thọ thành nhiều loại khác nhau. Tuỳ theo thành phần có thể chia làm ba loại : trà diệp đơn hành (chỉ dùng duy nhát lá trà), trà dược tương phối (dùng phối hợp trà và các vị thuốc) và dĩ dược đại trà (dùng thuốc thay trà). Tuỳ theo cách chế có thể chia thành hai loại : trà hỗn hợp là đem các vị thuốc có trong thành phần sấy khô, tán vụn rồi trộn đều và trà đóng bánh là tán dược liệu thành bột thô rồi trộn với hồ hoặc một vị thuốc có chất dính để đóng thành bánh. Tuỳ theo dạng sử dụng mà chia thành các loại như trà hãm, trà ngâm, trà hầm, trà sắcvà đặc biệt là trà tan, đây là dạng trà được chế biến theo công nghệ hiện đại bằng cách đưa dung dịch trà thuốc đã được xử lý theo quy trình pha chế thích hợp vào máy sấy phun sương (spray - drayer) để làm khô thành dạng bột trà dượcanraats tiện sử dụng và bảo quản.
@ - Tại sao trà dược lại có thể kéo dài tuổi thọ ?
     Trước hết, là do công dụng tuyệt vời của lá trà. Theo dược học cổ truyền, trà có thể vào được cả 5 đường kinh quan trọng là Tâm, Can, Tỳ, Phế và Thận, có công năng thanh đầu mục, trừ phiền khát, hoá đàm, tiêu thực, lợi niệu, giải độcNhiều y thư cổ gọi trà là “vạn bệnh chi dược” (thuốc chữa vạn bệnh), điều này không nên hiểu là khi bị bất cứ bệnh gì đều có thể dùng trà để chữa, mà ý nghĩa sâu xa là ở chỗ : nếu dùng trà thường xuyên và đúng cách thì có thể dự phòng và tránh được nhiều loại bệnh tật. Bởi thế, cổ nhân đã xếp trà vào nhóm các vị thuốc có công dụng “trị vị bệnh” (dự phòng bệnh tật, chữa bệnh từ khi bệnh chưa hoặc mới phát và phòng tránh các biến chứng có thể xảy ra khi đã mắc bệnh).
     Kể từ thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay, trà đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu sâu rộng của nhiều nhà khoa học và càng ngày người ta càng phát hiện ra nhiều tác dụng quý giá của trà. Ngoài những công dụng đã biết từ lâu như giải nhiệt chống khát, lợi niệu giải độc, kháng khuẩn tiêu viêm, kích thích tiêu hoá, tăng hưng phấn và cải thiện trí nhớ, chống viêm loét đường tiêu hoá, sáp tràng cầm đi lỏng, chống dị ứng, dự phòng sự hình thành sỏi tiết niệu và đường mật, kết quả nghiên cứu hiện đại còn cho thấy : trà có khả năng tăng cường chức năng miễn dịch, làm giảm mỡ máu, chống ôxy hoá và tiêu trừ các gốc tự do, chống phóng xạ, chống mệt mỏi và làm chậm quá trình lão hoá, làm giảm đường máu, dự phòng các bệnh lý như rối loạn tuần hoàn não, đái đường, gút, béo phì, cường giáp trạng, tình trạng thiếu máu và sinh tố, đặc biệt trà còn có khả năng phòng chống ung thư. Bởi vậy, công dụng dưỡng sinh trường thọ của trà là hoàn toàn có cơ sở khoa học.
     Thứ đến, là do công dụng của các vị thuốc y học cổ truyền. Tuỳ theo sự lựa chọn, bào chế, phối ngũ, liều dùng và cách dùng các vị thuốc khác nhau mà tạo nên các loại trà dược dưỡng sinh trường thọ khác nhau. Ngoài thành phần chủ yếu là các vị thuốc bổ (bổ khí, bổ huyết, bổ âm hoặc bổ dương) theo quan niệm của dược học cổ truyền, người ta còn dùng thêm một số  vị thuốc bệnh theo nguyên tắc “dĩ công vi bổ” (lấy công làm bổ) để nhằm mục đích cuối cùng là bồi bổ chính khí, nâng cao sức đề kháng của cơ thể, làm chậm quá trình lão hoá và kéo dài tuổi thọ, cổ nhân gọi là “dưỡng sinh diên thọ”. Nghiên cứu hiện đại đã chứng minh : thuốc bổ của y học cổ truyền có khả năng tăng cường và điều tiết chức năng miễn dịch của cơ thể ; cải thiện tình trạng vi tuần hoàn, làm tăng lưu huyết não, tăng khả năng ghi nhớ và sức chú ý, từ đó hạn chế và làm chậm quá trình lão hoá của não ; đồng thời còn ảnh hưởng tích cực tới quá trình chuyển hoá vật chất, tới hệ thống nội tiết, tuần hoàn, tiêu hoá, tạo huyết và vận độngBởi vậy, công năng dưỡng sinh trường thọ của các vị thuốc bổ trong y học cổ truyền cũng là điều dễ hiểu.
@ - Một số loại trà dược dưỡng sinh trường thọ điển hình
   * Nhân sâm cố bản trà :  Nhân sâm 120g, mạch môn 240g, thiên môn 240g, thục địa 240g, sinh địa 240g. Tất cả sấy khô tán vụn, mỗi ngày dùng 40 - 50g hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : ích khí dưỡng âm, phù chính cố bản, diên niên ích thọ ; dùng thích hợp cho những người thể chất gầy yếu, có bệnh lý hô hấp mạn tính, hay có cảm giác khó thở, môi khô miệng khát, đại tiện táoĐây là loại trà được ghi trong y thư cổ Trương thị y thông.
   * Ngũ phúc ẩm trà :  Thục địa 9g, đương quy 9g, nhân sâm 6g, bạch truật 6g, chích thảo 6g, gong tươi 3 lát, đại táo 2 quả. Tất cả tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 - 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : bổ khí dưỡng huyết, khứ bệnh diên niên ; dùng thích hợp cho những người trung lão niên ngũ tạng khí huyết suy nhược, sắc mặt nhợt nhạt, tinh thần mệt mỏi, chán ăn, mất ngủ, hay quênĐây là loại trà được ghi trong y thư cổ Cảnh Nhạc toàn thư.
   * Diên niên ích thọ bất lão trà :  Hà thủ ô 240g, địa cốt bì 120g, bạch linh 120g, sinh địa 90g, thục địa 90g, mạch môn 90g, thiên môn 90g, nhân sâm 90g. Tất cả sấy khô, tán vụn, mỗi ngày dùng 30 - 50g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 - 30 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : bổ thận ích tinh, ích thọ diên niên, dùng thích hợp cho những người trung lão niên thể chất suy nhược, mắc nhiều bệnh mạn tính, tinh thần mệt mỏi, dễ vã mồ hôi, lưng đau gối mỏi, đầu choáng mắt hoa, liệt dương, di tinh, suy giảm khả năng tình dục
   * Khứ bệnh diên niên trà :  Trà 1000g, hoa sen 2 đoá, hoa quế 60g, hoa đào 20g, cúc hoa 60g, nhan sâm 60g, kỷ tử 250g, đường phèn 250g. Các vị thuốc sấy khô, tán vụn, mỗi ngày dùng 20g hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, chế thêm một chút đường phèn, uống thay trà trong ngày. Công dụng : bổ ích nguyên khí, thanh điều ngũ tạng lục phủ, mỹ dung cường thận, điều lý âm dương, dùng lâu có thể khứ bệnh diên niên, dưỡng sinh ích thọ ; dùng thích hợp cho những người từ 40 tuổi trở lên.
   *Thủ ô giáng chi trà :  Đan sâm 20g, hà thủ ô 10g, cát căn 10g, tang ký sinh 10g, hoàng tinh 10g, cam thảo 6g, trà 6g. Tất cả sấy khô, tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : làm giảm mỡ máu, thông mạch, hoạt huyết khứ ứ, bổ âm ích khí ; dùng thích hợp cho những người bị rối loạn lipid máu, béo bệu, đầu choáng mắt hoa, ngực bụng đầy tức, ăn kém chậm tiêu, mắc các bệnh tim mạch. Đây là loại trà được ghi trong sách Kỳ hiệu lương phương tập thàn.
   * Ngũ tử diễn tông trà :  Kỷ tử 240g, thỏ ty tử 240g, phúc bồn tử 120g, xa tiền tử sao 60g, ngũ vị tử 30g. Các vị sấy khô, mỗi ngày dùng từ 20 - 30g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 30 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : bổ thận ích tinh, ích thọ diên niên ; chuyên dùng cho những người cơ thể suy nhược, nam giới liệt dương, di tinh, xuất tinh sớm, suy giảm chất lượng và số lượng tinh trùng ; nữ giới muộn con, suy giảm ham muốn tình dục, lưng đau gối mỏi, dầu choáng mắt hoa, rối loạn kinh nguyệt, tóc bạc sớmĐây là loại trà được ghi trong y thư cổ Y học nhập môn.
     Có thể thấy, trà dược dưỡng sinh trường thọ là một trong những phương thức dùng thuốc hết sức độc đáo của y học cổ truyền phương Đông. Chúng khá tự nhiên, dễ kiếm, dễ chế, dễ dùng và rất rẻ tiền. Điều cơ bản là phải sử dụng đúng cách và kéo dài thì mới mong đạt được hiệu quả như mong muốn. Nước ta có nguồn dược liệu phong phú, lại có nền y học cổ truyền lâu đời đã và đang ngày càng phát triển, thiết nghĩ việc đi sâu nghiên cứu vấn đề trà dược dưỡng sinh trường thọ với mục đích ích nước lợi dân là hết sức cần thiết.



