Hiển thị các bài đăng có nhãn Chữa bệnh nên biết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chữa bệnh nên biết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 10 tháng 5, 2018

ĐÔNG Y CHỮA TRÀO NGƯỢC THỰC QUẢN


ĐÔNG Y CHỮA VIÊM THỰC QUẢN TRÀO NGƯỢC


     Viêm thực quản trào ngược, hay còn gọi là bệnh trào ngược dạ dày-thực quản (GERD-Gastro Esophageal Reflux Disease), là tình trạng viêm loét thực quản do dịch dạ dày trào ngược lên thực quản diễn ra thường xuyên hay từng lúc. Mức độ viêm thực quản phụ thuộc vào thời gian và tần suất tiếp xúc giữa các chất trào ngược với niêm mạc thực quản. bệnh không chỉ gây khó chịu cho bệnh nhân mà còn có nguy cơ gây ra những biến chứng nặng nề như loét, hẹp, chảy máu thực, thậm chí dẫn đến ung thư.
     Trong đông y, bệnh lý này thuộc phạm vi các chứng bệnh như “Ế cách”, “Hung thống”, “Thổ toan”…do nhiều nguyên nhân gây nên như rối loạn tình chí, ẩm thực bất điều, lao lực quá độ, cảm thụ ngoại tà…với cơ chế chủ yếu là do vị khí thượng ngịch, thăng giáng thất thường mà phát sinh ra các chứng trạng như ợ hơi, ợ chua, đau tức sau xương ức, viêm rát họng, nôn và buồn nôn..Về mặt trị liệu, đông y có thể sử dụng các biện pháp như sau :
* Dùng thuốc
     Thường lựa chọn theo ba phương thức : biện chứng luận trị (căn cứ theo thể bệnh mà lựa chọn bài thuốc), biện bệnh luận trị (xây dựng một bài thuốc dùng cho mọi thể bệnh) và sử dụng kinh nghiệm dân gian (đơn phương nghiệm phương). Cụ thể :
+ Biện chứng luận trị : Thông qua Tứ chẩn (vọng, văn, vấn, thiết) mà quy vào các thể bệnh và mỗi thể bệnh có phương pháp và bài thuốc phù hợp. Ví như, với thể Can vị bất hòa phải sơ can hòa khí giáng ngịch, trọng dùng bài Tứ nghịch tán hợp Tiểu bánhạ thang gia giảm ; với thể Can vị uất nhiệt phải sơ can tả nhiệt hòa vị, trọng dùng bài Đan chi tiêu dao tán gia giảm ; với thể Đàm khí giao trở phải lý khí hóa đàm hòa sướng cách, trọng dùng bài Khải cách tán gia giảm ; với thể Tỳ vị hư nhược phải kiện tỳ ích khí giáng ngịch, trọng dùng bài Hương sa lục quân tử thang gia giảm ; với thể Khí hư huyết ứ phải ích khí kiện tỳ, hoạt huyết hóa ứ, trọng dùng bài Tứ quân tử thang hợp Đan sâm ẩm gia giảm.
+ Biện bệnh luận trị : Thông qua cơ chế bệnh sinh và các chứng trạng cơ bản mà lựa chọn một bài thuốc có thể dùng cho tất cả các thể bệnh dưới các dạng thuốc khác nhau như thuốc thang sắc hay các đông dược thành phẩm (cao, đơn, hoàn, tán, viên nang, viên nén, trà tan, siro, thuốc nước đóng ống…). Có thể nói, hình thức này hiện nay đang rất phát triển, nhất là các đông dược thành phẩm được bào chế dưới dạng tân dược, bởi tính phổ thông, dễ dùng, tiện bảo quản và vận chuyển. Tuy nhiên, tính “biện chứng” của chúng cũng là một vấn đề cần được xem xét và nghiên cứu.
+ Đơn phương nghiệm phương : Đây là một kho tàng hết sức phong phú, khó có thể kể hết với đặc diểm chung là đơn giản, dễ kiếm, dễ chế, tiện dùng và có hiệu quả ở các mức độ khác nhau. Có thể dẫn ra một số ví dụ :
     - Cây ngũ sắc 14g, hoàng kỳ 16g, tía tô 8g, chỉ xác 6g, xương bồ 16g, hoài sơn 8g, biển đậu 6g, trần bì 8g, đương quy 10g, bạch truật 8g, lá đắng 12g, lá lốt 6g, sinh
Khương 8g, sâm đại hành 10g, sắc uống 2 ngày 1 thang sau khi ăn.
     - Khôi tía 16g, cỏ lào 12g, loét mồm 12g, tam thất nam 12g, khương hoàng 10g, cam thảo 10g, sắc uống 2 ngày 1 thang, mỗi ngày uống 2 lần trước khi ăn sáng và trước khi đi ngủ 30 phút
     - Hắc tao nhân 16g, bạc truật 12g, 10g hoài sơn, 16g phòng sâm, 10g liên nhục, ngưu tất 8g, 10g viễn chi, trần bì 6g, bán hạ chế 12g, chỉ xác 8g, cam thảo 4g.Tất cả đem sắc cùng với 1 lít nước, sắc cô cho đến khi còn một nửa là được, chia uống 3 lần trong ngày sau bữa ăn.
     - Hoài sơn, liên nhục, ngũ gia bì mỗi vị 16g, tía tô 20g, bạch truật 16g, cam thảo 10g, phòng sâm 16g, chỉ xác 8g, bán hạ 10g, sinh khương 4g, cây ngũ sắc (sao vàng hạ thổ) 16g, bạch linh 12g, lá đinh lăng (sao thơm) 12g. Sắc uống 2 ngày 1 thang, uống mỗi ngày 2 lần.
     - Viễn chỉ 12g, cam thảo 12g, trần bì 12g, ngưu tất 16g, hắc táo nhân 16g, cát căn 16g, hoài sơn 16g, liên nhục16g, chỉ xác 10g và bán hạ chế 10g. Sắc uống 2 ngày 1 thang, mỗi ngày uống 2 lần ngay khi còn ấm và uống trước bữa ăn.
* Không dùng thuốc
     Bao gồm nhiều biện pháp như châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, tập luyện khí công dưỡng sinh, yoga, thiền, cân ma đạt kinh, thái cực quyền…Riêng châm cứu cũng rất nhiều phương thức như thể châm, điện châm, thủy châm, nhĩ châm, cấy chỉ cát gút, laser châm, từ châm…Ngoài ra, còn có thể chọn dùng các món dược thiện có công dụng bồi bổ tỳ vị, lý khí giáng nghịch hỗ trợ trị liệu trào ngược dạ dày thực quản rất dễ được cơ thể chấp nhận. Để trị liệu đạt hiệu quả cao và bền vững, đông y thường  hay phối hợp cả hai biện pháp dùng thuốc và không dùng thuốc theo quan điểm chỉnh thể và toàn diện.

                                                                               ThS Hoàng Khánh Toàn




Thứ Hai, 26 tháng 3, 2018

ĐÔNG Y TRỊ LIỆU BỆNH HÔ HẤP TRẺ EM


ĐÔNG Y TRỊ LIỆU BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP TRẺ EM


     Bệnh lý đường hấp ở trẻ em là hết sức thường gặp, phức tạp và dễ gây biến chứng, thậm chí có thể tử vong. Có thể kể ra những căn bệnh chính như viêm đường hô hấp trên,  viêm khí phế quản cấp tính, viêm phổi, viêm phế quản thể hen, hen phế quản…Với những tiến bộ khoa học y học vượt bậc, tây y đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc phòng chống bệnh lý đường hô hấp cho trẻ. Tuy nhiên, với không ít trường hợp, ở trong những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, đông y vẫn có một vai trò quan trọng trên cơ sở thực hành  nhiều biện pháp dùng thuốc và không dùng thuốc theo quan điểm “biện bệnh luận trị” hoặc “biện chứng luận trị”, trong đó phương thức biện chứng luận trị vẫn là cơ bản.

