Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực cổ truyền. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực cổ truyền. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2015

Thức ăn kiêng kị khi phối hợp

THỨC ĂN KIÊNG KỊ KHI PHỐI HỢP


     Trong ẩm thực cổ truyền phương Đông, việc phối hợp các loại thức phẩm với nhau có ý nghĩa hết sức quan trọng, không những giúp cho mọi đồ ăn thức uống có thể phát huy tối đa hiệu quả bổ dưỡng cho cơ thể và làm giảm thiểu các tác dụng không mong muốn mà còn phòng chống một cách tích cực các tật bệnh “theo miệng mà vào” (bệnh tòng khẩu nhập). Tuy nhiên, người xưa còn rất chú trọng đến vấn đề kiêng kị giữa các loại thực phẩm, nghĩa là khi ăn thứ này thì không nên ăn thứ kia và ngược lại. Bài viết này xin được giới thiệu một vài ví dụ điển hình trong vô số những kinh nghiệm của tiền nhân về vấn đề này để độc giả tham khảo :
      - Không nên ăn khoai lang cùng các thức ăn có vị chua.
- Bí đao không nên ăn chung cùng các loại cá.
- Mướp đắng không nên ăn cùng với cá sa-đin và dễ gây bệnh mày đay.
- Không dùng bí đỏ cùng thịt dê, thịt cừu vì dễ gây cước khí.
- Cải xoong không nên nấu hoặc ăn cùng cá diếc.
- Không nên ăn cà cùng ba ba, chuối và cá quả. Cũng không nên ăn cùng rong biển vì sẽ làm mất hết chất i-ôt có trong rong biển.
- Không ăn ớt cùng gan dê, đu đủ và củ cải.
- Thịt lợn không nên ăn cùng kiều mạch vì dễ gây rụng tóc, cũng không nên ăn cùng thịt chim bồ câu và cá diếc vì dễ gây đầy bụng.
- Mật lợn không dùng cùng quả hồng vì có thể bị sỏi thận.
- Không ăn bong bóng lợn cùng quả thông 5 lá và sẽ dẫn đến tỳ hư, hoạt tinh.
- Tuỵ lợn không ăn cùng hạt dẻ vì dễ gây táo bón.
- Ruột già lợn không nên ăn cùng khoai môn (dễ gây tiêu chảy) và thịt thỏ (dễ gây đầy bụng, đau bụng, chậm tiêu).
- Không ăn tiết lợn cùng với rau chân vịt và các loại hoa quả có độ chua cao vì có thể gây sỏi tiết niệu.
- Thịt dê không nên ăn cùng kiều mạch và đậu đỏ.
- Không ăn bồ dục dê cùng đậu đỏ và thịt gà rừng.
- Thịt bò không nên ăn cùng hạt dẻ, hạt kê, mật ong và cá.
- Thịt chó kị hạnh nhân, đậu xanh, cá chép và lươn trạch. Sau khi ăn thịt chó không nên uống trà đặc.
- Thịt thỏ không nên ăn cùng thịt vịt vì dễ gây tiêu chảy. Thịt thỏ còn kị cải trắng và kiều mạch.
- Thịt chim cút không nên ăn cùng thịt lợn vì có thể làm xạm da mặt.
- Thịt vịt không nên ăn cùng ba ba, hồ đào, mộc nhĩ và kiều mạch.
- Hạt sen không ăn cùng cua, thịt rùa vì dễ bị ngộ độc.
- Quả râu không nên ăn cùng với bánh bao, bánh hấp, trứng vịt. Cũng không nên ăn cùng rau hẹ vì có thể gây tiêu chảy.
- Quả lựu không được ăn cùng đồ biển.
- Quả trám không được ăn cùng hành, hẹ vì dễ gây tiêu chảy. Cũng không nên ăn cùng với cua và dễ gây viêm dạ dày.
- Hạch đào không nên ăn cùng đậu nành và các chế phẩm từ đậu nành.
- Đại táo không nên ăn cùng cá trắm đen, lươn, trạch, cá nheo, đồ biển và hành tây, hành ta.
- Không nên ăn nhiều nho cùng với đồ biển, cá và nhân sâm.
- Sơn tra không nên ăn cùng hành và tỏi.
- Chân gấu không được ăn cùng cá nheo, cá trắm đen.
- Thịt hươu không nên ăn cùng thịt vịt, cá, tôm.
- Nấm đầu khỉ không được ăn cùng thịt chim bồ câu, thịt mèo.
- Tổ yến không nên ăn cùng thịt chó và thịt dê.
- Thịt bồ câu không nên ăn cùng gan lợn, thịt lợn vì dễ gây đầy chướng. Cũng không nên ăn cùng cá diếc, tôm và có thể bị mày đay.
- Thịt chim sẻ không nên ăn cùng gan lợn và đồ biển.
- Mộc nhĩ đen không nên ăn cùng trứng vịt và đồ biển.
- Mộc nhĩ trắng không nên ăn cùng đồ biển.
- Không ăn tôm cùng thịt dê.
- Thịt ba ba và rùa không nên ăn cùng thịt mèo, thịt thỏ, thịt vịt, trứng vịt và rau sam.
- Lươn không nên ăn cùng thịt chó. Đặc biệt lươn xanh không được ăn cùng rau kinh giới.
- Cá chép không ăn cùng thịt chó.
- Cá diếc không ăn cùng gan lợn, rau cải và củ mài.
- Cá chạch không nên ăn cùng thịt chó.
- Cua không nên ăn cùng rau kinh giới và quả hồng.
- Ốc biêu không nên ăn cùng bí đao, mướp, mộc nhĩ, đường và thịt tắc kè.
- Ốc sên không nên ăn cùng cua vì dễ gây mày đay.
     Hiện nay, dưới ánh sáng của khoa học hiện đại, nhiều vấn đề kiêng kị nêu trên đã được làm sáng tỏ. Tuy nhiên, cũng vẫn còn rất nhiều vấn đề chưa được chứng minh. Người xưa có câu : “Tri kỳ nhiên, bất tri kỳ sở hữu nhiên” (biết là thế nhưng không biết vì sao như thế). Nhiệm vụ của chúng ta hiện nay là phải bằng khoa học kỹ thuật hiện đại để “Tri kỳ sở hữu nhiên”.