                                                                                      Hoàng Khánh Toàn

Thứ Ba, 26 tháng 12, 2017

VÀI MÓN ẨM THỰC THANH NHIỆT SINH TÂN

VÀI MÓN ẨM THỰC THANH NHIỆT SINH TÂN


* Canh sa căn thuần điểu trư nhục
     Sa căn (củ đậu) 500g, thuần điểu (chim cút) 500g, thịt lợn nạc100g, một chút trần bì (vỏ quít), nước và gia vị vừa đủ. Sa căn bóc vỏ rửa sạch, thái con chì ; chim cút làm sạch, để nguyên con ; thịt lợn thái mỏng. Tất cả cho vào nồi, chế đủ nước, hầm nhỏ lửa chừng 2,5 giờ cho thật nhừ, chế thêm gia vị, dùng làm canh ăn. Chim cút, còn gọi là Am thuần, Uyển thuần, vị ngọt tính bình, có công dụng bổ tỳ ích khí, thanh nhiệt trừ thấp, làm mạnh gân cốt). Người xưa coi chim cút là "nhân sâm động vật". Củ đậu vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt, sinh tân dịch và làm hết khát. Món canh này có thể cho thêm một chút đậu đỏ và vài lát gừng tươi để tăng tác dụng thanh nhiệt trừ thấp và thêm phần hấp dẫn.
* Canh hà diệp nhị đậu.
     Hà diệp 1 tàu, biển đậu 25g, xích tiểu đậu 25g, trần bì (vỏ quýt) 12g, phụ trúc 50g, vịt 1 con (sau khi làm sạch còn chừng 400g là vừa), thịt lợn nạc 100g, gia vị vừa đủ. Hà diệp rửa sạch, thái nhỏ ; biển đậu, xích tiểu đậu và phụ trúc rửa sạch ; trần bì thái chỉ ; thịt vịt và thịt lợn chặt miếng. Tất cả cho vào nồi, chế đủ gia vị, đổ vừa nước rồi dùng lửa nhỏ hầm chừng 3 giờ là được, dùng làm canh ăn trong ngày. Công dụng : Thanh nhiệt giải thử, sinh tân chỉ khát, kiện tỳ dưỡng âm (giải nhiệt, làm mát, phòng chống nắng nóng, làm tăng lượng dịch đã bị hao tổn vì mồ hôi ra nhiều, giải khát, cải thiện chức năng của dạ dày ruột, kích thích tiêu hoá).
* Nước uống bí đao dưa hấu
     Bí đao 500g, dưa hấu 500g, đường trắng vừa đủ. Bí đao gọt vỏ, bỏ ruột, rửa thật sạch ; dưa hấu lấy ruột, bỏ hạt ; hai thứ thái miếng, dùng máy ép lấy nước rồi chế thêm một chút đường trắng, chia uống nhiều lần trong ngày. Công dụng : thanh nhiệt giải thử, trừ phiền chỉ khát, lợi niệu tiêu thũng. Dùng để giải nhiệt, phòng chống say nắng, say nóng...Theo y học cổ truyền, dưa hấu có công dụng giải say nắng, làm hết khát, trừ phiền, lợi thủy, cầm lỵ...Hai loại quả phối hợp với nhau tạo nên một thứ nước giải khát chữa bệnh lý tưởng trong mùa hè.
* Nước uống bí đao bình quả
     Bí đao 100g, bình quả (loại táo quả to nhập khẩu từ Trung Quốc và các nước Đông Âu) 800g, cà rốt 200g, đường phèn 100g, trần bì 20g. Bí đao gọt vỏ bỏ ruột, thái miếng ; bình quả rửa sạch, bỏ ruột, thái miếng ; cà rốt cạo vỏ, thái miếng ; trần bì ngâm nước cho mềm rồi thái chỉ. Tất cả cho vào nồi, đổ vừa nước, nấu trong 30 phút, chế thêm đường phèn, dùng làm nước giải khát. Công dụng : thanh nhiệt hóa đàm, trừ phiền chỉ khát, lợi niệu tiêu thũng, trợ tiêu hóa, ích tỳ chỉ tả. Theo y học cổ truyền, bình quả có công dụng sinh tân chỉ khát, kiện tỳ ích vị, giải nhiệt thanh tâm ; cà rốt có công dụng bổ tỳ tiêu thực, lợi tràng đạo, bổ can minh mục, thanh nhiệt giải độc, hạ khí chỉ khái.
* Cháo đậu xanh ngân hoa
     Đậu xanh 50g, kim ngân hoa 50g, cam thảo 10g, gạo tẻ 100g. Đậu xanh ngâm trước nửa ngày, kim ngân hoa và cam thảo sắc kỹ rồi bỏ bã lấy nước ninh với gạo và đậu xanh thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày, có thể cho thêm một chút đường phèn. Công dụng : thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm giải thử, dùng thích hợp cho những người hay bị mụn nhọt, lở ngứa, viêm loét, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ...trong những ngày hè nóng bức.
Canh cát căn đại táo trư nhục
     Cát căn (củ sắn dây) 500g, đại táo 4 quả, trư nhục (thịt thăn lợn) 150g, xương ống chân lợn 150g, nước và gia vị vừa đủ. Cát căn bỏ vỏ, rửa sạch, thái con chì ; thịt thăn thái to bằng 1/3 bao diêm ; xương ống đập vỡ ; đại táo rửa sạch. Tất cả cho vào nồi, chế đủ nước hầm nhừ trong 2 giờ, chế thêm gia vị, dùng làm canh ăn. Cát căn có công năng thanh nhiệt giải cơ, sinh tân chỉ khát, trừ phiền, nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy có tác dụng hạ nhiệt, giải độc, làm giãn mạch hạ huyết áp, cải thiện vi tuần hoàn, phòng chống rối loạn nhịp tim, hạ mỡ máu và đường huyết, tăng lưu lượng tuần hoàn não, kháng ô xy hóa và ung thư. Đại táo bổ tỳ ích khí, dưỡng huyết an thần. Thịt lợn tư âm, nhuận táo , bổ huyết. Ba thứ phối hợp với nhau tạo nên công dụng thanh nhiệt trừ phiền, bổ khí dưỡng huyết của món ăn. Loại canh này đặc biệt thích hợp với những người bị tăng huyết áp, đái tháo đường và có bệnh lý động mạch vành.
* Canh hiện nhục việt qua
     Hiện nhục (hến) 1000g, việt qua (quả bầu) 500g, thìa là, hành hoa, mỡ và gia vị vừa đủ. Hến ngâm nước gạo, rửa sạch, cho vào nồi với một bát con nước, đun sôi, thấy hến há miệng thì trút ra rổ, hứng lấy nước, gỡ thịt hến đem rửa sạch, để ráo ; bầu gọt vỏ, rửa sạch, băm nhỏ theo chiều dọc quả, thái vát thành sợi, bỏ ruột ; hành, thìa là rửa sạch, thái nhỏ ; củ hành thái mỏng để riêng. Phi thơm hành mỡ, cho hến vào xào qua, nêm ít nước mắm, xúc ra bát. Nước luộc hến bỏ cặn, đun sôi, cho bầu vào, đun sôi tiếp rồi đổ hến vào, chế thêm gia vị vừa đủ, dùng làm canh ăn nóng. Hến vị ngọt mặn, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi thấp, rất thích hợp cho những người bị mụn nhọt, lở loét ngoài da do nhiệt độc, tiểu tiện vàng đỏ, đái buốt, đái rắt, đái tháo đường. Trong thành phần hóa học của hến rất giàu kẽm nên có khả năng phòng chống u phì đại tiền liệt tuyến. Bầu vị ngọt, tính mát, có công dụng giải nhiệt độc, lợi tiểu tiện, làm hết khát, rất thích hợp cho những người bị viêm đường tiết niệu, mụn nhọt do nhiệt độc, đái tháo đường. Tuy nhiên, nếu tỳ vị hư yếu, đại tiện hay lỏng loãng thì không nên ăn loại canh này.


                                                                                            Hoàng Khánh Toàn

Thứ Tư, 30 tháng 8, 2017

BẢY LOẠI DƯỢC TỬU GIÚP QUÝ ÔNG THĂNG HOA

BẢY LOẠI DƯỢC TỬU GIÚP QUÝ ÔNG THĂNG HOA


     Trong dược học cổ truyền, rượu thuốc bổ dương (bổ dương dược tửu hay trợ dương dược tửu) là một lĩnh vực hết sức phong phú và độc đáo, nhưng ở bài viết này chúng tôi chỉ xin giới thiệu một vài loại đơn giản và thông dụng nhằm mục đích giúp cho các “đấng mày râu” có thêm một vũ khí đủ khả năng để phòng và chống các trục trặc không muốn có trong đời sống tình dục như bất lực, xuất tinh sớm, di tinh, giảm sút ham muốn sinh hoạt vợ chồng..., khiến cho các quý ông có thể dễ dàng thăng hoa trong chuyện “chăn gối”.