1. Viêm đường hô hấp trên cấp tính
     Viêm đường hô hấp trên cấp tính  không phải là một bệnh đơn lẻ mà là tổng hợp các bệnh do bị cảm lạnh, viêm mũi, viêm họng, viêm xoang, viêm thanh quản….với triệu chứng dể nhận biết như sốt cao, hắt hơi sổ mũi, chảy nước mũi, đau rát họng, ho, khàn tiếng, đau mỏi toàn thân….Trong đông y, nhóm bệnh này thuộc phạm vi các chứng như cảm mạo, khái thấu, nhũ nga, hầu tý…với nguyên nhân chủ yếu là do phong hàn, phong nhiệt gây nên. Chẩn trị cụ thể như sau :
* Với thể Ngoại cảm phong hàn
- Triệu chứng : Sợ lạnh, không ra mồ hôi, đau đầu, nghẹt mũi, chảy nước mũi, ngứa họng, ho, không sốt hoặc sốt nhẹ , lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch khẩn
- Phép chữa : Tân ôn giải biểu, tuyên phế tán hàn
- Bài thuốc : Tô kiều giải biểu thang gồm các vị : tô diệp 6g, kinh giới 6g (cho sau), phòng phong 6g, kim ngân hoa 10g, liên kiều 10g, cát cánh 8g, tiền hồ 8g, cam thảo 3g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Ngoại cảm phong nhiệt
- Triệu chứng : Phát sốt, ra mồ hôi, nghẹt mũi, chảy nước mũi, đau đầu, đau mình mẩy, hầu họng đỏ đau, ho khạc đờm vàng, mặt đỏ, họng khô, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch phù sác.
- Phép chữa : Tân lương giải biểu, tuyên phế chỉ khái lợi hầu
- Bài thuốc : (1) Nếu họng đau nhiều, sốt cao dùng bài Liên kiều tán gia giảm gồm : liên kiều 10g, kim ngân hoa 10g, cát cánh 8g, bạc hà 5g, trúc nhự 6g, kinh giới 6g (cho sau), đạm đậu xị 6g, ngưu bàng tử 5g, cam thảo 5g, bản lam căn 10g, hoàng cầm 7g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. (2) Nếu ho nhiều dùng bài Tang cúc ẩm gia giảm gồm : tang diệp 10g, cúc hoa 10g, liên kiều 10g, hạnh nhân 8g, cát cánh 8g, bạc hà 5g (cho sau), cam thảo 3g, bản lam căn 10g, hoàng cầm 7g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Kiêm chứng
     Bất luận là ngoại cảm phong hàn hay phong nhiệt nếu có kiêm các chứng đàm, trệ hoặc co giật thì gia thêm các vị thuốc, cụ thể như sau :
+ Ngoại cảm kiêm đàm có ho khạc đờm nhiều, tiếng ho trầm nặng, khàn tiếng, đại tiện táo, tiểu tiện vàng gia thêm qua lâu nhân 10g, đông qua nhân 10g, sa sâm 12g, mạch môn 8g, bối mẫu 6g.
+ Ngoại cảm kiêm trệ có hiện tượng bụng chướng đầy, chán ăn, buồn nôn và nôn ra nước chua, đi lỏng, mùi chua và khó chịu, hơi thở hôi gia thêm hoắc hương 6g, (cho sau), chỉ xác 6g, lai phục tử 10g, cốc nha 12g
+ Ngoại cảm kiêm co giật gia thêm câu đằng 8g, thuyền thoái 5g, linh dương cốt 10g, (sắc trước), toàn yết 3g.

2. Viêm khí phế quản cấp tính
     Trong đông y, viêm khí phế quản cấp tính thuộc phạm vi chứng khái thấu thường do phong hàn và phong nhiệt gây nên. Chẩn trị cụ thể như sau :
* Với thể Phong hàn khái thấu
- Triệu chứng : Ho nhiều, khạc đờm trong loãng, chảy nước mũi trong, sợ lạnh, không vã mồ hôi, sốt, đau đầu, ngứa họng, mình mẩy đau nhức nặng nề, chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch nhu khẩn\
- Phép chữa : Sơ phong tán hàn, tuyên phế chỉ khái, hóa đàm
- Bài thuốc : Dùng bài Chỉ khái tán gia giảm gồm : tử uyển 8g, cát cánh 8g, bạch tiền 8g, bách bộ 10g, kinh giới 6g (cho sau), trần bì 3g, bán hạ chế 8g, ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, cam thảo 3g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Phong nhiệt khái thấu
- Triệu chứng : Phát sốt, ho tiếng nặng, đờm nhiều vàng dính và khó khạc, miệng khô họng đau, mồ hôi dâm dấp, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch phù sác
- Phép chữa : Sơ phong thanh nhiệt, tuyên phế chỉ khái
- Bài thuốc : Dùng bài Tang cúc ẩm hợp với bài Ma hạnh thạch cam thang gia giảm, gồm các vị : ma hoàng 3g, thạch cao 18g, hạnh nhân 8g, cam thảo 5g, hoàng cầm 8g, liên kiều 10g, cát cánh 8g, qua lâu nhân 10g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.

3. Viêm phổi
     Trong đông y, viêm phổi thuộc phạm vi các chứng như phong ôn, khái suyễn, mã tỳ phong…với nguyên nhân là do chính khí suy nhược, công năng tạng phủ rối loạn khiến tà khí bên ngoài xâm nhập sâu vào phần “lý” (bên trong) mà gây thành bệnh. Chẩn trị cụ thể như sau :
* Với thể Phong tà bế phế
- Triệu chứng : Phát sốt, ho, khó thở, khạc đờm trắng loãng, không có mồ hôi, không khát, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù khẩn hoặc phù sác.
- Phép chữa : Tân ôn giải biểu, tuyên phế hóa đàm
- Bài thuốc : Dùng bài Tam ảo thang gia giảm gồm : ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, trần bì 3g, bán hạ chế 8g, kinh giới tuệ 6g (cho sau), bạch giới tử 8g, lai phục tử 10g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Phong nhiệt bế phế
- Triệu chứng : Sốt cao, ho nhiều, khó thở, vã mồ hôi, miệng khát, ngực đau, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác
- Phép chữa : Tân lương giải biểu, tuyên phế hóa đàm
- Bài thuốc : Dùng bài Ma lâu thang gia giảm gồm : ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, thạch cao 12g, cam thảo 5g, qua lâu nhân 10g, lai phục tử 10g, hoàng cầm 10g, liên kiều 10g, săc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Phong ôn bế phế
- Triệu chứng : Ho và khó thở nhiều, tắc mũi, sốt cao, vã mồ hôi, phiền khát, đau ngực, môi miệng xanh tím, đờm vàng dính, lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch sác.
- Phép chữa : Thanh nhiệt giải biểu, tuyên phế bình suyễn
- Bài thuốc : Dùng bài Ngũ hổ thang hợp với Tam hoàng thạch cao thang gia giảm gồm các vị : ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, thạch cao 12g, cam thảo 5g, hoàng cầm 10g, hoàng liên 3, ngưu bàng tử 6g, lai phục tử 10g, tang bạch bì 10g, hoàng bá 8g, sắc uống mỗi ngày 1 thang
* Với thể Đàm nhiệt bế phế
- Triệu chứng : Ho và khó thở nhiều, sốt cao, môi khô miệng khát, khạc đờm nhiều màu vàng và dính, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu vàng dính, mạch khẩn sác.
- phép chữa : Thanh nhiệt tuyên phế, dục đàm bình suyễn
- Bài thuốc : Dùng bài Ma hạnh thạch cam thang hợp với Đình lịch đại táo tả phế thang gia giảm gồm : ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, thạch cao 15g, cam thảo 5g, ngư tinh thảo 15g, ngưu bàng tử 6g, thiên trúc hoàng 8g, tang bạch bì 10g, hầu táo tán 1g (uống cùng nước thuốc sắc), sắc uống mỗi ngày 1 thang, uống thêm trúc lịch lượng vừa đủ.

4. Viêm phế quản thể hen và hen phế quản
     Trong đông y, hai bệnh lý này thuộc phạm vi các chứng như háo chứng, suyễn chứng, nguyên nhân do chính khí hư suy, công năng tạng phủ rối loạn, đặc biệt là Phế, Tỳ và Thận, tà khí thừa cơ xâm nhập mà gây nên bệnh. Chẩn trị cụ thể như sau:
* Trong giai đoạn phát bệnh
- Với thể Hàn chứng
+ Triệu chứng : Ho và khó thở thành cơn, có khi phải ngồi dậy để thở, có nhiều tiếng rít trong khí quản, đờm trong loãng, sắc mặt nhợt nhạt, tay chân lạnh, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng loãng, chất lưỡi nhợt, rêu trắng mỏng, mạch hoạt khẩn.
+ Phép chữa : Ôn phế tán hàn, giáng khí bình suyễn
+ Bài thuốc : Dùng bài Tiểu thanh long thang hợp Tam tử dưỡng tân thang gia giảm gồm : can khương 1,5g, quế chi 3g, ma hoàng 3g, bạch thược 10g, tế tân 1,5g, bán hạ chế 8g, ngũ vị tử 5g, tô tử 8g, bạch giới tử 5g, lai phục tử 10g, cam thảo 5g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
- Với thể Nhiệt chứng
+ Triệu chứng : Ho và khó thở thành cơn, nhiều đờm rãi, có thể có sốt, đờm vàng, tức ngực buồn phiền, khát nước muốn uống, tiểu tiện vàng, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ, rêu vàng dính, mạch hoạt sác.
+ Phép chữa : Thanh nhiệt tuyên phế, hóa đàm định suyễn
+ Bài thuốc : Dùng bài Định suyễn thang gia thạch cao gồm các vị ma hoàng 3g, ngân hạnh 10g, hoàng cầm 8g, tang bạch bì 10g, tô tử 8g, bán hạ chế 10g, khoản đông hoa 10g, hạnh nhân 8g, cam thảo 5g, thạch cao 15g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Trong giai đoạn hồi phục
- Triệu chứng : ho và khó thở nhẹ, khạc đờm loãng, sắc mặt không tươi, mệt mỏi vô lực, cơ thể tiều tụy gầy yếu, ăn kém, bụng đầy, đại tiện lỏng loãng, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch nhu vô lực.
- Phép chữa : Bổ phế kiện tỳ ôn thận
- Bài thuốc : Dùng bài Bổ phế kiện tỳ ôn thận thang gồm : đẳng sâm 10g, thục địa 10g, ngũ vị tử 3g, khoản đông hoa 8g, bạch linh 12g, hoài sơn 12g, hồ đào nhục 12g, thỏ ty tử 10g, , địa long 6g, chích thảo 3g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
     Ngoài việc dùng thuốc, với tất cả các bệnh lý đường hô hấp trẻ em đều có thể kết hợp với châm cứu, xoa bóp, tập thở, sử dụng các món ăn-bài thuốc phù hợp với tuổi, thể chất và mức độ bệnh.