                                                                                 Hoàng Khánh Toàn



Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2014

Dưỡng sinh ăn uống mùa thu

DƯỠNG SINH ĂN UỐNG MÙA THU



     Mùa thu có ba tháng, bắt đầu từ tiết Lập thu trải qua các tiết Xử thử, Bạch lộ, Thu phân, Hàn lộ, Sương giáng và Lập đông, là mùa vạn vật thành thục, cây trái và mùa màng đến kỳ thu hoạch. Tiết thu, dương khí dần dần thu liễm bế tàng, âm khí từ từ tăng trưởng, thời tiết chuyển dần từ nóng sang lạnh, là giai đoạn quá dộ của “dương tiêu âm trưởng”. Lúc này, mưa ít gió nhiều, độ ẩm trong không khí giảm đi, “Táo” với đặc tính khô hanh là chủ khí. Thu táo dễ làm hao tổn chất dịch trong cơ thể gây nên các hiện tượng miệng, môi, mũi, họng đều khô, da dẻ khô ngứa thậm chí nứt nẻ, râu tóc không nhuận, đại tiện dễ táo. Khí táo mùa thu được phân ra Ôn táo và lương táo. Đầu thu, khí nóng của mùa hạ chưa hết kết hợp với khí táo mà thành Ôn táo ; cuối thu, khí lạnh tăng dần kết hợp với khí táo mà thành Lương táo. Từ mùa hạ nóng nực chuyển sang mùa thu mát mẻ trong người cảm thấy dễ chịu hơn, tình trạng ăn uống không ngon miệng trong mùa hạ mất dần, khẩu vị và tinh thần được phục hồi khiến cho mùa thu trở thành một mùa bồi bổ khá tốt trong năm.
      Ăn uống vào mùa thu, trước hết cần phải tuân thủ nguyên tắc “thu đông dưỡng âm”, “phòng táo giữ âm, tư thận nhuận phế”, nghĩa là nên bổ sung đầy đủ tân dịch và trọng dụng những thực phẩm có công dụng dưỡng âm nhuận táo. Đầu thu ôn táo nên chọn những thứ có tính mát để thanh nhiệt dưỡng âm, sinh tân dịch như củ cải, giá đỗ, củ đậu, ngó sen, khoai sọ, khoai môn, củ từ, mía, lê, táo, hồng xiêm, nho, trứng vịt, thịt thỏ, tiểu mạch, bách hợp, trà mạch môn...Cuối thu lương táo nên chọn dùng những thực phẩm có tính bình hoà để tư âm dưỡng huyết nhuận táp như củ mài, vừng, mộc nhĩ trắng (ngân nhĩ), thịt rùa, thịt ba ba, sò, gà ác, tổ yến, sữa bò, mật ong, nước dâu, kỷ tử, hà thủ ô...Sách ẩm thực chính yếu viết : “Thu khí táo, nghi thực ma dĩ nhuận khí táo” (mùa thu khí trời khô hanh nên ăn nhiều vừng để nhuận táo”. Để bồi bổ tân dịch, sách Y học nhập môn khuyên nên trọng dụng các loại cháo như cháo bách hợp hạt sen, cháo hồng táo gạo nếp, cháo đường phèn, cháo sa sâm, cháo hoàng tinh...với phương thức “sáng sớm dùng cháo có tác dụng tốt cho quá trình trao đổi chất, lợi cho dạ dày, sinh tân dịch...”. Theo cổ nhân, ăn cháo vào mùa thu rất có ích cho sức khoẻ, nhất là vào tiết đầu thu khi khí trời vẫn còn nóng ẩm dễ gây ra các bệnh lý đường tiêu hoá. Sách Tuỳ tức cư ẩm thực phổ  viết : “Gạo tẻ vị ngọt tính bình, hợp với việc nấu thành cháo, cháo là một trong những đồ ăn bổ dưỡng tốt nhất”