   @ Nhung hươu tửu
     Thành phần : nhung hươu 30g, kỷ tử 30g, rượu trắng 1000 ml. Cách chế : nhung hươu thái vụn đem ngâm với rượu trong bình kín, sau chừng 7 - 10 ngày là có thể dùng được . Công dụng : tráng dương tư âm, dùng cho những người mắc chứng bất lực, khó thụ thai do chất lượng và số lượng tinh trùng suy giảm, giảm sút ham muốn và khoái cảm tình dục. Cách dùng : uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10 - 20 ml.
     Theo quan niệm của y học cổ truyền, phần lớn các rối loạn sinh lý nêu trên đều thuộc thể loại dương hư biểu hiện bằng các triệu chứng như mệt mỏi, sắc mặt nhợt nhạt, dễ đổ mồ hôi, tay chân lạnh, sợ lạnh, tinh dịch lạnh lẽo, lưng đau gối mỏi, hay vã mồ hôi lạnh khi sinh hoạt tình dục...Nhung hươu vị ngọt mặn, tính ấm nóng, có công năng đại bổ nguyên dương, sinh tinh cường cân nên có đủ khả năng giải quyết các chứng trạng này. Kỷ tử vị ngọt, tính mát, có công dụng dưỡng âm nhuận táo, bổ can ích thận, dùng phối hợp nhằm mục đích tăng cường công năng bổ dưỡng và điều hoà bớt tính nhiệt táo của nhung hươu, khiến cho loại rượu này vừa bổ dương lại vừa dưỡng âm, có thể sử dụng rộng rãi cho mọi đối tượng.
   @ Tiên mao tửu
     Thành phần : tiên mao 100g, rượu trắng 2000 ml. Cách chế : tiên mao thái vụn, đựng vào túi vải rồi đem ngâm rượu, sau 10 ngày có thể dùng được. Nếu chế tiên mao theo cách cửu chưng cửu sái (chín lần đồ và phơi) thì tốt nhất. Công dụng : ôn bổ tỳ thận, cường gân cốt, trừ hàn thấp, dùng cho người bị liệt dương, tinh lạnh, tiểu đêm nhiều lần, lưng đau, gối mỏi, suy giảm khả năng tình dục. Cách dùng : uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10 - 20 ml.
     Đây là loại bổ dương dược tửu được ghi trong y thư cổ Bản thảo cương mục. Theo dược học cổ truyền, tiên mao vị cay hơi đắng, tính ấm, có công dụng ôn thận dương, cường gân cốt, chuyên dùng để trị chứng dương nuy tinh lãnh (liệt dương, tinh dịch lạnh lẽo). Ví như, sách Bản thảo cương mục viết :" Tiên mao, tính nhiệt. Bổ tam tiêu, mệnh môn chi dược dã. Trị dương nhược tinh hàn" (tiên mao tính lạnh là thuốc bổ tam tiêu và mệnh môn, trị liệt dương tinh lạnh) ; sách Bản thảo cầu chân viết :"Tiên mao, cứ thư giai tải công chuyên bổ hỏa, trợ dương noãn tinh, phàm hạ nguyên hư lãnh, dương suy tinh lãnh phục chi hữu hiệu" (tiên mao theo sách vở thì chuyên dùng bổ hỏa, trợ dương, làm ấm tinh ; phàm các chứng hư lạnh phần dưới, liệt dương tinh lạnh uống đều có hiệu quả). Bởi vậy, Tiên mao tửu là một loại rượu thuốc rất đơn giản nhưng hiệu quả trợ dương lại rất đáng kể
   @ Dâm dương hoắc nhục dung tửu
     Thành phần : dâm dương hoắc 100g, nhục dung 50 g, rượu trắng 1000 ml. Cách chế : hai thứ thái vụn rồi đem ngâm với rượu, sau chừng 7 - 10 ngày là có thể dùng được. Công dụng : bổ thận tráng dương, cường gân kiện cốt, khu phong trừ thấp, dùng cho người bị suy giảm khả năng tình dục, di tinh, liệt dương, muộn con, đau lưng, viêm khớp...Cách dùng : uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 15 - 20 ml.
     Kinh nghiệm dùng rượu dâm dương hoắc hay còn gọi là rượu tiên linh tỳ để bổ dương cường tinh đã được lưu truyền từ lâu trong dân gian. Loại rượu này cũng đã được ghi trong y thư cổ Thọ thế bảo nguyênNhật hoa tử bản thảo. Theo dược học cổ truyền, cả hai vị dâm dương hoắc và nhục dung  đều có tác dụng bổ thận tráng dương. Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, ngoài công năng cải thiện hệ thống miễn dịch, có lợi cho tim mạch và chống lão hoá, cả hai vị này đều có khả năng thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát dục và nâng cao năng lực hoạt động của tuyến sinh dục. Loại rượu này có mùi vị thơm ngon, màu sắc hấp dẫn, công hiệu rõ ràng nên được nhiều người ưa dùng.
   @ Anh hùng tửu
     Thành phần : sơn thù 15g, cẩu tích 15g, đương quy 15g, kỷ tử 15g, thỏ ty tử 15g, nhân sâm 15g, mạch môn 30g, tắc kè 1 đôi, rượu trắng 2000 ml. Cách chế : các vị thuốc thái vụn ngâm với rượu trong bình kín, sau 3 tuần là có thể dùng được. Công dụng : bổ thận tráng dương, ích khí dưỡng huyết. Cách dùng : uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1 chén nhỏ.
     Đây là loại rượu thuốc bổ dương cường tinh được lưu truyền lâu đời trong dân gian. Trong đó nhân sâm đại bổ nguyên khí ; đương quy và kỷ tử bổ huyết ; mạch môn bổ âm ; sơn thù, cẩu tích, thỏ ty tử và tắc kè bổ thận dương. Tám vị phối hợp cân đối với nhau vừa bổ khí huyết vừa bổ âm dương, đặc biệt là thận dương nên công năng trợ dương cường tinh là rất tốt. Theo dân gian, Anh hùng tửu có tác dụng trị 9 chứng xấu của “cánh mày râu”, đó là : dương đạo suy yếu, yếu đuối không phấn chấn được, phấn chấn được mà không đủ, đủ mà không thực, thực mà không cứng, cứng mà không tuân theo, tuân theo mà không được lâu, lâu mà không có tinh, có tinh mà không có con.
   @ Tắc kè nhung hươu tửu
     Thành phần :Tắc kè 50g, nhung hươu 10g, nhục quế 20g, nhục dung 2og, tiên mao 20g, phụ tử chế 20g, đỗ trọng 20g, cẩu tích 20g, kỷ tử 20g, toả dương 20g, đẳng sâm 20g, đại táo 20g, đương quy 20g, thục địa 20g, sinh địa 20g, hoài sơn 20g, tục đoạn 20g, ngưu tất 20g, rượu trắng 2000 ml. Các vị thuốc sấy khô, tán vụn, đựng trong túi vải rồi ngâm với rượu trắng, sau 20 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10 - 20 ml. Công dụng : bổ thận tráng dương, bổ khí dưỡng huyết, tráng gân cường cốt, bình suyễn nạp khí, thường được dùng để bồi bổ cơ thể và chữa các chứng đau lưng do hư xương sụn cột sống, thoái hoá khớp gối, di tinh, liệt dương, suy giảm ham muốn tình dục, hen phế quản thể thận hư giai đoạn ổn định…
   @ Tắc kè ngọc cẩu tửu
     Thành phần : Tắc kè 50g, tinh hoàn chó 1 đôI (nếu là của chó vàng thì tốt nhất), ba kích 30g, nhục dung 30g, kỷ tử 30g, sơn thù 120g, trầm hương 4g, mật ong 100g, rượu trắng 250g. Các vị thuốc sấy khô, tán vụn ; tinh hoàn chó nghiền nhỏ, tất cả đem ngâm với rượu trắng, sau 21 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10 ml. Công dụng : bổ thận tráng dương, được dùng để bồi bổ sức khoẻ và chữa các chứng tay chân buốt lạnh, lưng đau gối mỏi, di tinh, liệt dương, suy giảm ham muốn tình dục…
     Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy, trong tắc kè rất giàu chất đạm, chất béo và đặc biệt chứa nhiều nguyên tố vi lượng như Zn, Fe, Ca, Mg…Điều cần lưu ý là, hàm lượng Zn và Fe ở đuôi tắc kè cao hơn nhiều lần so với ở thân, riêng Zn cao gấp 42 lần. Mặt khác, hàm lượngcác acid amin ở đuôi cũng rất phong phú, gần ngang so với tổng lượng acid amin ở phần thân. Bởi vậy, trong khi bào chế và sử dụng cần chú ý giữ nguyện vẹn phần đuôi của tắc kè. Các loại rượu  tắc kè nói trên nhìn chung đều có tính ôn ấm để trợ dương và bổ khí, cho nên những người cao huyết áp hoặc đang mắc các bệnh ngoại cảm phát sốt thì không nên sử dụng.
   @ Minh mạng tửu
     Thành phần : Nhân sâm 60g, tục đoạn 24g, bạch linh 36g, kỷ tử 24g, phòng phong 36g, đại hồi 24g, bạch mật 36g, nhục quế 12g, tần giao 24g, đào nhân 60g, đương quy 36g, đại táo 36g, xuyên khung 36g, độc hoạt 24g, bạch thược 36g, mộc qua 24g, thục địa 60g, thương truật 24g, đỗ trọng 24g, cam thảo 24g, khương hoạt 24g, quy bản 24g, trần bì 24g. Ngâm tất cả với 3 lít rượu ngon và 500g đường cát trắng. Sau 3 ngày cho thêm 1,5 lít nước sôi, ngâm thêm 7 ngày nữa thì dùng được. Mỗi ngày uống 1 - 2 lần, mỗi lần 30 ml (một chén nhỏ) vào trước bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ tối.
   Loại rượu này cũng có công dụng bồi bổ sinh lý và kéo dài tuổi thọ nhưng vì thiên về bổ dương nên chỉ dùng cho những người có hội chứng Dương hư biều hiện bằng các triệu chứng chủ yếu như thể trạng béo trệ hoặc yếu ớt, dễ bị cảm lạnh, hay sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt trắng bệch, mệt mỏi như mất sức, ban ngày dễ vã mồ hôi, miệng nhạt không thích uống nước lạnh, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng loãng, nam giới thì di tinh, tinh dịch lạnh và loãng, có thể bị liệt dương, xuất tinh sớm, suy giảm ham muốn tình dục…Những người có chứng âm hư không nên dùng loại rượu này. Đây vốn là phương thuốc do các quan ngự y của Thái y viện triều Nguyễn (1802 - 1945) lập ra để dùng cho vua Minh Mạng (1820 - 1840). Sau này được lưu truyền trong dân gian với tên gọi là “Minh Mạng thang”. Vì có công hiệu bổ thận rất cao nên được ca tụng là thứ rượu uống vào có thể “nhất dạ ngũ giao sinh ngũ tử”.