                                                                                  Hoàng Khánh Toàn

Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2017

VỮA XƠ ĐỘNG MẠCH VÀ ĐÔNG Y

PHÒNG CHỐNG VỮA XƠ ĐỘNG MẠCH NÃO BẰNG ĐÔNG Y


     Vữa xơ động mạch động mạch não là một trong những bệnh đáng chú ý nhất hiện nay, đặc biệt ở người có tuổi và cao tuổi, với tình trạng tổn thương nội mạc động mạch vừa và lớn ở não dưới hình thái mảng vữa và tổ chức xơ. Vữa xơ động mạch não có thể dẫn đến những hậu quả rất nặng nề như thiểu năng tuần hoàn não, tai biến mạch máu não, teo não…, thậm chí có thể gây tử vong.
     Trong y học cổ truyền, vữa xơ động mạch não thuộc phạm vi nhiều chứng bệnh tùy theo biểu hiện của bệnh như “huyễn vựng”, “đầu thống”, “kiện vong”, “trúng phong”…và được trị liệu bằng nhiều vị thuốc, bài thuốc khác nhau trên nguyên tắc “biện chứng luận trị”

1. Với thể Can dương thượng cang
* Chứng trạng : Đầu choáng mắt hoa, đau đầu, buồn phiền bức bối, dễ cáu giận, ù tai, mất ngủ, sắc mặt đỏ, ngực sườn đầy tức, miệng khô, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác.
* Trị liệu : Cần bình can tiềm dương, dùng bài thuốc Thiên ma câu đằng ẩm gia giảm, gầm các vị : thiên ma 12g, thạch quyết minh 30g, hoàng cầm 12g, chi tử 9g, ngưu tất 12g, tang ký sinh 15g, đôc trọng 12g, dạ giao đằng 30g, phục thần 20g, ích mẫu thảo 18g, cúc hoa 12g, sinh mẫu lệ 3g, cam thảo 6g.

2. Với thể Âm hư hỏa vượng
* Chứng trạng : lòng bàn tay bàn chân nóng, bức bối phiền muộn, hay có cơn bốc hỏa, ngủ kém hay mê mộng, dễ hồi hộp, đầu choáng, tai ù, hay quên, vã mồ hôi ban đêm, lưng đau, gối mỏi, môi khô miệng khát, chất lưỡi đỏ ít rêu, mạch nhanh nhỏ
* Trị liệu : Cần tư âm giáng hỏa, dưỡng tâm an thần, dùng bài thuốc Hoàng liên a giao thang phối hợp với Chu sa an thần hoàn, gồm các vị : hoàng liên 9g, a giao sao phồng 15g, bạch thược 15, hoàng cầm 9g, sinh địa 18g, đương quy 12g, quy bản 15g, toan táo nhân 15g, chu sa 3g (uống cùng thuốc nước), cam thảo 6g.
3. Với thể Đàm trọc trở lạc
* Chứng trạng : Thể trạng béo trệ, đầu đau và nặng như đeo đá, hoa mắt chóng mặt, ngực bụng đầy chướng, hay quên, chất lưỡi bè bệu có vết hằn răng, rêu lưỡi trắng dầy dính, mạch hoạt hoặc huyền hoạt.
* Trị liệu : Cần kiện tỳ táo thấp, hóa đàm khai khiếu, dùng bài thuốc Bán hạ bạch truật thiên ma thang gia giảm, gồm các vị : bach truật 12g, bán hạ chế 9g, thiên ma 12g, trần bì 12g, bạch linh 24g, hậu phác 9g, xương bồ 15g, uất kim 12g, thiên trúc hoàng 9g, viễn chí 12g, cam thảo 6g, sinh khương 3 lát.

4. Với thể Đàm nhiệt thượng nhiễu
* Chứng trạng : Đầu đau căng chướng, chóng mặt, ợ chua, ợ hơi, mất ngủ, miệng đắng và khô, đại tiện bí kết, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi đỏ dính, mạch huyền sác.
* Trị liệu : Cần thanh nhiệt hóa đàm, khai khiếu, dùng bài thuốc Bán hạ bạch truật thiên ma thang gia giảm, gồm các vị : thanh mông thạch 30g, hoàng cầm 12g, đại hoàng 9g, phác tiêu 9g, trầm hương 6g, đởm nam tinh 12g, chi tử 9g, xương bồ 12g, uất kim 12g, cam thảo 6g.

5. Với thể Khí huyết lưỡng hư, phong tà nhập trung
* Chứng trạng : Mệt mỏi vô lực, tinh thần uể oải, hoa mắt chóng mặt, khó thở, đầu đau có cảm giác trống rỗng, tư duy trì trệ, trí nhớ suy giảm, tứ chi tê dại, chán ăn, châm tiêu, sợ lạnh, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù nhược.
* Trị liệu : Cần bổ khí dưỡng huyết, khứ phong thông lạc, dùng bài thuốc Đại tần cửu thang gia giảm, gồm các vị : khương hoạt 9g, phòng phong 9g, bạch chỉ 12g, thục địa 15g, đương quy 15g, xuyên khung 15g, xích thược 15g, đẳng sâm 12g, bạch truật 9g, bạch linh 18g, bạch phụ tử 9g, cam thảo 6g.

6. Với thể Khí huyết lưỡng hư, đàm ứ trở lạc
* Chứng trạng : Chóng mặt, đau đầu có cảm giác trống rỗng, mệt mỏi, khó thở, ngủ kém hay mê mộng, trí nhớ suy giảm, toàn thân nặng nề, chất lưỡi xám tối, có điểm ứ huyết, rêu lưỡi dầy dính, mạch hoạt.
* Trị liệu : Cần phải ích khí bổ huyết, kiện tỳ hóa đàm, khứ ứ thông lạc, dùng bài thuốc Bát trân thang phối hợp với Ôn đởm thang và Khai khiếu hoạt huyết thang gia giảm, gồn các vị : Thục địa 15g, đương quy 15g, xuyên khung 15g, xích thược 12g, đẳng sâm 15g, bạch linh 24g, bạch truật 9g, trần bì 12g, trúc nhự 15g, chỉ xác 12g, đởm nam tinh 9g, đào nhân 12g, hồng hoa 12g, toàn yết 9g, địa long 15g, xương bồ 12g, cam thảo 6g.

7. Với thể Can thận âm hư, phong dương thượng liễu
* Chứng trạng : Đau đầu, chóng mặt, tai ù tai điếc, ngủ kém hay mê mộng, lưng đau gối mỏi, , tứ chi cương cứng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch tế sác.
* Trị liệu : Cần phải tư âm tiềm dương, khứ phong thông lạc, dùng bài thuốc Trấn can tức phong thang gia giảm, gồm các vị : xích thược 15g, bạch thược 15g, thiên môn 15g, huyền sâm 15g, quy bản 20g, nhân trần 12g, đại giả thạch 20g, sinh mẫu lệ 30g, ngưu tất 15g, thiên ma 9g, câu đằng 30g, địa long 12g, toàn yết 9g, thạch quyết minh 20g, cam thảo 6g
.
8. Với thể Thận tinh khuy hư
* Chứng trạng : Chóng mặt, tinh thần mỏi mệt, cử chỉ chậm chạp, trí nhớ suy giảm, tư duy không chuẩn, tai ù tai điếc, lưng đau gối mỏi, răng rụng nhiều, nóng lòng bàn tay bàn chân và vùng trước ngực, chất lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
* Trị liệu : Cần phải bổ ích tinh khí, dùng bài thuốc Hữu quy hoàn gia giảm, gồm các vị : thục địa 18g, hoài sơn 15g, sơn thù 18g, thỏ ty tử 15g, kỷ tử 15g, ngưu tất 18g, lộc giác giao 15g, quy bản 15g, viễn chí 12g, hà thủ ô 15g.