     Thứ đến, theo học thuyết Ngũ hành, vị chua vào Can, vị cay vào Phế. Phế thuộc Kim, Can thuộc Mộc. “Vạn vật thu thu, phế khí kim vượng”, nghĩa là, mùa thu vạn vật thu vào, khí kim ở Phế vượng thịnh. Nếu ăn uống nhiều đồ có vị cay thì sẽ trợ giúp cho phế khí khiến cho phế khí càng thịnh, phế kim khắc can mộc thái quá dẫn đến công năng của tạng Can bị rối loạn. Vì vậy, cổ nhân khuyên về mùa thu nên ăn uống “thiểu tân tăng toan” (ít cay nhiều chua”, cần trọng dụng nhiều các thực phẩm có vị chua nhằm tăng cường chức năng của Can và phòng ngừa phế khí quá thịnh làm hại đến Can và dùng ít thực phẩm có vị cay như hành, gừng, tỏi, ớt, hạt tiêu...Sách Kim quỹ yếu lược viết : “Thu bất tư phế” (mùa thu không nên ăn những thứ bổ phế) cũng là nằm trong ý nghĩa sâu xa này.
     Thêm nữa, mùa thu là giai đoạn quá độ từ nóng chuyển sang lạnh vì vậy không nên ăn quá nhiều đồ sống lạnh hoặc bổ béo khó tiêu dễ gây thương tổn Tỳ và Vị. Tôn Tư Mạo, danh y đời Đường (Trung Quốc) đã viết : “Thu đông gian, noãn lý phúc” (giữa mùa thu và mùa đông chú ý ôn ấm vùng bụng). Tăng Đình Đống, y gia đời Thanh cũng cho rằng : “Hạ chí dĩ hậu, thu phân dĩ tiền...tối đương điều đình tỳ vị, vật tiến phí nồng”.
     Cuối cùng, mùa thu ăn uống bồi bổ nên điều hoà (bình bổ) vì thời tiết mát mẻ, âm dương tương đối cân bằng, đồ ăn thức uống không nên quá nóng và quá lạnh. Ví như về mùa hạ các loại dưa như dưa hấu, dưa chuột, dưa gang...là thực phẩm thượng hạng vì có tác dụng thanh nhiệt tiêu thử mạnh, nhưng sau tiết Lập thu thì bất luận loại dưa nào dù ngon đến mấy cũng không nên ăn nhiều vì dễ làm cho dương khí của Tỳ Vị hư hao. Sách thuốc cổ đã viết : “Thu qua hoại đỗ” (mùa thu ăn dưa thì có hại cho đường tiêu hoá).
     Mùa hạ đã qua, mùa thu đang tới, nhắc lại một vài quan niệm về ăn uống trong mùa thu của cổ nhân những mong chúng ta hiểu thêm về một đôi nét đặc sắc trong khoa học và nghệ thuật ẩm thực phương Đông xa xưa. Vẫn biết rằng, trong thời buổi công nghiệp hiện nay, khi hội nhập và hoà đồng đang là xu thế của thời đại, nhiều nếp cũ không còn giữ nữa, người ta có thể ăn dưa hấu quanh năm, thịt chó, thịt dê và các loại rượu mạnh được tiêu thụ bốn mùa, đồ ăn Âu Mỹ không còn là của hiếm...Nhưng, ngẫm cho kỹ, con người ta đâu có dễ gì thoát khỏi sự chi phối của quy luật tạo hoá, bởi vậy dưỡng sinh ăn uống theo mùa, xem ra, vẫn là điều khiến chúng ta phải lưu tâm nghiên cứu.