                                                                                      Hoàng Khánh Toàn




Thứ Ba, 11 tháng 4, 2017

VÀI MÓN ẨM THỰC SINH TÂN

VÀI MÓN ẨM THỰC THANH NHIỆT SINH TÂN




* Canh sa căn thuần điểu trư nhục
     Sa căn (củ đậu) 500g, thuần điểu (chim cút) 500g, thịt lợn nạc100g, một chút trần bì (vỏ quít), nước và gia vị vừa đủ. Sa căn bóc vỏ rửa sạch, thái con chì ; chim cút làm sạch, để nguyên con ; thịt lợn thái mỏng. Tất cả cho vào nồi, chế đủ nước, hầm nhỏ lửa chừng 2,5 giờ cho thật nhừ, chế thêm gia vị, dùng làm canh ăn. Chim cút, còn gọi là Am thuần, Uyển thuần, vị ngọt tính bình, có công dụng bổ tỳ ích khí, thanh nhiệt trừ thấp, làm mạnh gân cốt). Người xưa coi chim cút là "nhân sâm động vật". Củ đậu vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt, sinh tân dịch và làm hết khát. Món canh này có thể cho thêm một chút đậu đỏ và vài lát gừng tươi để tăng tác dụng thanh nhiệt trừ thấp và thêm phần hấp dẫn.
* Canh hà diệp nhị đậu.
     Hà diệp 1 tàu, biển đậu 25g, xích tiểu đậu 25g, trần bì (vỏ quýt) 12g, phụ trúc 50g, vịt 1 con (sau khi làm sạch còn chừng 400g là vừa), thịt lợn nạc 100g, gia vị vừa đủ. Hà diệp rửa sạch, thái nhỏ ; biển đậu, xích tiểu đậu và phụ trúc rửa sạch ; trần bì thái chỉ ; thịt vịt và thịt lợn chặt miếng. Tất cả cho vào nồi, chế đủ gia vị, đổ vừa nước rồi dùng lửa nhỏ hầm chừng 3 giờ là được, dùng làm canh ăn trong ngày. Công dụng : Thanh nhiệt giải thử, sinh tân chỉ khát, kiện tỳ dưỡng âm (giải nhiệt, làm mát, phòng chống nắng nóng, làm tăng lượng dịch đã bị hao tổn vì mồ hôi ra nhiều, giải khát, cải thiện chức năng của dạ dày ruột, kích thích tiêu hoá).
* Nước uống bí đao dưa hấu
     Bí đao 500g, dưa hấu 500g, đường trắng vừa đủ. Bí đao gọt vỏ, bỏ ruột, rửa thật sạch ; dưa hấu lấy ruột, bỏ hạt ; hai thứ thái miếng, dùng máy ép lấy nước rồi chế thêm một chút đường trắng, chia uống nhiều lần trong ngày. Công dụng : thanh nhiệt giải thử, trừ phiền chỉ khát, lợi niệu tiêu thũng. Dùng để giải nhiệt, phòng chống say nắng, say nóng...Theo y học cổ truyền, dưa hấu có công dụng giải say nắng, làm hết khát, trừ phiền, lợi thủy, cầm lỵ...Hai loại quả phối hợp với nhau tạo nên một thứ nước giải khát chữa bệnh lý tưởng trong mùa hè.
* Nước uống bí đao bình quả
     Bí đao 100g, bình quả (loại táo quả to nhập khẩu từ Trung Quốc và các nước Đông Âu) 800g, cà rốt 200g, đường phèn 100g, trần bì 20g. Bí đao gọt vỏ bỏ ruột, thái miếng ; bình quả rửa sạch, bỏ ruột, thái miếng ; cà rốt cạo vỏ, thái miếng ; trần bì ngâm nước cho mềm rồi thái chỉ. Tất cả cho vào nồi, đổ vừa nước, nấu trong 30 phút, chế thêm đường phèn, dùng làm nước giải khát. Công dụng : thanh nhiệt hóa đàm, trừ phiền chỉ khát, lợi niệu tiêu thũng, trợ tiêu hóa, ích tỳ chỉ tả. Theo y học cổ truyền, bình quả có công dụng sinh tân chỉ khát, kiện tỳ ích vị, giải nhiệt thanh tâm ; cà rốt có công dụng bổ tỳ tiêu thực, lợi tràng đạo, bổ can minh mục, thanh nhiệt giải độc, hạ khí chỉ khái.
* Cháo đậu xanh ngân hoa
     Đậu xanh 50g, kim ngân hoa 50g, cam thảo 10g, gạo tẻ 100g. Đậu xanh ngâm trước nửa ngày, kim ngân hoa và cam thảo sắc kỹ rồi bỏ bã lấy nước ninh với gạo và đậu xanh thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày, có thể cho thêm một chút đường phèn. Công dụng : thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm giải thử, dùng thích hợp cho những người hay bị mụn nhọt, lở ngứa, viêm loét, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ...trong những ngày hè nóng bức.
Canh cát căn đại táo trư nhục
     Cát căn (củ sắn dây) 500g, đại táo 4 quả, trư nhục (thịt thăn lợn) 150g, xương ống chân lợn 150g, nước và gia vị vừa đủ. Cát căn bỏ vỏ, rửa sạch, thái con chì ; thịt thăn thái to bằng 1/3 bao diêm ; xương ống đập vỡ ; đại táo rửa sạch. Tất cả cho vào nồi, chế đủ nước hầm nhừ trong 2 giờ, chế thêm gia vị, dùng làm canh ăn. Cát căn có công năng thanh nhiệt giải cơ, sinh tân chỉ khát, trừ phiền, nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy có tác dụng hạ nhiệt, giải độc, làm giãn mạch hạ huyết áp, cải thiện vi tuần hoàn, phòng chống rối loạn nhịp tim, hạ mỡ máu và đường huyết, tăng lưu lượng tuần hoàn não, kháng ô xy hóa và ung thư. Đại táo bổ tỳ ích khí, dưỡng huyết an thần. Thịt lợn tư âm, nhuận táo , bổ huyết. Ba thứ phối hợp với nhau tạo nên công dụng thanh nhiệt trừ phiền, bổ khí dưỡng huyết của món ăn. Loại canh này đặc biệt thích hợp với những người bị tăng huyết áp, đái tháo đường và có bệnh lý động mạch vành.
* Canh hiện nhục việt qua
     Hiện nhục (hến) 1000g, việt qua (quả bầu) 500g, thìa là, hành hoa, mỡ và gia vị vừa đủ. Hến ngâm nước gạo, rửa sạch, cho vào nồi với một bát con nước, đun sôi, thấy hến há miệng thì trút ra rổ, hứng lấy nước, gỡ thịt hến đem rửa sạch, để ráo ; bầu gọt vỏ, rửa sạch, băm nhỏ theo chiều dọc quả, thái vát thành sợi, bỏ ruột ; hành, thìa là rửa sạch, thái nhỏ ; củ hành thái mỏng để riêng. Phi thơm hành mỡ, cho hến vào xào qua, nêm ít nước mắm, xúc ra bát. Nước luộc hến bỏ cặn, đun sôi, cho bầu vào, đun sôi tiếp rồi đổ hến vào, chế thêm gia vị vừa đủ, dùng làm canh ăn nóng. Hến vị ngọt mặn, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi thấp, rất thích hợp cho những người bị mụn nhọt, lở loét ngoài da do nhiệt độc, tiểu tiện vàng đỏ, đái buốt, đái rắt, đái tháo đường. Trong thành phần hóa học của hến rất giàu kẽm nên có khả năng phòng chống u phì đại tiền liệt tuyến. Bầu vị ngọt, tính mát, có công dụng giải nhiệt độc, lợi tiểu tiện, làm hết khát, rất thích hợp cho những người bị viêm đường tiết niệu, mụn nhọt do nhiệt độc, đái tháo đường. Tuy nhiên, nếu tỳ vị hư yếu, đại tiện hay lỏng loãng thì không nên ăn loại canh này.