                                                                                                Hoàng Khánh ToànHoangdfHoangfdHo

Thứ Năm, 9 tháng 3, 2017

ĐÔNG Y CHỮA UNG THƯ

Bằng thuốc sắc theo nguyên tắc “biện chứng luận trị” + chế độ ăn uống và tập luyện, khoa Y học cổ truyền bệnh (YHCT) viện TƯ quân đội 108 đã kéo dài cuộc sống cho bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối không còn khả năng chữa trị
ThS Hoàng Khánh Toàn, Chủ nhiệm Khoa Y học cổ truyền Bệnh viện TƯQĐ 108 cho biết, trên thực tế có không ít bệnh nhân bị ung thư tìm đến với YHCT với 2 lý do: Thứ nhất, có thể họ bị ung thư quá nặng cộng với tuổi tác, sức khỏe không cho phép can thiêp phẫu thuật, thủ thuật, hóa trị hoặc xạ trị...; Thứ hai, là các bệnh nhân không muốn sử dụng phương pháp của y học hiện đại (YHHĐ). Vì vậy, trên thực tế lâm sàng khoa đã điều trị cho một số bệnh nhân bị ung thư và nhiều người đã có hiệu quả ở các mức độ khác nhau.
Bệnh nhân Nguyễn Văn T., 82 tuổi (Đống Đa, Hà Nội) bị ung thư phổi trái sát tim với kích thước lớn có xâm lấn. Tây y kết luận bệnh nhân không còn khả năng điều trị. Tuy nhiên, gia đình và người bệnh không muốn “buông xuôi” có nguyện vọng điều trị YHCT. Khoa đã kê đơn thuốc sắc cho bệnh nhân uống theo nguyên tắc “biện chứng luận trị” của đông y và sử dụng một số dược liệu có tác dụng hỗ trợ trị liệu ung thư như : đông trùng hạ thảo, nấm linh chi, tam thất...kết hợp với chế độ ăn, tập luyện khí công dưỡng sinh. Lẽ ra với những trường hợp như vậy, thời gian sống của người bệnh chỉ có thể tính bằng tháng, nhưng thật bất ngờ bệnh nhân này đã sống được 3,5 năm.
Tương tự, anh Phạm Mạnh H, 68 tuổi (Ba Đình, Hà Nội) có 3 khối u với kích thước đường kính từ 3 - 6cm trong gan. Tuy thể trạng bệnh nhân tốt, ăn được, không đau, chưa có hạch di căn... nhưng vì có nhiều khối u nên biện pháp phẫu thuật, tiêm cồn ...không có khả năng can thiệp. Vả lại, bệnh nhân  cũng không muốn trị liệu bằng y học hiện đại, khoa đã dùng thuốc sắc uống kết hợp với mật gấu, nấm linh chi, tam thất bột và ăn uống hợp lý và thực hành các động tác yoga có công dụng dưỡng can. Kết quả bệnh nhân đã sống được 5,5 năm và “ra đi” nhẹ nhàng.
Theo ThS Toàn, bệnh ung thư theo YHCT có tính chất “bản hư tiêu thực”. “Bản” là gốc, là sức đề kháng miễn dịch bị suy giảm, là công năng của các tạng phủ, đặc biệt là tạng can bị rối loạn. “Tiêu” là ngọn, là các hội chứng bệnh lý như khí trệ, huyết ứ, đàm trệ, thủy thũng, tỳ khí hư, can huyết hư... nên trong cấu trúc của đơn thuốc bao giờ cũng có 2 phần: Bồi bổ chính khí và giải quyết các vấn đề rối loạn trong cơ thể. Ví như, điều trị giảm đau, hạ sốt, chống viêm, chống phù nề, chống rối loạn hoạt động của các tạng phủ, trong đó hết sức trọng dụng những vị thuốc có tác dụng phòng chống “chứng nham” - chứng bệnh tương tự với căn bệnh ung thư của YHHĐ. Những vị thuốc này không chỉ do kinh nghiệm truyền lại mà còn được YHHĐ chứng minh là có tác dụng tiêu diệt hoặc ức chế tế bào ung thư như: tam thất, bạch hoa xà thiệt thảo, bán chi liên, kim ngân hoa, hải tảo, côn bố, toàn yết (bọ cạp)...
Kiên nhẫn và dùng thuốc đúng chỉ định
ThS Toàn nhấn mạnh, sự tác động của thuốc đông y với các bệnh lý nói chung và ung thư nói riêng thông thường đều mang tính chất chậm và tiệm tiến. Vì vậy, khi sử dụng YHCT điều trị đòi hỏi bệnh nhân phải kiên nhẫn, sử dụng thuốc đúng theo chỉ định của bác sĩ, tuyệt đối không được dùng những bài thuốc, vị thuốc theo ông lang, bà mế không được đào tạo một cách chính thống. Khi điều trị, bệnh nhân cần lạc quan, tin tưởng và thầy thuốc không nên ép buộc bệnh nhân theo cho đến cùng YHCT nếu bệnh nhân muốn chuyển sang điều trị Tây y.
Theo ThS Toàn, Đông y điều trị ung thư theo quan điểm biện chứng luận trị, tức là, không có bài thuốc, vị thuốc nào chung cho tất cả bệnh nhân hoặc một bệnh và ngay cả một bệnh nhân cũng không có bài thuốc chung trong suốt quá trình điều trị. Thuốc sắc phải tùy thuộc vào tính chất bệnh lý, biến chứng của bệnh, tuổi tác, kết quả thăm khám... từng đợt mà xây dựng phác đồ cho phù hợp. Quá trình điều trị tùy theo tính chất bệnh lý và sức khỏe người bệnh có thể sử dụng thuốc thành từng đợt, có thể thay đổi dạng bào chế của thuốc: thuốc sắc, cao đơn hoàn tán, xoa đắp... Có trường hợp không cần sử dụng thuốc liên tục nhưng bệnh nhân vẫn phải tuân thủ chế độ ăn uống theo đúng chỉ dẫn.
Box: “Có thể nói, cho đến nay sự khẳng định việc dùng các biện pháp YHCT có khả năng điều trị khỏi hoàn toàn căn bệnh ung thư là chưa có. Nhưng thực tế việc sử dụng YHCT để hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối hoặc kết hợp điều trị Tây y là hoàn toàn có thể. Nhiều ca bệnh có kết quả tốt. Vấn đề này rất mong các nhà y học, đặc biệt ung thư học nên chú trọng, lưu tâm nghiên cứu và đưa ra những kết luận bằng những công trình nghiên cứu nghiêm túc và khoa học”.
Ảnh: thăm khám cho bệnh nhân
                                                                           Thúy Nga

                                                                     (Báo Khoa học và Đời sống)