                                                                                             


Đàn ông m,ãn kinh ăn gì ?

ĐÀN ÔNG “MÃN KINH” NÊN ĂN GÌ ?



     Ở vào độ tuổi 50 - 65, dù muốn hay không, người đàn ông nào cũng phải đối mặt với những “cơn khủng hoảng” tâm sinh lý ở các mức độ khác nhau. Giai đoạn “xuống sắc” này được nhiều người định danh bằng một cụm từ khá thú vị là  “Hội chứng mãn kinh đàn ông” (Male climacteric syndrome). Trong y học cổ truyền, trạng thái này đã được các y thư cổ đề cập đến từ rất sớm với cơ chế bệnh sinh chủ yếu là do Thiên quý, Tinh khí Thận khí suy giảm. Có thể hiểu một cách đơn giản đó là sự biến đổi theo chiều hướng đi xuống của hệ thống nội tiết tố, trong đó vai trò của các hormone sinh dục có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
     Để làm chậm quá trình này, các biện pháp của y học phương Đông là hết sức phong phú như dùng thuốc, châm cứu bấm huyệt, tập luyện khí công dưỡng sinh, trong đó có một phương thức khá đơn giản và độc đáo là lựa chọn và  sử dụng các thực phẩm thông dụng hàng ngày một cách hợp lý dựa trên quan điểm “biện chứng luận trị” của y học cổ truyền cho từng thể bệnh khác nhau. Cụ thể như sau :