                                                                                            Hoàng Khánh Toàn


Thứ Tư, 28 tháng 12, 2016

RƯỢU THUỐC CHO PHỤ NỮ SUY GIẢM SINH LÝ

RƯỢU THUỐC CHO PHỤ NỮ SUY GIẢM HAM MUỐN TÌNH DỤC


     Suy giảm ham muốn tình dục ở phụ nữ thời kỳ mãn kinh là điều đương nhiên và dễ hiểu, nhưng tình trạng này xảy ra với những người còn đang trong tuổi sinh hoạt tình dục thì lại là một vấn đề có tính chất bệnh lý. Tuy chưa có con số thống kê chính thức nhưng trên thực tế hiện nay, tỷ lệ phụ nữ lâm vào hoàn cảnh đáng buồn này đang có xu hướng gia tăng và trẻ hóa do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong y học cổ truyền, suy giảm ham muốn tình dục thuộc phạm vi các chứng bệnh như “liệt âm”, “lãnh âm”…và đã được người xưa trị liệu bằng nhiều phương pháp như dùng thuốc, châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, tập luyện khí công dưỡng sinh…, trong đó có một cách thức khá độc đáo là lựa chọn sử dụng các loại rượu thuốc có công năng bổ thận ích tinh, bổ thận tráng dương, tăng cường hưng phấn tình dục. Nhiều người nghĩ rằng rượu thuốc tăng cường ham muốn tình dục chỉ dành cho đàn ông, nhưng trên nguyên tắc “biện chứng luận trị”, kho tàng dược tửu của y học cổ truyền cũng có không ít các loại rượu dành cho phụ nữ. Bài viết này xin được giới thiệu một số ví dụ điển hình để độc giả có thể tham khảo và sử dụng khi cần thiết.
* Rượu Tiên linh tỳ : Thục địa 30g, hoài sơn 15g, tiên linh tỳ 30g, kỷ tử 30g, rượu trắng nhẹ độ 500 ml. Các vị thuốc sấy khô, thái vụn, cho vào túi vải mỏng, buộc kín miệng đem ngâm với rượu trong bình kín, để nơi thoáng mát, mỗi ngày lắc 2 lần, sau 15 ngày thì dùng được, uống 2 lần trong ngày, mỗi lần 15 ml. Công dụng : ôn thận tráng dương, tăng tinh bổ tủy, cải thiện sức khỏe, làm hưng phấn tình dục. Dùng tốt cho phụ nữ suy giảm ham muốn tình dục thuộc thể Dương hư biểu hiện bằng các triệu chứng như sợ lạnh thích ấm, tay chân lạnh, sắc mặt nhợt nhạt, đau lưng mỏi gối, kinh nguyệt lượng ít sắc nhợt, đại tiện lỏng nát…Nhừng người âm hư hỏa vượng không dùng.
* Rượu Tiên mao : Tiên mao 100g, nhục thung dung 100g, thỏ ty tử 100g, xà sàng tử 50g, rượu trắng nhẹ độ 1500 ml. Dùng dao nứa cạo vỏ tiên mao, cắt nhỏ đem ngâm với nước sắc đậu đen trong 3 ngày rồi vớt ra phơi khô. Các vị thuốc thái vụn, cho vào túi vải mỏng buộc kín miệng, đem ngâm với rượu trong bình kín, để ở nơi thoáng mát, mỗi ngày lắc đều 2 lần, sau 15 ngày thì dùng được, uống 2 lần trong ngày, mỗi lần 15 ml. Công dụng : bổ thận tráng dương, tăng cường hưng phấn tình dục. Dùng thích hợp cho phụ nữ suy giảm ham muốn tình dục thuộc thể Dương hư, hay đau lưng mỏi gối.
* Rượu Nhục thung dung : Nhục thung dung 12g, thỏ ty tử 12g, xà sàng tử 12g, ngũ vị tử 12g, viễn chí 12g, tục đoạn 12g, đỗ trọng 12g, rượu trắng nhẹ độ 500 ml. Các vị thuốc tán vụn, cho vào túi vải mỏng buộc kín miệng, đem ngâm với rượu trong bình kín, để ở nơi thoáng mát, mỗi ngày lắc đều 2 lần, sau 15 ngày thì dùng được, uống 2 lần trong ngày, mỗi lần 10 ml. Công dụng : bổ thận ích tinh, làm mạnh gân xương, tăng cường khả năng hưng phấn tình dục. Dùng thích hợp cho những phụ nữ bị suy giảm ham muốn tình dục thuộc thể Thận suy tinh thoái, lưng đau gối mỏi, người bụng dạ yếu, đi ngoài phân lỏng nát không dùng.
* Rượu Cật dê : Cật dê sống 1 đôi, bạch tật lê 60g, quế nhục 60g, dâm dương hoắc 60g, tiên mao 60g, ngọc mễ 60g, rượu trắng nhẹ độ 1500 ml. Bạch tật lê sao qua, dâm dương hoắc sao với mỡ dê hoặc dầu vừng, tiên mao ngâm trong nước vo gạo nếp loãng cho hết dầu. Cho tất cả các vị thuốc vào túi vải mỏng buộc kín miệng, đem ngâm với rượu trong bình kín, để ở nơi thoáng mát, mỗi ngày lắc đều 2 lần, sau 15 ngày thì dùng được, uống 2 lần trong ngày, mỗi lần 15 ml. Công dụng : ôn thận bổ dương, làm mạnh gân cốt, tăng cường hưng phấn tình dục. Dùng thích hợp cho những phụ nữ suy giảm ham muốn tình dục thuộc thể Dương hư.
* Rượu Dương khởi thạch : Dương khởi thạch, muối tinh và rượu trắng nhẹ độ lượng vừa phải. Đem sao dương khởi thạch bằng lửa to rồi nghiền nhỏ, lấy 6g bỏ vào cốc, lại lấy 20 ml rượu trắng nhẹ độ đổ vào nồi đun sôi, chế thêm một chút muối, sau đó đổ rượu đã đun sôi vào cốc khuấy đều, uống nóng. Mỗi ngày uống 2 lần sáng và tối, kiêng tiết dê. Công dụng : ôn bổ mệnh môn, cường tráng thận dương, dùng thích hợp cho những phụ nữ suy giảm ham muốn tình dục do mệnh môn hỏa suy.
* Rượu Kỷ tử : Kỷ tử 12g, cúc hoa 6g, sinh địa 12g, thục địa 12g, sơn thù du 10g, hoài sơn 10g, đan bì 6g, bạch linh 12g, hạn liên thảo 15g, nữ trinh tử 10g, địa cốt bì 12g, rượu trắng nhẹ độ 1000 ml. Các vị thuốc tán vụn, cho vào túi vải mỏng buộc kín miệng, đem ngâm với rượu trong bình kín, để ở nơi thoáng mát, mỗi ngày lắc đều 2 lần, sau 15 ngày thì dùng được, uống 2 lần trong ngày, mỗi lần 15 ml. Công dụng : tư bổ thận âm, ích tinh dưỡng huyết, tăng cường hưng phấn tình dục. Dùng thích hợp cho những phụ nữ suy giảm ham muốn tình dục thuộc thể Âm hư biểu hiện bằng các triệu chứng như người gầy yếu, lòng bàn tay và bàn chân nóng, đầu choáng mắt hoa, hay có cảm giác sốt nhẹ về chiều, vã mồ hôi khi ngủ, lưng đau gối mỏi, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, âm đạo khô khan tiết ít dịch…
* Rượu Sâm kỳ : Đẳng sâm 15g, hoàng kỳ 18g, kê huyết đằng 15g, thục địa 15g, tử hà xa 10g, long nhãn 10g, thỏ ty tử 10g, kỷ tử 10g, đương quy 10g, bạch truật 10g, dâm dương hoắc 10g, lộc giác sương 15g, mộc hương 3g, rượu trắng nhẹ độ 1000 ml. Các vị thuốc tán vụn, cho vào túi vải mỏng buộc kín miệng, đem ngâm với rượu trong bình kín, để ở nơi thoáng mát, mỗi ngày lắc đều 2 lần, sau 15 ngày thì dùng được, uống 2 lần trong ngày, mỗi lần 15 ml. Công dụng : bổ ích khí huyết, điều bổ tâm tỳ, tăng cường hưng phấn tình dục, Dùng thích hợp cho những phụ nữ suy giảm ham muốn tình dục thuộc thể Khí huyết lưỡng hư biểu hiện bằng các triệu chứng như mệt mỏi như mất sức, sắc mặt không tươi, môi và móng tay, móng chân nhợt nhạt, hay có cảm giác khó thở, hồi hộp trống ngực, ăn kém, chậm tiêu, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng nát.
* Rượu Sài thược : Sài hồ 10g, bạch thược 12g, đương quy 10g, bạch linh 12g, thục địa 15g, bạch truật 10g, hợp hoan bì 12g, dạ giao đằng 12g, hương phụ chế 10g, chỉ xác 6g, uất kim 8g, kỷ tử 12g, dâm dương hoắc 12g, cam thảo 6g. Các vị thuốc tán vụn, cho vào túi vải mỏng buộc kín miệng, đem ngâm với rượu trong bình kín, để ở nơi thoáng mát, mỗi ngày lắc đều 2 lần, sau 15 ngày thì dùng được, uống 2 lần trong ngày, mỗi lần 15 ml. Công dụng : sơ can giải uất, lý khí hòa huyết, bổ can thận, tăng cường hưng phấn tình dục, dùng thích hợp cho những phụ nữ suy giảm ham muốn tình dục thuộc thể Can khí uất kết biểu hiện bằng các triệu chứng như dễ căng thẳng thàn kinh, hay cáu giận, buồn phiền uất ức, ngực sườn đầy chướng, hay thở dài, kinh nguyệt không đều, trước và sau hành kinh hay căng tức nhũ phòng, âm đạo khô sáp, mạch căng như dây đàn.
* Rượu Cật hải cẩu : Cật hải cẩu 2 quả, men rượu 200g, gạo nếp 5 kg. Cật hải cẩu ngâm rượu xong giã nát trộn với men rượu, gạo nếp ủ nấu thành rượu như bình thường. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 10 ml vào lúc đói. Công dụng : ôn thận tráng dương, ích tinh bổ tủy, tăng cường sinh lý, thích hợp cho những phụ nữ suy giảm ham muốn tình dục thuộc thể Dương hư thận suy.
* Rượu Nam thiên trúc tử : Nam thiên trúc tử 45g, rượu trắng nhẹ độ 500 ml. Đem nam thiên trúc tử ngâm với rượu trong bình kín, để ở nơi thoáng mát, lắc đều 2 lần trong ngày, sau 15 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 15 ml. Công dụng : ích khí hoạt huyết, cường gân kiện cốt, khu phong trừ thấp, tăng cường sinh lý, dùng thích hợp cho những phụ nữ suy giảm ham muốn tình dục thuộc thể Khí hư huyết ứ biểu hiện bằng các triệu chứng như mỏi mệt nhiều, hay có cảm giác khó thở, sắc mặt xanh nhợt, dễ có những nốt hoặc đám tụ huyết, ăn kém, chậm tiêu, chất lưỡi tía, tĩnh mạch dưới lưỡi giãn, đại tiện lỏng nát, đau bụng khi hành kinh, lượng kinh ít và hay có máu cục.
     Theo y học cổ truyền, rượu uống với một lượng nhỏ vốn đã là một thứ thuốc làm tăng ham muốn tình dục (tình dược), lại được ngâm thêm với các vị thuốc đã được lựa chọn tùy theo tính chất bệnh lý của từng người theo quan điểm “biện chứng luận trị” thì dĩ nhiên sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn nhiều trong việc cải thiện tình trạng suy giảm ham muốn tình dục. Tuy nhiên, nhiều phụ nữ không biết uống rượu hoặc giả chỉ uống được rất ít, bởi vậy trong các loại dược tửu nói trên cần chú ý chọn thứ rượu trắng nhẹ độ, thường dưới 29 độ là hợp lý.