Thứ Hai, 7 tháng 11, 2016

ĐÔNG Y CHỮA UNG THƯ GAN

Bằng thuốc sắc theo nguyên tắc “biện chứng luận trị” + chế độ ăn uống và tập luyện, khoa Y học cổ truyền bệnh (YHCT) viện TƯ quân đội 108 đã kéo dài cuộc sống cho bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối không còn khả năng chữa trị
ThS Hoàng Khánh Toàn, Chủ nhiệm Khoa Y học cổ truyền Bệnh viện TƯQĐ 108 cho biết, trên thực tế có không ít bệnh nhân bị ung thư tìm đến với YHCT với 2 lý do: Thứ nhất, có thể họ bị ung thư quá nặng cộng với tuổi tác, sức khỏe không cho phép can thiêp phẫu thuật, thủ thuật, hóa trị hoặc xạ trị...; Thứ hai, là các bệnh nhân không muốn sử dụng phương pháp của y học hiện đại (YHHĐ). Vì vậy, trên thực tế lâm sàng khoa đã điều trị cho một số bệnh nhân bị ung thư và nhiều người đã có hiệu quả ở các mức độ khác nhau.
Bệnh nhân Nguyễn Văn T., 82 tuổi (Đống Đa, Hà Nội) bị ung thư phổi trái sát tim với kích thước lớn có xâm lấn. Tây y kết luận bệnh nhân không còn khả năng điều trị. Tuy nhiên, gia đình và người bệnh không muốn “buông xuôi” có nguyện vọng điều trị YHCT. Khoa đã kê đơn thuốc sắc cho bệnh nhân uống theo nguyên tắc “biện chứng luận trị” của đông y và sử dụng một số dược liệu có tác dụng hỗ trợ trị liệu ung thư như : đông trùng hạ thảo, nấm linh chi, tam thất...kết hợp với chế độ ăn, tập luyện khí công dưỡng sinh. Lẽ ra với những trường hợp như vậy, thời gian sống của người bệnh chỉ có thể tính bằng tháng, nhưng thật bất ngờ bệnh nhân này đã sống được 3,5 năm.
Tương tự, anh Phạm Mạnh H, 68 tuổi (Ba Đình, Hà Nội) có 3 khối u với kích thước đường kính từ 3 - 6cm trong gan. Tuy thể trạng bệnh nhân tốt, ăn được, không đau, chưa có hạch di căn... nhưng vì có nhiều khối u nên biện pháp phẫu thuật, tiêm cồn ...không có khả năng can thiệp. Vả lại, bệnh nhân  cũng không muốn trị liệu bằng y học hiện đại, khoa đã dùng thuốc sắc uống kết hợp với mật gấu, nấm linh chi, tam thất bột và ăn uống hợp lý và thực hành các động tác yoga có công dụng dưỡng can. Kết quả bệnh nhân đã sống được 5,5 năm và “ra đi” nhẹ nhàng.
Theo ThS Toàn, bệnh ung thư theo YHCT có tính chất “bản hư tiêu thực”. “Bản” là gốc, là sức đề kháng miễn dịch bị suy giảm, là công năng của các tạng phủ, đặc biệt là tạng can bị rối loạn. “Tiêu” là ngọn, là các hội chứng bệnh lý như khí trệ, huyết ứ, đàm trệ, thủy thũng, tỳ khí hư, can huyết hư... nên trong cấu trúc của đơn thuốc bao giờ cũng có 2 phần: Bồi bổ chính khí và giải quyết các vấn đề rối loạn trong cơ thể. Ví như, điều trị giảm đau, hạ sốt, chống viêm, chống phù nề, chống rối loạn hoạt động của các tạng phủ, trong đó hết sức trọng dụng những vị thuốc có tác dụng phòng chống “chứng nham” - chứng bệnh tương tự với căn bệnh ung thư của YHHĐ. Những vị thuốc này không chỉ do kinh nghiệm truyền lại mà còn được YHHĐ chứng minh là có tác dụng tiêu diệt hoặc ức chế tế bào ung thư như: tam thất, bạch hoa xà thiệt thảo, bán chi liên, kim ngân hoa, hải tảo, côn bố, toàn yết (bọ cạp)...
Kiên nhẫn và dùng thuốc đúng chỉ định
ThS Toàn nhấn mạnh, sự tác động của thuốc đông y với các bệnh lý nói chung và ung thư nói riêng thông thường đều mang tính chất chậm và tiệm tiến. Vì vậy, khi sử dụng YHCT điều trị đòi hỏi bệnh nhân phải kiên nhẫn, sử dụng thuốc đúng theo chỉ định của bác sĩ, tuyệt đối không được dùng những bài thuốc, vị thuốc theo ông lang, bà mế không được đào tạo một cách chính thống. Khi điều trị, bệnh nhân cần lạc quan, tin tưởng và thầy thuốc không nên ép buộc bệnh nhân theo cho đến cùng YHCT nếu bệnh nhân muốn chuyển sang điều trị Tây y.
Theo ThS Toàn, Đông y điều trị ung thư theo quan điểm biện chứng luận trị, tức là, không có bài thuốc, vị thuốc nào chung cho tất cả bệnh nhân hoặc một bệnh và ngay cả một bệnh nhân cũng không có bài thuốc chung trong suốt quá trình điều trị. Thuốc sắc phải tùy thuộc vào tính chất bệnh lý, biến chứng của bệnh, tuổi tác, kết quả thăm khám... từng đợt mà xây dựng phác đồ cho phù hợp. Quá trình điều trị tùy theo tính chất bệnh lý và sức khỏe người bệnh có thể sử dụng thuốc thành từng đợt, có thể thay đổi dạng bào chế của thuốc: thuốc sắc, cao đơn hoàn tán, xoa đắp... Có trường hợp không cần sử dụng thuốc liên tục nhưng bệnh nhân vẫn phải tuân thủ chế độ ăn uống theo đúng chỉ dẫn.
Box: “Có thể nói, cho đến nay sự khẳng định việc dùng các biện pháp YHCT có khả năng điều trị khỏi hoàn toàn căn bệnh ung thư là chưa có. Nhưng thực tế việc sử dụng YHCT để hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối hoặc kết hợp điều trị Tây y là hoàn toàn có thể. Nhiều ca bệnh có kết quả tốt. Vấn đề này rất mong các nhà y học, đặc biệt ung thư học nên chú trọng, lưu tâm nghiên cứu và đưa ra những kết luận bằng những công trình nghiên cứu nghiêm túc và khoa học”.
Ảnh: thăm khám cho bệnh nhân
                                                                           Thúy Nga
                                                                     (Báo Khoa học và Đời sống)


Thứ Năm, 30 tháng 6, 2016

Vài cách dùng muối chữa bệnh

VÀI CÁCH DÙNG MUỐI ĂN CHỮA BỆNH

    

     Muối ăn không chỉ là gia vị mà còn là một vị thuốc quý được dùng để chữa trị nhiều chứng bệnh. Tuy nhiên, cách chế và dùng như thế nào để đạt được hiệu quả cao thì không phải ai ai cũng tường tận. Bài viết này xin được giới thiệu một vài cách dùng muối ăn chữa bệnh thông dụng nhất để độc giả tham khảo và vận dụng khi cần thiết.

* Chữa viêm họng hạt bằng súc họng nước muối

     Viêm họng hạt đến nay vẫn được coi là một bệnh khó điều trị dứt điểm. Biểu hiện của bệnh viêm họng hạt là cảm giác vướng víu, ngứa rát thường xuyên trong họng, ho và khạc đờm quánh dính hoặc trắng nhầy thường xuyên, nhất là vào sáng sớm, khi ngủ dậy. Nhiều người bệnh do ngứa họng nên hay khậm khạc, dặng hắng. Khám tại chỗ thấy thành bên họng hơi đỏ, thành sau họng có những hạt trắng. Khi sức đề kháng của cơ thể bị giảm sút do nhiễm virus, làm việc căng thẳng, thay đổi thời tiết…, bệnh có thể nặng lên thành một đợt viêm họng cấp  với các biểu hiện đau họng, sốt, ho, khạc đờm đặc…

     Có nhiều phương pháp để trị liệu căn bệnh này nhưng hiệu quả nhiều khi còn hạn chế. Các phương pháp điều trị tích cực như đốt lạnh bằng nitơ lỏng, khí dung kháng sinh tại chỗ...không cho kết quả lâu dài. Để giảm bớt triệu chứng và đề phòng những đợt cấp hoặc biến chứng, nên áp dụng một phương pháp đơn giản mà hiệu quả là súc họng bằng nước muối loãng. Cách thức cụ thể như sau :

     Dùng muối ăn pha với nước chín thành dung dịch có độ mặn tương đương với nước canh và ấm hơn thân nhiệt vài độ (nhất là về mùa lạnh) nhằm mục đích làm giãn mạch, tăng tuần hoàn tại chỗ, khiến bạch cầu đến tại chỗ nhiều hơn. Để thuận tiện nên pha sẵn nước muối mặn đựng vào chai, khi súc họng thì pha thêm nước nóng để có độ mặn và độ nóng cần thiết. Chú ý không nên pha nước muối quá mặn. Trước tiên, cần súc sạch khoang miệng bằng nước muối đã pha trong khoảng 30 giây. Nếu cảm thấy miệng chưa thật sạch thì làm thêm một lần nữa rồi mới súc họng. Ngồi dựa lưng vào thành ghế, cổ ngửa ra sau đến mức tối đa. Khi nước muối chạm thành sau họng thì dùng hơi đẩy nước muối ra, tạo tiếng kêu "khò khò" đều đặn (có thể hình dung lúc súc họng là khi ta đang phát âm o, a hoặc ê). Sau khi đẩy hơi hết, ngồi lại tư thế bình thường, nhổ nước cũ đi rồi lặp lại động tác trên 3-4 lần nữa với nước muối mới, cho đến khi họng không còn cảm giác vướng víu nữa. Cứ 3 giờ súc họng một lần. Nếu họng đang viêm cấp, khoảng cách giữa hai lần súc họng có thể gần hơn. Điều quan trọng nhất là phải nhớ súc họng trước và sau khi ngủ. Với người hay đi tiểu đêm, cần phải súc họng cả trong những lần thức giấc này. Kết quả của việc súc họng nước muối sẽ được thấy rõ sau khoảng vài ngày, đặc biệt đối với những bệnh nhân đang ở đợt cấp. Việc điều trị kháng sinh phối hợp là điều không cần thiết đối với viêm họng mạn. Nhưng nếu đang có đợt cấp, kháng sinh sẽ làm bệnh lui nhanh hơn.