   @ Thể Can thận âm hư : được biểu hiện bằng các triệu chứng như người gầy, hay hoa mắt chóng mặt, tính tình dễ cáu giận, lưng đau gối mỏi, tai ù tai điếc, trí nhớ giảm sút, lòng bàn tay bàn chân nóng, bức bối trong ngực, hay có cảm giác sốt nhẹ về chiều, môi khô miệng khát, dương vật dễ cương nhưng nhanh xỉu, tinh dịch bài tiết chậm và ít, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, lưỡi đỏ và ít rêu. Nên trọng dùng các thực phẩm sau :
     + Vừng đen : vị ngọt, tính bình, có công dụng bổ can thận, nhuận ngũ tạng, làm khoẻ gân cốt, đen râu tóc và chống lão hoá. Dân gian thường dùng vừng đen phối hợp với hồ đào nhục và tang thầm lượng bằng nhau, tán nhuyễn rồi chưng với mật ong thành dạng cao lỏng, uống khi bụng đói, mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 2 thìa canh hoặc vừng đen (xát bỏ vỏ, đồ chín) 1 phần phối hợp với lá dâu non (hái lúc mặt trời chưa mọc) 2 phần, hai thứ sấy khô tán mịn, luyện với mật ong thành dạng viên to bằng hạt ngô đồng, uống mỗi ngày 100 viên với nước ấm vào lúc đói.
     + Hoài sơn (củ mài) : vị ngọt, tính bình, có công dụng tư thận bổ phế, kiện tỳ ích tinh. Sách Bản thảo chính viết : “Sơn dược năng kiện tỳ bổ hư, tư tinh cố thận, trị chư hư bách tổn, trị ngũ lao thất thương” (Củ mài có khả năng bổ tỳ thận và ích tinh, trị được mọi chưng hư tổn). Sách Bản thảo kinh độc cũng cho rằng hoài sơn “năng bổ thận điền tinh, tinh túc tắc âm cường, mục minh, nhĩ thông”.
     + Ô tặc ngư (cá mực) : vị mặn, tính bình, có công dụng tư âm dưỡng huyết. Sách Biệt lục cho rằng cá mực có tác dụng “ích khí cường trí”. Sách Y lâm cải thác cũng đã viết : “Ô tặc ngư bổ tâm thông mạch, hoà huyết thanh thận, khứ nhiệt bảo tinh”. Bởi vậy, với đàn ông “mãn kinh” thuộc thể Can thận âm hư, cá mực là thức ăn rất có lợi.
     + Trai hến : vị ngọt mặn, tính lạnh, có công dụng tư âm thanh nhiệt, dưỡng can minh mục. Sách Tuỳ tức cư ẩm thực phổ viết : “Bạng nhục (thịt trai) thanh nhiệt tư âm, dưỡng can lương huyết, minh mục định cuồng”. Sách Bản thảo tái tân cũng cho rằng trai hến có khả năng “trị can nhiệt, thận nhược, thanh lương chỉ khát”. Theo dinh dưỡng học hiện đại, trong trai hến có chứa nhiều kẽm nên rất có lợi cho việc phòng chống u phì đại tiền liệt tuyến lành tính, căn bệnh rất hay gặp ở đàn ông trung lão niên.
     + Tang thầm (quả dâu chín) : vị ngọt, tính lạnh, có công dụng bổ can ích thận, tư âm minh mục. Sách Bản thảo kinh sơ viết : “Tang thầm cam hàn, ích huyết nhi trừ nhiệt, vị lương huyết bổ huyết ích âm chi dược. Ngũ tạng giai thuộc âm, ích âm cố lợi ngũ tạng. Thoái nhiệt âm sinh, tắc can tâm vô hoả, thần thanh tắc thông minh nội phát”. Dân gian thường dùng tang thầm dưới dạng ngâm đường để pha nước giải khát, ngâm rượu hoặc chế thành mứt dâu.
      Ngoài ra, các thực phẩm có công dụng bổ can thận âm khác như bồ dục lợn, thịt vịt, ba ba, cá quả, hàu, ếch, hải sâm, hà thủ ô, kỷ tử, ngân nhĩ (mộc nhĩ trắng), tổ yến...đều rất thích hợp với thể bệnh này.