                                                                                       Hoàng Khánh Toàn 

Thứ Hai, 19 tháng 9, 2016

Dược thiện hỗ trợ chữa ung thư cổ tử cung

DƯỢC THIỆN HỖ TRỢ TRỊ LIỆU UNG THƯ CỔ TỬ CUNG


     Ung thư cổ tử cung là một trong những bệnh lý ác tính thường gặp nhất ở phụ nữ. Bệnh lý này đã được đông y đề cập đến rất sớm trong phạm vi các chứng bệnh như “băng lậu”, “ngũ sắc đới”…với nguyên nhân chủ yếu là do rối loạn tình chí (thất tình), can khí uất trệ, hai mạch Xung, Nhâm tổn thương, suy giảm công năng các tạng phủ khiến chính khí (sức đề kháng miễn dịch) sút kém kết hợp với tà khí (các yếu tố gây bệnh từ bên ngoài) xâm nhập vào trong cơ thể mà phát sinh thành bệnh. Về trị liệu, ngoài việc sử dụng thuốc uống trong, thuốc xông ngâm bôi rửa bên ngoài, châm cứu, xoa bóp…, cổ nhân còn sử dụng các món ăn-bài thuốc (dược thiện) có công dụng phòng và hỗ trợ điều trị rất độc đáo. Bài viết này xin được giới thiệu một số món dược thiện điển hình.
- Thịt lợn nạc 50g, rau kim châm 30g, đương quy 30g, nấu thành canh ăn hàng ngày. Dùng thích hợp cho trường hợp suy nhược cơ thể, thường xuất huyết âm đạo.
- Bào ngư 50g, sơn tra tươi 10g ninh nhừ, uống nước canh, ăn bào ngư. Dùng thích hợ cho trường hợp có viêm và xuất huyết âm đạo.
- Hoàng kỳ 50g, đương quy 15g sắc kỹ lấy nước rồi đem ninh với 100g gạo tẻ thành cháo, chia ăn 2 lần trong ngày. Công dụng : bổ khí dưỡng huyết, dùng cho trường hợp cơ thể suy sụp, nhất là sau khi phẫu thuật hoặc xạ trị.
- Gà ác 1 con làm thịt, đem hầm nhừ ăn thường xuyên. Dùng hỗ trợ trị liệu cho các thể ung thư cổ tử cung, đặc biệt là khi có xuất huyết âm đạo. Nếu hầm cùng nhân sâm hoặc đẳng thì càng tốt.
- Thịt dê 500g rửa sạch, thái miếng đem hầm với đương quy 50g, gừng tươi 3g bằng lửa nhỏ, dùng làm canh ăn hàng ngày. Dùng cho các trường hợp ung thư cổ tử cung thể hàn thể có biểu hiện sợ lạnh, nhạt miệng, đại tiện lỏng, thiếu máu.
- Cá mực chế biến dưới các dạng hấp, xào, nường, chiên…ăn thường xuyên, dùng cho trường hợp có biểu hiện xích bạch đới (khí hư màu trắng, hồng đỏ).
- Nhựa cây đào 100g nấu nước uống thường xuyên, dùng rất tốt cho trường hợp có thiếu máu và xuất huyết âm đạo.
- Rau cần nước nấu canh ăn thường xuyên, rất tốt cho trường hợp có xuất huyết âm đạo.
- Dấm gạo một ít pha thêm đường đỏ hoặc đường trắng và vài giọt nước cốt gừng tươi uống hàng ngày, dùng cho trường hợp có đau bụng, sản dịch nhiều.
- Thịt rắn 250 nấu canh ăn, nếu có thêm một ít thịt gà thái chỉ thì càng tốt. Công dụng : bồi bổ sức khỏe, cải thiện công năng miễn dịch.
- Cà chua 2 quả thái lát, tỏi 2 nhánh băm vụn, trộn hai thứ ăn thường xuyên, dùng để phòng và hỗ trợ trị liệu các loại ung thư cổ tử cung.
- Dưa chuột 500g, rau mùi 100g, tỏi ½ củ, tất cả rửa sạch, thái nhỏ, trộn đều ăn hàng ngày, dùng cho các trường hợp sau phẫu thuật hoặc chiếu xạ.
- Thổ phục linh 50g, thương truật 10g, ngưu tất 10g, hoàng bá, sắc kỹ lấy nước ninh với 100g gạo tẻ thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày. Đồng thời lấy nước sắc này xông rửa tại chỗ hàng ngày. Dùng cho trường hợp ra nhiều dịch hôi hám trong giai đoạn cuối.
- Tiên hạc thảo 100g, sinh địa 50g sắc kỹ lấy nước ninh với một ít gạo tẻ thành cháo, ăn hàng ngày, dùng cho trường hợp ung thư cổ tử cung chiếu xạ, tiểu tiện ra máu.
- Ô mai 50g, can khương 10g, hoàng liên 5g, mộc hương 3g, sắc kỹ lấy nước, pha thêm một chút đường trắng, uống thường xuyên, dùng cho trường hợp chiếu xạ gây đau bụng, đi lỏng…
- Xích thạch chi 100g, vũ dư lương 50g sắc kỹ lấy nước ninh với gạo tẻ thành cháo ăn thường xuyên, dùng cho trường hợp phải chiếu xạ gây đi ngoài ra máu nhiều.
- Sinh địa 30g, lá tre 10g, mộc thông 5g, sinh cam thảo 5g sắc kỹ lấy nước nấu với gạo tẻ thành cháo, ăn thường xuyên, dùng cho trường hợp phải chiếu xạ gây đi tiểu ra máu nhiểu.


                                                                               ThS Hoàng Khánh Toàn

Thứ Năm, 22 tháng 10, 2015

Mùa thu nên uống rượu gì

                                        MÙA THU NÊN UỐNG RƯỢU GÌ ?