* Chữa đau lưng bằng muối ăn kết hợp với ngải cứu

    
     Một biện pháp cơ bản mà hầu như thầy thuốc đông y  nào cũng khuyên bệnh nhân làm tại nhà khi bị đau lưng, đó là chườm lá ngải cứu kết hợp với muối. Ngải cứu có tác dụng điều hòa khí huyết và giảm đau rất tốt, người bệnh có thể tìm mua dễ dàng. Khi có dấu hiệu lưng bị tổn thương, lưng đau dữ dội khó chịu thì điều đầu tiên người bệnh nên làm là chườm nóng. Chườm nóng có nhiều cách như khăn nóng, chiếu đèn hồng ngoại và sử dụng thảo dược. Bài viết sẽ hướng dẫn cách chườm lá ngải cứu kết hợp với muối ăn chữa đau lưng, một bài thuốc không thể bỏ qua khi nhắc tới việc chữa các bệnh về xương khớp. Có ba cách cụ thể như sau :

1. Lấy lá ngải cứu rửa sạch, cho lẫn muối vào rồi đổ nước nóng lên, sau đó đắp vào chỗ đau. Khi bị đau lưng, đắp ngải cứu muối ấm sẽ làm cơn đau giảm đi. Còn với người có nguy cơ cao bị đau lưng (người lớn tuổi, người béo phì…) có thể dùng bài thuốc này chườm lên lưng hằng ngày sẽ có tác dụng phòng bệnh. Đau lưng do hàn, nên lấy muối kết hợp với ngải cứu rang nóng đắp vào, tinh dầu trong lá ngải cứu sẽ hút hết hàn tà trong da và cơ thể bệnh nhân.

2. Ngải cứu lượng vừa đủ, rửa sạch, để ráo nước rồi cắt thành từng đoạn ngắn dài chừng 2cm. Lấy một miệng bát muối ăn (dạng hạt) bỏ vào chảo rang cho đến khi hết tiếng nổ lách tách (giống như sao chế biến muối vừng). Tiếp đó cho ngải cứu vào chảo đảo nhanh tay chừng mươi giây là được, sao cho ngải cứu không bị chảy nước, sau đó đổ ngải cứu và muối rang ra khăn vải, bọc kín rồi chườm lên chỗ đau trước khi đi ngủ. Khi hỗn hợp này nguội đem rang lại và thực hiện 2-3 lần như thế. Nhớ đắp 1 miếng khăn lên chổ chườm nóng để tránh bị bỏng khi thuốc quá nóng, cũng có thể dùng ba khăn vải bọc hỗn hợp thuốc rồi lần bỏ từng cái cho đến khi thuốc nguội hẳn.
3. Lấy lá ngải cứu rửa sạch trộn lẫn muối hạt to rồi nướng nóng hoặc rang lên, sau đó bọc qua một lớp khăn mỏng chườm vào phần bị đau nhiều lần vào buổi tối trước khi đi ngủ.
     Điều cần lưu ý là biện pháp chườm lá ngải cứu kết hợp với muối ăn chữa đau lưng chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng làm cho bệnh nhân đỡ đau, đỡ tê mà thôi. Để trị bệnh dứt điểm cần kết hợp các biện pháp khác với nhau như vật lý trị liệu, dùng thuốc, thậm chí là phẫu thuật.

                                                                                  Hoàng Khánh Toàn


Thứ Ba, 31 tháng 5, 2016

CHƯÃ CHAI CHÂN MẮT CÁ BẰNG ĐÔNG Y

ĐÔNG Y CHỮA BỆNH CHAI CHÂN


     Chai chân (clavus), hay còn gọi là mắt cá chân, là tình trạng tăng sinh dày lớp thượng bì nhất là lớp sừng, thường gặp ở các điểm tì ép nhiều trong lòng bàn chân như gót chân, các điểm đối diện với ngón chân 3 và 5, có khi ở lưng ngón chân. Tổn thương nổi thành từng đám dày sừng, màu vàng xẫm, ở giữa có ‘‘nhân’’, ấn vào đau chói. Bệnh không nguy hiểm nhưng gây nhiều phiền toái vì ảnh hưởng đến việc đi lại do đau đớn, đặc biệt là mắt cá ở gót chân.
     Để chữa trị bệnh này, tây y thường băng mỡ salixilic 5 - 20%, gọt bỏ lớp sừng, đốt điện hoặc khoét bỏ bằng phẫu thuật nhưng chỉ mang lại kết quả tạm thời, nhiều khi vẫn tái phát hoặc để lại sẹo xơ hoá to hơn, ấn vào vẫn đau chói.
     Trong đông y, chai chân thuộc phạm vi các chứng bệnh như Nhục chích, Kê nhãn..., được xử lý đơn giản bằng một số phương pháp như :
- Hồng hoa 3g, địa cốt bì 6g, tán bột trộn với dầu vừng và một chút bột mì thành dạng cao rồi đắp lên tổn thương.
- Ô mai 30g sấy khô, tán vụn, đem ngâm với 250 ml giấm chua trong 2 tuần rồi lấy dịch thuốc bôi vào tổn thương mỗi ngày 3 lần.
- Trần bì 15g, cẩu tích 30g, uy linh tiên 30g, địa phu tử 30g, hồng hoa 10g, sắc lấy nước ngâm chân khi còn nóng, mỗi ngày 2 lần. Mỗi thang có thể dùng 3 - 4 lần.
- Bột huyết kiệt 5g, bột đá vôi lượng vừa đủ, hai thứ đem hoà với 100 ml nước muối đặc thành dạng cao rồi đắp lên tổn thương, dùng băng y tế cố định trong 24 giờ. Sau đó, tháo băng, gỡ bỏ cao thuốc, bóc hết chai rồi dùng mật quạ bôi một lớp mỏng trong 24 giờ. Một nghiên cứu của Trung Quốc tién hành trên 100 ca đều đạt kết quả tốt.
- Giấy cũ nát 30g đem ngâm với 50 ml rượu tốt, sau 7 ngày thì dùng được. Trước tiên gọt bỏ lớp sừng dày rồi bôi dịch thuốc, mỗi ngày 2 lần, chừng 7 ngày thì khỏi.
- Trước tiên, rửa sạch tổn thương, sát khuẩn bằng cồn y tế rồi dùng dao lam nhẹ nhàng gọt bỏ lớp sừng dày. Sau đó, lấy lá lô hội tươi thái phiến mỏng đắp lên tổn thương và dùng băng cố định , mỗi ngày thay thuốc 2 lần, làm liên tục cho đến khi khỏi.
- Phèn phi 10g, hoàng đan 10g, phác tiêu 10g, ba thứ tán bột, trộn đều. Trước tiên, dùng mũi dao khoét 1 lỗ ở trung tâm tổn thương, sau đó dùng bột thuốc rắc đầy và cố định bằng băng y tế, mỗi ngày thay thuốc 1 lần.
- Tỏi vỏ tím 1 củ, hành tươi 1 củ, giấm chua vừa đủ. Trước tiên, dùng cồn y tế sát trùng rồi lấy dao lam nhẹ nhàng gọt bỏ lớp sừng dày. Tiếp đó, ngâm chân bằng nước muối trong 20 phút (200 ml nước chín pha với 5g muối) rồi dùng tỏi và hành giã nát trộn với giấm chua đắp lên tổn thương, cố định bằng băng y tế, mỗi ngày thay thuốc 1 lần, thông thường 5 đến 7 ngày là khỏi.
- Ngô công sống (con rết) 1 con rửa sạch, giã nát đem trộn với 1,5g lưu hoàng rồi đắp lên tổn thương, mỗi ngày thay thuốc 1 lần, thường sau 3 đến 4 lần là khỏi. Có thể thay lưu hoàng bằng băng phiến 1g.
- Ô mai 30g, muối ăn 3g, giấm lâu năm lượng vừa đủ. Ô mai đem ngâm vào nước muối trong 1 ngày rồi bỏ hạt, giã nát, trộn với giấm thành dạng hồ và đắp lên tổn thương, mỗi ngày thay thuốc 1 lần, thường sau 3 lần là khỏi.
- Trước tiên, ngâm chân bằng nước ấm rồi dùng dao lam nhẹ nhàng gọt bỏ lớp sừng dày. Sau đó, lấy mật quạ bôi lên tổn thương, dùng băng cố định bên ngoài, 3 đến 4 ngày thay thuốc 1 lần.
- Ngô công sống 1 con, dầu vừng lượng vừa đủ. Đem ngô công ngâm vào dầu vừng trong 2 ngày rồi lấy ra giã nát và đắp lên tổn thương, thường sau 1 đêm lớp chai chân sẽ bong ra.
- Lấy 1 miếng sáp ong đắp lên tổn thương rồi dùng băng cố định bên ngoài, thường sau vài ngày lớp chai chân sẽ bong ra, nếu 1 lần chưa có hiệu quả thì làm thêm một lần nữa.
- Lấy 30g phá cố chỉ tán nhỏ đem ngâm với 100 ml cồn 95% trong lọ thuỷ tinh, bịt kín miệng, mỗi ngày lắc đều 1 lần, sau 10 ngày thì dùng được. Trước tiên, sát trùng tổn thương bằng cồn y tế rồi dùng dao lam nhẹ nhàng gọt bỏ lớp sừng dày sao cho không chảy máu là được, tiếp đó dùng bông thấm dịch thuốc đắp lên vùng bị chai, cố định cho đến khi khô thì thôi, mỗi ngày làm 1 lần, thường sau 5 đến 7 ngày là khỏi.