   @ Thể Tỳ thận dương hư : được biểu hiện bằng các triệu chứng như người béo trệ, dễ mệt, sợ lạnh, tay chân lạnh, ăn kém, đại tiện lỏng loãng, tiểu tiện trong dài, hay đi tiểu đêm, suy giảm ham muốn tình dục, tinh dịch lạnh loãng, miệng nhạt, lưỡi nhợt ướtNên trọng dùng các thực phẩm sau :
     + Thịt dê : vị ngọt, tính ấm, có công dụng ích thận khí, ôn thận dương, bổ trung khí và làm ấm tỳ vị. Sách Biệt lục viết : “Dương nhục chủ hư lao hàn lãnh, bổ trung ích khí”. Các y thực gia cổ cũng đều ca ngợi công dụng của thịt dê trong việc bồi bổ thận khí, làm mạnh dương đạo, chữa trị các chứng bệnh hư hàn. Bởi vậy, thịt dê là một trong những thực phẩm rất hữu ích cho đàn ông “mãn kinh” thuộc thể Tỳ thận dương hư.
     + Thịt chó : vị mặn, tính ấm, có công dụng bổ trung ích khí, ôn thận trợ dương. Y thực gia trứ danh đời Đường (Trung Quốc) cho rằng thịt chó có khả năng “bổ huyết mạch, hậu tràng vị, thực hạ tiêu, điền tinh tuỷ” (bồi bổ huyết mạch, làm khoẻ dạ dày ruột, làm mạnh 1/3 dưới cơ thể, làm tăng tinh tuỷ). Sách Nhật hoa tử bản thảo cũng viết : “ Cẩu nhục (thịt chó) bổ vị khí, tráng dương, noãn yêu tất, bổ hư lao, ích khí lực”. Đối với đàn ông trung lão niên dương sự yếu đuối, hay đi tiểu đêm, đại tiện thường xuyên lỏng loãng, sợ lạnh thích ấm, thịt chó là thực phẩm rất phù hợp.
     + Đông trùng hạ thảo : vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ hư tổn, ích tinh khí, có lợi cho ngũ tạng và chống lão hoá. Sách Dược tính khảo viết : “Đông trùng hạ thảo bí tinh ích khí, chuyên bổ mệnh môn”. Mệnh môn, theo y học cổ truyền, là cái gốc của dương khí, là nhân tố cực kỳ quan trọng đối với sự sống, cho nên bổ được mệnh môn thì sẽ giúp cho tỳ dương và thận dương được phục hồi, nhờ đó mà cơ thể trở nên cường tráng.
     + Nhân sâm : vị ngọt hơi đắng, tính ấm, có công dụng đại bổ nguyên khí, cường tráng thể chất. Đây là một trong những vị thuốc quý giá của y học cổ truyền mà tác dụng bồi bổ đã được dược lý học hiện đại nghiên cứu và khẳng định. Dân gian thường dùng dưới dạng chế thành các món ăn - bài thuốc (dược thiện), trà dược hoặc tửu dược.
     Ngoài ra, ở thể bệnh này cũng nên trọng dụng một số thực phẩm có công dụng ôn bổ tỳ thận như thịt bò, gan bò, xương bò, xương dê, gan dê, ngẩu pín, thịt thỏ, thịt chịm sẻ, thịt chim cút, trứng gà, trứng chim cút, sữa dê, cá ngựa, hải sâm, hạt dẻ, nhục quế, nhục dung, đỗ trọng, toả dương, ba kích, dâm dương hoắc, nhau thai