     Theo quan niệm của y học cổ truyền, tiết thu, dương khí dần dần thu liễm bế tàng, âm khí từ từ tăng trưởng, thời tiết chuyển dần từ nóng sang lạnh, là giai đoạn quá độ của " dương tiêu âm trưởng". Lúc này, mưa ít gió nhiều, độ ẩm trong không khí giảm đi, "Táo" với đặc tính khô hanh là chủ khí, dễ gây hao tổn chất dịch trong nhân thể. Bởi thế nhiều người nghĩ rằng mùa thu không nên uống rượu, kỳ thực quan niệm đó là không chính xác. Bởi lẽ, theo kinh nghiệm dưỡng sinh của người xưa, mùa nào cũng có thể uống rượu nhưng vấn đề là ở chỗ nên chế biến và chọn dùng loại rượu nào cho phù hợp, để vừa đạt mục đích lấy rượu làm vui lại vừa có lợi cho sức khỏe.
    Cũng như ẩm thực cổ truyền  nói chung, việc dùng rượu trong mùa thu phải tuân thủ nguyên tắc "thu đông dưỡng âm", "phòng táo giữ âm, tư thận nhuận phế", nghĩa là phải chú ý bổ xung đầy đủ chất dịch cho cơ thể, trọng dụng những đồ ăn thức uống có công dụng dưỡng âm nhuận táo. Dưới đây xin được giới thiệu một vài loại rượu dưỡng sinh mùa thu để bạn đọc có thể tham khảo và chọn dùng khi cần thiết.
*   Rượu hoàng tinh: Hoàng tinh 20g, rượu trắng 500 ml. Hoàng tinh rửa sạch , thái phiến, cho vào túi vải buộc kín rồi thả ngâm trong rượu, sau nửa tháng có thể dùng được. Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10-20 ml. Công dụng: kiện tỳ, nhuận phế, bổ thận. Dùng thích hợp cho những người tỳ vị hư yếu, chán ăn, mệt mỏi, ho khan lâu ngày, lưng đau gối mỏi, đầu choáng mắt hoa. Với trường hợp đại tiện lỏng loãng, ho khạc đờm nhiều thì không nên dùng.
 *  Rượu vừng đen: Vừng đen 50g, rượu trắng 500 ml. Vừng đen đãi sạch, để khô rồi đem ngâm với rượu trong bình kín, sau nửa tháng thì dùng được. Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10-20 ml. Công dụng: Bồi bổ can thận, nhuận dưỡng tỳ phế, nâng cao sức khỏe và chống lão hóa. Dùng thích hợp cho những người bị chứng can thận phế âm hư biểu hiện bằng các triệu chứng hay đau đầu, hoa mắt chóng mặt, lưng đau gối mỏi, râu tóc bạc sớm, ho khan ít đờm, đại tiện táo kết. Với trường hợp đại tiện lỏng loãng không nên dùng.
 *  Rượu cúc hoa: Cúc hoa 50g, rượu trắng 500 ml. Cúc hoa rửa sạch, để ráo, cho vào bình ngâm với rượu, sau 10 ngày có thể dùng được. Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10-20 ml. Công dụng: Thanh can, làm sáng mắt, giải cảm phong nhiệt. Dùng thích hợp cho những người hay bị cảm mạo phát sốt, hay đau đầu, hoa mắt, chóng mặt và có cảm giác bốc nóng lên đầu, thị lực giảm sút.
*   Rượu liên tử: Hạt sen 50g, rượu trắng 500 ml. Hạt sen bỏ vỏ và tâm, đập vụn rồi dem ngâm với rượu trong bình kín, sau nửa tháng thì dùng được. Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10-20 ml. Công dụng: Dưỡng tâm an thần, kiện tỳ chỉ tả, ích thận chỉ di. Dùng thích hợp cho những người bị mất ngủ, hay hồi hộp đánh trống ngực, di tinh, đái dầm, xuất tinh sớm, phụ nữ bị khí hư, đi lỏng do tỳ vị hư yéu. Với trường hợp đại tiện táo kết không nên dùng.
*   Rượu nhân sâm kỷ tử: Nhân sâm 10g, kỷ tử 20g, rượu trắng 500 ml. Nhân sâm thái phiến, kỷ tử rửa sạch cho vào bình kín ngâm với rượu, sau nửa tháng có thể dùng được. Uốmg mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10-20 ml. Công dụng: Đại bổ nguyên khí, dưỡng can và làm sáng mắt. Dùng thích hợp cho những người bị chứng khí hư với những biểu hiện cụ thể như khó thở, ngại nói, dễ đổ mồ hôi ( phế khí hư ); chán ăn, chậm tiêu, da nhợt, tay chân teo nhẽo, sa dạ dày, sa trực tràng ( tỳ khí hư ); lưng đau gối mỏi, tiểu tiện nhiều lần về đêm, khả năng tình dục sút kém ( thận khí hư ); hay hồi hộp dánh trống ngực, mất ngủ, môi nhợt (tâm khí hư )...
*   Rượu hà thủ ô: Hà thủ ô 150g, rượu trắng 500ml. Hà thủ ô rửa sạch, thái vụn, ngâm với rượu trong bình kín, sau 15-20 ngày có thể dùng được. Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10-20ml. Công dụng: bổ thận ích tinh, tư âm dưỡng huyết, chống lão hóa. Dùng thích hợp cho người bị chứng can thận bất túc, biểu hiện bằng các dấu hiệu đầu choáng tai ù, mất ngủ hay quên, râu tóc bạc sớm, di tinh, liệt dương. Trong y học hiện đại là các bệnh suy nhược thần kinh, thiếu máu, vữa xơ động mạch, cao huyết áp, táo bón kinh niên...
*   Rượu dâu: Quả dâu chín 200g, rượu trắng 500ml. Hai thứ ngâm trong bình kín, sau nửa tháng có thể dùng được.Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10-20ml. Công dụng: thanh nhiệt nhuận phế, tư âm dưỡng huyết. Dùng thích hợp cho những người âm hư biểu hiện bằng các triệu chứng môi khô miệng khát, có cảm giác hâm hấp sốt về chiều, lòng bàn tay bàn chân nóng, ho khan, hay ra mồ hôi trộm, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ.
*   Rượu tây dương sâm: Tây dương sâm 50g, rượu trắng 500ml. Tây dương sâm thái phiến, ngâm với rượu trong bình kín, sau nửa tháng có thể dùng được. Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10-20 ml. Công dụng: bổ khí dưỡng âm, thanh nhiệt. Dùng thích hợp cho những người khí âm lưỡng hư biểu hiện bằng các triệu chứng mệt mỏi, khó thở, miệng khô, họng khô, ho khan, hay có cảm giác hơi sốt về chiều, đổ mồ hôi trộm. Với trường hợp đau bụng và đi lỏng do lạnh không nên dùng.
    Ngoài ra, một số loại rượu khác cũng rất thích hợp dùng trong mùa thu như rượu sa sâm, rượu bạch linh, rượu ý dĩ khiếm thực, rượu hạch đào, rượu mạch môn... Tuy nhiên, một điều cần lưu ý là, khi uống phải tuân thủ đúng liều lượng, không nên quá chén mà lợi bất cập hại

                                                                       Hoàng Khánh Toàn

.



Dưỡng sinh ăn uống mùa thu

DƯỠNG SINH ĂN UỐNG MÙA THU



     Mùa thu có ba tháng, bắt đầu từ tiết Lập thu trải qua các tiết Xử thử, Bạch lộ, Thu phân, Hàn lộ, Sương giáng và Lập đông, là mùa vạn vật thành thục, cây trái và mùa màng đến kỳ thu hoạch. Tiết thu, dương khí dần dần thu liễm bế tàng, âm khí từ từ tăng trưởng, thời tiết chuyển dần từ nóng sang lạnh, là giai đoạn quá dộ của “dương tiêu âm trưởng”. Lúc này, mưa ít gió nhiều, độ ẩm trong không khí giảm đi, “Táo” với đặc tính khô hanh là chủ khí. Thu táo dễ làm hao tổn chất dịch trong cơ thể gây nên các hiện tượng miệng, môi, mũi, họng đều khô, da dẻ khô ngứa thậm chí nứt nẻ, râu tóc không nhuận, đại tiện dễ táo. Khí táo mùa thu được phân ra Ôn táo và lương táo. Đầu thu, khí nóng của mùa hạ chưa hết kết hợp với khí táo mà thành Ôn táo ; cuối thu, khí lạnh tăng dần kết hợp với khí táo mà thành Lương táo. Từ mùa hạ nóng nực chuyển sang mùa thu mát mẻ trong người cảm thấy dễ chịu hơn, tình trạng ăn uống không ngon miệng trong mùa hạ mất dần, khẩu vị và tinh thần được phục hồi khiến cho mùa thu trở thành một mùa bồi bổ khá tốt trong năm.
      Ăn uống vào mùa thu, trước hết cần phải tuân thủ nguyên tắc “thu đông dưỡng âm”, “phòng táo giữ âm, tư thận nhuận phế”, nghĩa là nên bổ sung đầy đủ tân dịch và trọng dụng những thực phẩm có công dụng dưỡng âm nhuận táo. Đầu thu ôn táo nên chọn những thứ có tính mát để thanh nhiệt dưỡng âm, sinh tân dịch như củ cải, giá đỗ, củ đậu, ngó sen, khoai sọ, khoai môn, củ từ, mía, lê, táo, hồng xiêm, nho, trứng vịt, thịt thỏ, tiểu mạch, bách hợp, trà mạch môn...Cuối thu lương táo nên chọn dùng những thực phẩm có tính bình hoà để tư âm dưỡng huyết nhuận táp như củ mài, vừng, mộc nhĩ trắng (ngân nhĩ), thịt rùa, thịt ba ba, sò, gà ác, tổ yến, sữa bò, mật ong, nước dâu, kỷ tử, hà thủ ô...Sách ẩm thực chính yếu viết : “Thu khí táo, nghi thực ma dĩ nhuận khí táo” (mùa thu khí trời khô hanh nên ăn nhiều vừng để nhuận táo”. Để bồi bổ tân dịch, sách Y học nhập môn khuyên nên trọng dụng các loại cháo như cháo bách hợp hạt sen, cháo hồng táo gạo nếp, cháo đường phèn, cháo sa sâm, cháo hoàng tinh...với phương thức “sáng sớm dùng cháo có tác dụng tốt cho quá trình trao đổi chất, lợi cho dạ dày, sinh tân dịch...”. Theo cổ nhân, ăn cháo vào mùa thu rất có ích cho sức khoẻ, nhất là vào tiết đầu thu khi khí trời vẫn còn nóng ẩm dễ gây ra các bệnh lý đường tiêu hoá. Sách Tuỳ tức cư ẩm thực phổ  viết : “Gạo tẻ vị ngọt tính bình, hợp với việc nấu thành cháo, cháo là một trong những đồ ăn bổ dưỡng tốt nhất”
     Thứ đến, theo học thuyết Ngũ hành, vị chua vào Can, vị cay vào Phế. Phế thuộc Kim, Can thuộc Mộc. “Vạn vật thu thu, phế khí kim vượng”, nghĩa là, mùa thu vạn vật thu vào, khí kim ở Phế vượng thịnh. Nếu ăn uống nhiều đồ có vị cay thì sẽ trợ giúp cho phế khí khiến cho phế khí càng thịnh, phế kim khắc can mộc thái quá dẫn đến công năng của tạng Can bị rối loạn. Vì vậy, cổ nhân khuyên về mùa thu nên ăn uống “thiểu tân tăng toan” (ít cay nhiều chua”, cần trọng dụng nhiều các thực phẩm có vị chua nhằm tăng cường chức năng của Can và phòng ngừa phế khí quá thịnh làm hại đến Can và dùng ít thực phẩm có vị cay như hành, gừng, tỏi, ớt, hạt tiêu...Sách Kim quỹ yếu lược viết : “Thu bất tư phế” (mùa thu không nên ăn những thứ bổ phế) cũng là nằm trong ý nghĩa sâu xa này.
     Thêm nữa, mùa thu là giai đoạn quá độ từ nóng chuyển sang lạnh vì vậy không nên ăn quá nhiều đồ sống lạnh hoặc bổ béo khó tiêu dễ gây thương tổn Tỳ và Vị. Tôn Tư Mạo, danh y đời Đường (Trung Quốc) đã viết : “Thu đông gian, noãn lý phúc” (giữa mùa thu và mùa đông chú ý ôn ấm vùng bụng). Tăng Đình Đống, y gia đời Thanh cũng cho rằng : “Hạ chí dĩ hậu, thu phân dĩ tiền...tối đương điều đình tỳ vị, vật tiến phí nồng”.
     Cuối cùng, mùa thu ăn uống bồi bổ nên điều hoà (bình bổ) vì thời tiết mát mẻ, âm dương tương đối cân bằng, đồ ăn thức uống không nên quá nóng và quá lạnh. Ví như về mùa hạ các loại dưa như dưa hấu, dưa chuột, dưa gang...là thực phẩm thượng hạng vì có tác dụng thanh nhiệt tiêu thử mạnh, nhưng sau tiết Lập thu thì bất luận loại dưa nào dù ngon đến mấy cũng không nên ăn nhiều vì dễ làm cho dương khí của Tỳ Vị hư hao. Sách thuốc cổ đã viết : “Thu qua hoại đỗ” (mùa thu ăn dưa thì có hại cho đường tiêu hoá).
     Mùa hạ đã qua, mùa thu đang tới, nhắc lại một vài quan niệm về ăn uống trong mùa thu của cổ nhân những mong chúng ta hiểu thêm về một đôi nét đặc sắc trong khoa học và nghệ thuật ẩm thực phương Đông xa xưa. Vẫn biết rằng, trong thời buổi công nghiệp hiện nay, khi hội nhập và hoà đồng đang là xu thế của thời đại, nhiều nếp cũ không còn giữ nữa, người ta có thể ăn dưa hấu quanh năm, thịt chó, thịt dê và các loại rượu mạnh được tiêu thụ bốn mùa, đồ ăn Âu Mỹ không còn là của hiếm...Nhưng, ngẫm cho kỹ, con người ta đâu có dễ gì thoát khỏi sự chi phối của quy luật tạo hoá, bởi vậy dưỡng sinh ăn uống theo mùa, xem ra, vẫn là điều khiến chúng ta phải lưu tâm nghiên cứu.