                                                                                             Hoàng Khánh Toàn

Thứ Năm, 12 tháng 5, 2016

ĐÔNGY TRỊ LIỆU BÊNH HÔ HẤP TRẺ EM

ĐÔNG Y TRỊ LIỆU BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP TRẺ EM


     Bệnh lý đường hấp ở trẻ em là hết sức thường gặp, phức tạp và dễ gây biến chứng, thậm chí có thể tử vong. Có thể kể ra những căn bệnh chính như viêm đường hô hấp trên,  viêm khí phế quản cấp tính, viêm phổi, viêm phế quản thể hen, hen phế quản…Với những tiến bộ khoa học y học vượt bậc, tây y đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc phòng chống bệnh lý đường hô hấp cho trẻ. Tuy nhiên, với không ít trường hợp, ở trong những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, đông y vẫn có một vai trò quan trọng trên cơ sở thực hành  nhiều biện pháp dùng thuốc và không dùng thuốc theo quan điểm “biện bệnh luận trị” hoặc “biện chứng luận trị”, trong đó phương thức biện chứng luận trị vẫn là cơ bản.

1. Viêm đường hô hấp trên cấp tính
     Viêm đường hô hấp trên cấp tính  không phải là một bệnh đơn lẻ mà là tổng hợp các bệnh do bị cảm lạnh, viêm mũi, viêm họng, viêm xoang, viêm thanh quản….với triệu chứng dể nhận biết như sốt cao, hắt hơi sổ mũi, chảy nước mũi, đau rát họng, ho, khàn tiếng, đau mỏi toàn thân….Trong đông y, nhóm bệnh này thuộc phạm vi các chứng như cảm mạo, khái thấu, nhũ nga, hầu tý…với nguyên nhân chủ yếu là do phong hàn, phong nhiệt gây nên. Chẩn trị cụ thể như sau :
* Với thể Ngoại cảm phong hàn
- Triệu chứng : Sợ lạnh, không ra mồ hôi, đau đầu, nghẹt mũi, chảy nước mũi, ngứa họng, ho, không sốt hoặc sốt nhẹ , lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch khẩn
- Phép chữa : Tân ôn giải biểu, tuyên phế tán hàn
- Bài thuốc : Tô kiều giải biểu thang gồm các vị : tô diệp 6g, kinh giới 6g (cho sau), phòng phong 6g, kim ngân hoa 10g, liên kiều 10g, cát cánh 8g, tiền hồ 8g, cam thảo 3g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Ngoại cảm phong nhiệt
- Triệu chứng : Phát sốt, ra mồ hôi, nghẹt mũi, chảy nước mũi, đau đầu, đau mình mẩy, hầu họng đỏ đau, ho khạc đờm vàng, mặt đỏ, họng khô, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch phù sác.
- Phép chữa : Tân lương giải biểu, tuyên phế chỉ khái lợi hầu
- Bài thuốc : (1) Nếu họng đau nhiều, sốt cao dùng bài Liên kiều tán gia giảm gồm : liên kiều 10g, kim ngân hoa 10g, cát cánh 8g, bạc hà 5g, trúc nhự 6g, kinh giới 6g (cho sau), đạm đậu xị 6g, ngưu bàng tử 5g, cam thảo 5g, bản lam căn 10g, hoàng cầm 7g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. (2) Nếu ho nhiều dùng bài Tang cúc ẩm gia giảm gồm : tang diệp 10g, cúc hoa 10g, liên kiều 10g, hạnh nhân 8g, cát cánh 8g, bạc hà 5g (cho sau), cam thảo 3g, bản lam căn 10g, hoàng cầm 7g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Kiêm chứng
     Bất luận là ngoại cảm phong hàn hay phong nhiệt nếu có kiêm các chứng đàm, trệ hoặc co giật thì gia thêm các vị thuốc, cụ thể như sau :
+ Ngoại cảm kiêm đàm có ho khạc đờm nhiều, tiếng ho trầm nặng, khàn tiếng, đại tiện táo, tiểu tiện vàng gia thêm qua lâu nhân 10g, đông qua nhân 10g, sa sâm 12g, mạch môn 8g, bối mẫu 6g.
+ Ngoại cảm kiêm trệ có hiện tượng bụng chướng đầy, chán ăn, buồn nôn và nôn ra nước chua, đi lỏng, mùi chua và khó chịu, hơi thở hôi gia thêm hoắc hương 6g, (cho sau), chỉ xác 6g, lai phục tử 10g, cốc nha 12g
+ Ngoại cảm kiêm co giật gia thêm câu đằng 8g, thuyền thoái 5g, linh dương cốt 10g, (sắc trước), toàn yết 3g.

2. Viêm khí phế quản cấp tính
     Trong đông y, viêm khí phế quản cấp tính thuộc phạm vi chứng khái thấu thường do phong hàn và phong nhiệt gây nên. Chẩn trị cụ thể như sau :
* Với thể Phong hàn khái thấu
- Triệu chứng : Ho nhiều, khạc đờm trong loãng, chảy nước mũi trong, sợ lạnh, không vã mồ hôi, sốt, đau đầu, ngứa họng, mình mẩy đau nhức nặng nề, chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch nhu khẩn\
- Phép chữa : Sơ phong tán hàn, tuyên phế chỉ khái, hóa đàm
- Bài thuốc : Dùng bài Chỉ khái tán gia giảm gồm : tử uyển 8g, cát cánh 8g, bạch tiền 8g, bách bộ 10g, kinh giới 6g (cho sau), trần bì 3g, bán hạ chế 8g, ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, cam thảo 3g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Phong nhiệt khái thấu
- Triệu chứng : Phát sốt, ho tiếng nặng, đờm nhiều vàng dính và khó khạc, miệng khô họng đau, mồ hôi dâm dấp, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch phù sác
- Phép chữa : Sơ phong thanh nhiệt, tuyên phế chỉ khái
- Bài thuốc : Dùng bài Tang cúc ẩm hợp với bài Ma hạnh thạch cam thang gia giảm, gồm các vị : ma hoàng 3g, thạch cao 18g, hạnh nhân 8g, cam thảo 5g, hoàng cầm 8g, liên kiều 10g, cát cánh 8g, qua lâu nhân 10g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.

3. Viêm phổi
     Trong đông y, viêm phổi thuộc phạm vi các chứng như phong ôn, khái suyễn, mã tỳ phong…với nguyên nhân là do chính khí suy nhược, công năng tạng phủ rối loạn khiến tà khí bên ngoài xâm nhập sâu vào phần “lý” (bên trong) mà gây thành bệnh. Chẩn trị cụ thể như sau :
* Với thể Phong tà bế phế
- Triệu chứng : Phát sốt, ho, khó thở, khạc đờm trắng loãng, không có mồ hôi, không khát, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù khẩn hoặc phù sác.
- Phép chữa : Tân ôn giải biểu, tuyên phế hóa đàm
- Bài thuốc : Dùng bài Tam ảo thang gia giảm gồm : ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, trần bì 3g, bán hạ chế 8g, kinh giới tuệ 6g (cho sau), bạch giới tử 8g, lai phục tử 10g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Phong nhiệt bế phế
- Triệu chứng : Sốt cao, ho nhiều, khó thở, vã mồ hôi, miệng khát, ngực đau, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác
- Phép chữa : Tân lương giải biểu, tuyên phế hóa đàm
- Bài thuốc : Dùng bài Ma lâu thang gia giảm gồm : ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, thạch cao 12g, cam thảo 5g, qua lâu nhân 10g, lai phục tử 10g, hoàng cầm 10g, liên kiều 10g, săc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Phong ôn bế phế
- Triệu chứng : Ho và khó thở nhiều, tắc mũi, sốt cao, vã mồ hôi, phiền khát, đau ngực, môi miệng xanh tím, đờm vàng dính, lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch sác.
- Phép chữa : Thanh nhiệt giải biểu, tuyên phế bình suyễn
- Bài thuốc : Dùng bài Ngũ hổ thang hợp với Tam hoàng thạch cao thang gia giảm gồm các vị : ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, thạch cao 12g, cam thảo 5g, hoàng cầm 10g, hoàng liên 3, ngưu bàng tử 6g, lai phục tử 10g, tang bạch bì 10g, hoàng bá 8g, sắc uống mỗi ngày 1 thang
* Với thể Đàm nhiệt bế phế
- Triệu chứng : Ho và khó thở nhiều, sốt cao, môi khô miệng khát, khạc đờm nhiều màu vàng và dính, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu vàng dính, mạch khẩn sác.
- phép chữa : Thanh nhiệt tuyên phế, dục đàm bình suyễn
- Bài thuốc : Dùng bài Ma hạnh thạch cam thang hợp với Đình lịch đại táo tả phế thang gia giảm gồm : ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, thạch cao 15g, cam thảo 5g, ngư tinh thảo 15g, ngưu bàng tử 6g, thiên trúc hoàng 8g, tang bạch bì 10g, hầu táo tán 1g (uống cùng nước thuốc sắc), sắc uống mỗi ngày 1 thang, uống thêm trúc lịch lượng vừa đủ.