   @ Thể Tâm khí hư : được biểu hiện bằng các triệu chứng như mệt mỏi, mất ngủ triền miên, hay mê mộng, dễ kinh sợ, suy giảm ham muốn tình dục, thậm chí sợ hãi, liệt dương, di mộng tinh, xuất tinh sớm, trí nhớ giảm sút, tâm thần bất định, ăn ngủ kém, lưỡi hồng nhạtNên trọng dùng các thực phẩm sau :
     + Hạt sen : vị ngọt, tính bình, có công dụng dưỡng tâm an thần, kiện tỳ ích thận. Nhà dược học vĩ đại Lý Thời Trân (đời Thanh,Trung Quốc) cho rằng hạt sen có khả năng “giao tâm thận, hậu tràng vị, cố tinh khí, cường cân cốt, bổ hư tổn” (Bản thảo cương mục). Bởi vậy, loại thực phẩm này rất hữu ích cho đàn ông “mãn kinh” thuộc thể Tâm khí hư. Dân gian hay dùng dưới dạng hầm với xương thịt, nấu chè hoặc làm thành các loại bánh.
     + Long nhãn : vị ngọt, tính ấm, có công dụng ích tâm kiện tỳ, bổ khí dưỡng huyết, an thần định trí. Sách Nhật dụng bản thảo viết : “Long nhãn ích trí định thần”. Sách Tuyền châu bản thảo cũng viết : “Long nhãn tráng dương ích khí, bổ tâm kiện tỳ”. Dân gian hay dùng dưới dạng làm mứt, nấu chè, ngâm rượu hoặc chế thành các loại nước giải khát.
      + Tim lợn : vị ngọt mặn, tính bình, có công dụng bổ hư, dưỡng tâm, an thần. Dân gian hay dùng dưới dạng hầm cách thuỷ với thần sa, chế thành các món ăn hoặc các món dược thiện. Điều cần lưu ý là : những người có rối loạn lipid máu thì nên dùng ở mức độ vừa phải theo hướng dẫn của thầy thuốc.
     Ngoài ra, với thể bệnh này nên trọng dụng một số thực phẩm khác như tổ yến, đậu tương, gạo nếp, đại táo, mộc nhĩ trắng, bá tử nhân, toan táo nhân, nhân sâm, nấm linh chi, đẳng sâm, cam thảo, bách hợp, nhau thai





Thứ Ba, 15 tháng 7, 2014

nước giải khát từ cây cỏ

NƯỚC GIẢI KHÁT, THANH NHIỆT TỪ CÂY CỎ, LỢI HAY HẠI ?