                                                                                  Hoàng Khánh Toàn


                                                                                             


Thứ Năm, 25 tháng 9, 2014

Dược thiện thiếu máu

DƯỢC THIỆN DÀNH CHO NGƯỜI BỊ THIẾU MÁU DO THIẾU SẮT



     Thiếu máu là một hội chứng bệnh lý thường gặp do nhiều nguyên nhân gây nên, đặc biệt là do thiếu sắt, được đặc trưng bởi tình trạng giảm thiểu các tế bào máu như hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu ở các mức độ khác nhau. Khi lâm vào hội chứng này, điều đầu tiên là phải xác định cho được nguyên nhân để có biện pháp xử lý căn bản và triệt để, đồng thời cần phải tích cực điều trị triệu chứng và nuôi dưỡng hợp lý nhằm đem lại sự hồi phục nhanh chóng nhất cho người bệnh.
     Trong y học cổ truyền, thiếu máu thuộc phạm vi các chứng hư lao, huyết chứng, nội thương phát nhiệt...và tuỳ theo các biểu hiện bệnh lý cụ thể mà được chia thành nhiều thể bệnh như Khí trệ huyết ứ, Khí huyết lưỡng hư, Can thận âm hư, Tỳ thận dương hưThận âm dương lưỡng hư. Về mặt trị liệu, ngoài biện pháp dùng thuốc đơn thuần theo quan điểm “biện chứng luận trị”, cổ nhân còn rất chú trọng sử dụng phối hợp dược phẩm và thực phẩm để tạo thành các món ăn - bài thuốc (dược thiện) nhằm mục đích điều trị hỗ trợ và duy trì một cách tích cực. Vài ví dụ cụ thể dưới đây sẽ giúp bạn đọc hiểu thêm về vấn đề này.

     Bài 1:   Gan lợn 100g, vỏ lụa hạt lạc 50g, gạo nếp 50g, gừng tươi và gia vị vừa đủ. Gan lợn làm sạch thái miếng, gạo nếp đãi kỹ ngâm qua, gừng thái chỉ, hành cắt đoạn. Cho gạo nếp và vỏ lạc vào nồi ninh thành cháo, sau đó bỏ gan lợn và gừng vào đun sôi chừng 10 phút là được, chế thêm gia vị, chia ăn nóng vài lần trong ngày. Công dụng : bổ huyết dưỡng huyết, dùng cho những trường hợp thiếu máu thuộc thể Huyết hư biểu hiện bằng các triệu chứng như mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt nhiều, sắc mặt, môi, móng tay và lưỡi trắng nhợt, hay hồi hộp tức ngực, kinh nguyệt lượng ít sắc nhạt hoặc bế kinh...Trong bài, gan lợn có công năng bổ can dưỡng huyết, vỏ lạc hoà vị nhuận phế, bổ huyết chỉ huyết phối hợp với gạo nếp, gừng tươi để kiện tỳ ích vị, nâng cao năng lực hoạt động của hệ tiêu hoá và tạo cảm giác ngon miệng.
     Bài 2 :    Sinh hoàng kỳ 20g, đương quy 10g, đẳng sâm 20g, thịt gà 100g, gừng tươi 15g, đại táo 10 quả. Thịt gà chặt miếng, gừng giã nát, các vị thuốc rửa sạch, tất cả cho vào nồi hầm nhỏ lửa chừng 2 giờ là được, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng : bổ khí dưỡng huyết, dùng cho người thiếu máu thuộc thể Khí huyết lưỡng hư biểu hiện bằng các triệu chứng như đầu choáng mắt hoa, tiếng nói nhỏ yếu, khó thở nhiều, dễ hồi hộp, hay chảy máu cam và chân răng, sắc mặt và niêm mạc nhợt nhạt, chất lưỡi nhợt, mạch nhanh nhỏ. Trong bài, hoàng kỳ là vị thuốc chính có công dụng đại bổ tỳ khí và phế khí, đương quy có tác dụng bổ huyết, hai vị phối hợp với nhau giúp cho khí và huyết đều được phục hồi, thúc đẩy quá trình tái tạo các tế bào máu.
     Bài 3 :   Hà thủ ô 50g, trứng gà 2 quả, đường đỏ vừa đủ. Đầu tiên, cho hà thủ ô và trứng gà vào nồi đun nhỏ lửa trong 30 phút, sau đó lấy trứng ra bóc bỏ vỏ rồi lại cho vào đun tiếp khoảng 60 - 90 phút là được, chế thêm đường đỏ, ăn trứng uống nước trong ngày. Công dụng : bổ can thận, ích tinh huyết, dùng cho người bị thiếu máu thuộc thể Can thận hư biểu hiện bằng các triệu chứng như đầu choáng mắt hoa, tai ù tai điếc, lưng đau gối mỏi, giấc ngủ không sâu nhiều mộng mị, di mộng tinh, tiểu đêm nhiều lần, trí nhớ giảm sút, đại tiện táo kết hoặc khó đi... Trong bài, hà thủ ô vị ngọt đắng, tính ấm, có công dụng bổ can ích thận, tăng tinh dưỡng huyết ; trứng gà vị ngọt tính bình có công dụng bổ huyết, dưỡng tâm an thần, tư âm nhuận táo. Hai vị phối hợp với nhau có đủ khả năng cải thiện hội chứng thiếu máu thuộc thể Can thận hư suy. Tuy nhiên, vì trứng gà chứa nhiều cholesterol cho nên những người bị rối loạn lipid máu khi dùng bài này cần có sự hướng dẫn cụ thể của thầy thuốc chuyên khoa.
     Bài 4 :   Nhung hươu 5g, thịt gà 100g, gừng tươi 10g. Thịt gà làm sạch chặt miếng, nhung hươu thái phiến, gừng tươi giã nát. Cho thịt gà và gừng vào nồi ninh kỹ trong 60 phút, tiếp đó bỏ nhung hươu vào rồi đun tiếp trong 120 phút, chế đủ gia vị, chia ăn vài lần. Công dụng : bổ thận dương, ích tinh dưỡng huyết, dùng cho người thiếu máu thuộc thể Tỳ thận dương hư biểu hiện bằng các triệu chứng sợ lạnh, tay chân lạnh, gân cốt suy yếu, lưng đau gối mỏi, tiểu đêm nhiều lần, di tinh, hoạt tinh, liệt dương, xuất tinh sớm, khó thụ thai, mệt mỏi, đầu nặng mắt hoa, tai ù, sắc mặt nhợt nhạt, có thể có phù nhẹ chi dưới, đại tiện lỏng loãng...Trong bài, nhung hươu vị ngọt mặn, tính ấm, có công dụng ôn thận tráng dương, ích tinh tuỷ, bổ khí huyết ; thịt gà vị ngọt, tính ấm, có công dụng ôn trung ích khí, bổ tinh dưỡng huyết. Hai vị phối hợp với nhau có tác dụng cải thiện tình trạng thiếu máu rất tốt. Nghiên cứu hiện đại đã chứng minh nhung hươu có khả năng thúc đẩy quá trình sản sinh hồng cầu và gia tăng lượng huyết sắc tố.
     Bài 5 :   Tam thất 10g, thịt gà 150g, gừng tươi 10g. Thịt gà làm sạch chặt miếng nhỏ, tam thất thái phiến mỏng, gừng giã nát. Tất cả cho vào bát, chế đủ nước, đậy kín miệng rồi đem hấp cách thuỷ trong 2 giờ, nêm đủ gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng : hoạt huyết, dưỡng huyết, cầm máu, dùng cho người bị thiếu máu thuộc thể Khí trệ huyết ứ biểu hiện bằng các triệu chứng sắc mặt xám nhợt, hay bị xuất huyết dưới da, dễ chảy máu chân răng, chảy máu cam, phụ nữ kinh nguyệt không đều, thống kinh, kinh sắc tối và có máu cục, lưỡi có những điểm tím, toàn trạng mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt...Trong bài, tam thất vị ngọt đắng, tính ấm, có công dụng hoạt huyết tán ứ, làm thông huyết mạch, trừ huyết cũ sinh huyết mới và cầm máu; thịt gà ôn trung ích khí, bổ tinh dưỡng huyết. Hai vị phối hợp với nhau tạo nên công năng hoạt huyết dưỡng huyết độc đáo của bài thuốc.

                                                                                   Hoàng Khánh Toàn