4. Viêm phế quản thể hen và hen phế quản
     Trong đông y, hai bệnh lý này thuộc phạm vi các chứng như háo chứng, suyễn chứng, nguyên nhân do chính khí hư suy, công năng tạng phủ rối loạn, đặc biệt là Phế, Tỳ và Thận, tà khí thừa cơ xâm nhập mà gây nên bệnh. Chẩn trị cụ thể như sau:
* Trong giai đoạn phát bệnh
- Với thể Hàn chứng
+ Triệu chứng : Ho và khó thở thành cơn, có khi phải ngồi dậy để thở, có nhiều tiếng rít trong khí quản, đờm trong loãng, sắc mặt nhợt nhạt, tay chân lạnh, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng loãng, chất lưỡi nhợt, rêu trắng mỏng, mạch hoạt khẩn.
+ Phép chữa : Ôn phế tán hàn, giáng khí bình suyễn
+ Bài thuốc : Dùng bài Tiểu thanh long thang hợp Tam tử dưỡng tân thang gia giảm gồm : can khương 1,5g, quế chi 3g, ma hoàng 3g, bạch thược 10g, tế tân 1,5g, bán hạ chế 8g, ngũ vị tử 5g, tô tử 8g, bạch giới tử 5g, lai phục tử 10g, cam thảo 5g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
- Với thể Nhiệt chứng
+ Triệu chứng : Ho và khó thở thành cơn, nhiều đờm rãi, có thể có sốt, đờm vàng, tức ngực buồn phiền, khát nước muốn uống, tiểu tiện vàng, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ, rêu vàng dính, mạch hoạt sác.
+ Phép chữa : Thanh nhiệt tuyên phế, hóa đàm định suyễn
+ Bài thuốc : Dùng bài Định suyễn thang gia thạch cao gồm các vị ma hoàng 3g, ngân hạnh 10g, hoàng cầm 8g, tang bạch bì 10g, tô tử 8g, bán hạ chế 10g, khoản đông hoa 10g, hạnh nhân 8g, cam thảo 5g, thạch cao 15g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Trong giai đoạn hồi phục
- Triệu chứng : ho và khó thở nhẹ, khạc đờm loãng, sắc mặt không tươi, mệt mỏi vô lực, cơ thể tiều tụy gầy yếu, ăn kém, bụng đầy, đại tiện lỏng loãng, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch nhu vô lực.
- Phép chữa : Bổ phế kiện tỳ ôn thận
- Bài thuốc : Dùng bài Bổ phế kiện tỳ ôn thận thang gồm : đẳng sâm 10g, thục địa 10g, ngũ vị tử 3g, khoản đông hoa 8g, bạch linh 12g, hoài sơn 12g, hồ đào nhục 12g, thỏ ty tử 10g, , địa long 6g, chích thảo 3g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
     Ngoài việc dùng thuốc, với tất cả các bệnh lý đường hô hấp trẻ em đều có thể kết hợp với châm cứu, xoa bóp, tập thở, sử dụng các món ăn-bài thuốc phù hợp với tuổi, thể chất và mức độ bệnh.

                                                                                  Hoàng Khánh Toàn





Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

Người bình thường có nên dùng thuốc bổ đông y

NGƯỜI BÌNH THƯỜNG CÓ NÊN DÙNG THUỐC BỔ ĐÔNG Y ?



    Thông thường mà nói, khi cơ thể suy nhược vì đau ốm thì người ta mới tìm đến các thầy lang để cắt thuốc bồi bổ nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ cho cơ thể. Vậy thì, những người vô bệnh tật có nên dùng thuốc bổ của y học cổ truyền không? Câu trả lời cần khẳng định là có, vì theo quan niệm của y học cổ truyền, “ bổ” có nghĩa là bù đắp, bổ sung những cái mà cơ thể đang thiếu. Âm hư thì bổ âm, dương hư thì bổ dương, tâm huyết hư thì bổ tâm huyết, tỳ khí hư thì bổ tỳ khí…nghĩa là phần nào, bộ phận nào của cơ thể hư thiếu, sút kém thì phải bằng mọi cách bồi phụ cho đầy đủ để nhằm mục đích lập lại và duy trì thế cân bằng động cho cơ thể. Với cách hiểu này thì người vô bệnh cũng thường xuyên ở trạng thái thiếu bởi nhiều nguyên nhân khác nhau:
      * Do bẩm thụ tiên thiên bất túc, nghĩa là từ nhỏ cơ thể vốn đã hư yếu toàn thân hoặc một bộ phận nào đó, khi trưởng thành mặc dù không có bệnh tật cụ thể nhưng vẫn rất cần bồi bổ thường xuyên. Vả lại, con người ta sinh ra, thể chất và khí chất thường thiên lệch về một mặt nào đó, có người thiên âm hoặc thiên dương, có người thiên  hàn hoặc thiên nhiệt…, mà sự thiên lệch có thể thuộc hư hoặc thuộc thực, hư thì phải bồi bổ cho đầy đủ, thực thì phải bỏ bớt đi để tránh thái quá. Bởi thế, mặc dù vô bệnh nhưng những người thiên hư vẫn cần phải bồi bổ cho hợp lý.
       * Do sự tiêu hao không ngừng để duy trì hoạt động sống của cơ thể. Quá trình này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, tình trạng dinh dưỡng, điều kiện sống, khí hậu, môi trường…Tuỳ theo đặc điểm của từng yếu tố mà sự tiêu hao mang tính chất khác nhau. Theo quan niệm của y học cổ truyền, từ 40 tuổi trở đi âm khí trong cơ thể con người đã hao đi một nửa; nữ giới phần huyết dễ hư, nam giới phần khí dễ hư ; người béo bệu dương khí dễ hư, người gầy khô âm huyết dễ hư ; người sống ở xứ nóng dễ hao tổn phần âm, người sống ở xứ lạnh dễ hao tổn phần dương; “xuân hạ dưỡng dương, thu đông dưỡng âm”, nghĩa là mùa xuân và mùa hạ cần chú ý bổ dưỡng phần dương, mùa thu và mùa đông cần chú ý bổ dưỡng phần âm…
       * Do nhu cầu phải thường xuyên nâng cao sức đề kháng để phòng chống bệnh tật, y học cổ truyền gọi là bồi bổ chính khí. Điều này đặc biệt quan trọng đối với trẻ em, người già, phụ nữ sau khi sinh con, người mới ốm dậy. Những đối tượng này tuy vô bệnh nhưng cân bằng âm dương, khí huyết dễ bị rối loạn, khả năng chống đỡ bệnh tật hạn chế, rất cần phải bồi bổ để nâng cao chính khí nhằm đạt mục đích “ chính khí tồn nội, tà bất khả can”, nghĩa là sức đề kháng của cơ thể luôn luôn sung mãn thì các tác nhân gây bệnh không thể xâm nhập và phát huy tác hại được.
      * Do phải đáp ứng thường xuyên cho nhu cầu phát triển của cơ thể. Điều này đặc biệt quan trọng đối với lứa tuổi vị thành niên, phụ nữ có thai và đang cho con bú. Những đối tượng này rất cần phải bồi bổ một cách toàn diện và liên tục nhằm cung cấp đầy đủ và kịp thời các yếu tố cần thiết cho sự phát triển và hoàn thiện cơ thể.
      * Do phải đáp ứng các nhu cầu đặc biệt khác như nâng cao hiệu suất công tác, cải thiện khả năng sinh lý, kéo dài tuổi thọ và nâng cao chất lượng cuộc sống, nhu cầu thẩm mỹ…
     Như vậy, xét cho cùng, theo quan niệm của y học cổ truyền, con người ta không khi nào là không phải tiến hành bồi bổ. Mỗi ngày ăn cơm ba bữa chẳng phải cũng chính là phương thức bồi bổ cơ bản nhất hay sao ? Tuy nhiên, điều quan trọng là nên lựa chọn cách thức bồi bổ như thế nào cho có hiệu quả nhất, vấn đề này xin được bàn đến cùng độc giả trong bài viết tiếp theo.


                                                                                 Hoàng Khánh Toàn