     Vào những ngày hè nóng nực, nhu cầu về nước uống của cơ thể là rất lớn. Thật khó có thể kể hết các loại nước giải khát mang tính công nghiệp đang lưu hành trên thị trường hiện nay, nhưng xu hướng lựa chọn và tự chế biến các đồ uống từ những cây cỏ quanh nhà, quanh vườn theo kinh nghiệm dân gian vẫn còn khá nhiều người ưa chuộng, đặc biệt là ở nông thôn. Có thể kể ra những thứ thông dụng như nước trà xanh, nước nụ hoặc lá vối, nước nhân trần, nước la hán, nước chó đẻ răng cưa, nước rau má, nước chè vằng, nước mía, nước cỏ ngọt, nước râu ngô, nước cúc hoa, nước hoa hòe, nước quả dứa dại, nước mạch môn, nước đậu đen sao cháy, nước khổ qua, nước bí đao...Người ta có thể dùng độc vị hoặc có thể dùng một vài vị phối hợp với nhau để tạo nên những thứ nước giải khát thơm ngon, dễ uống và làm tăng hiệu quả thanh nhiệt, giải độc, mát gan như hoa hòe với cúc hoa, đậu đen với mạch môn, nụ vối với la hán, râu ngô với quả dứa dại..., thậm chí có thể phối hợp khá nhiều vị với nhau để tạo nên các loại trà tam bảo, ngũ bảo, bát bảo rất hấp dẫn.
     Nhìn chung, các loại nước giải khát này đều không độc hại vì chúng được chế biến từ những cây cỏ mang tính thức ăn - vị thuốc và đã được sử dụng trong đời sống từ rất lâu đời. Theo dược học cổ truyền, tất cả các loại nước giải khát này đều có công dụng thanh nhiệt giải độc, lương huyết chỉ khát, thường được dùng để phòng ngừa và giải trừ tình trạng “tích nhiệt” trong cơ thể. Theo quan niÖm cña y häc cæ truyÒn, “nhiÖt” lµ mét trong nh÷ng nguyªn nh©n g©y bÖnh th­êng gÆp, nhiÖt nÆng h¬n ®­îc gäi lµ “ho¶”. NhiÖt ®­îc t¹o nªn tõ nhiÒu nguån : tõ ngoµi lµ do ngo¹i tµ x©m nhËp vµo bªn trong c¬ thÓ mµ ho¸ sinh, ®Æc biÖt lµ hai nh©n tè thö vµ thÊp th­êng gÆp vµo mïa hÌ, ®­îc gäi lµ “ngò khÝ ho¸ ho¶” ; tõ trong lµ do nh÷ng rèi lo¹n vÒ t×nh chÝ (yÕu tè tinh thÇn kinh) vµ c«ng n¨ng c¸c t¹ng phñ (yÕu tè chuyÓn ho¸) g©y nªn, ®­îc gäi lµ “ngò chÝ ho¸ ho¶” vµ “néi th­¬ng ho¸ ho¶”. TÝnh chÊt cña nhiÖt lµ nãng bøc, dÔ g©y hao tæn t©n dÞch vµ h×nh thÓ. Tuú theo vÞ trÝ t¸c ®éng mµ nhiÖt t¹o nªn c¸c bÖnh c¶nh l©m sµng kh¸c nhau : nhiÖt tÝch ë da (b× phu) g©y môn nhät, lë loÐt ; nhiÖt tÝch ë ®­êng h« hÊp (phÕ t¹ng) g©y ®au häng, viªm khÝ phÕ qu¶n, viªm phæi..., nhiÖt tÝch ë  ®­êng tiªu ho¸ (tú, vÞ, ®¹i trµng) g©y t­a l­ìi, loÐt miÖng, viªm d¹ dµy, loÐt hµnh t¸ trµng, t¸o bãn, trÜ h¹...Bëi vËy, c¸c lo¹i n­íc gi¶i nhiÖt d©n gian lµ hÕt søc cã ý nghÜa trong mïa hÌ vµ víi nh÷ng ng­êi cã thÓ chÊt “thiªn nhiÖt”
     Theo nghiên cứu hiện đại, các cây cỏ này đều có tác dụng giải nhiệt, kháng khuẩn, tiêu viêm ở các mức độ khác nhau. Ngoài ra, tùy từng loại còn có các tác dụng riêng biệt như nước hoa cúc làm hạ huyết áp, nước hoa hòe làm bền vững thành mạch máu, nước râu ngô và dứa dại lợi tiểu và làm tan sỏi đường tiết niệu, nước mạch môn, rau má và đậu đen bảo hộ tế bào gan, nước nụ vối kích thích tiêu hóa...Tuy nhiên, dù là thực phẩm đi nữa khi sử dụng các loại nước giải khát, thanh nhiệt này cũng cần phải chú ý một số vấn đề sau đây :
- Trước hết, liều lượng cần vừa phải, tránh lạm dụng quá mức, đặc biệt đối với trẻ em, người già và những người tỳ vị hư yếu dễ bị lạnh bụng, đi lỏng. Nếu có dùng cam thảo để tạo nên vị ngọt, dễ uống và điều hòa thì tuyệt đối không dùng quá nhiều, thông thường mỗi ấm trà chỉ cho vài ba lát là dược.
- Sau những bữa ăn có nhiều đồ sống lạnh thì nên giảm lượng các loại nước uống này để tránh gây rối loạn tiêu hóa.
- Khi chọn mua các cây cỏ này ở dạng khô thì phải tránh thứ bị ẩm mốc và đã để quá lâu, không còn hoạt chất có lợi. Tốt nhất là nên mua đồ tươi về nấu nước uống hoặc phơi sấy khô, bảo quản cẩn thận để dùng dần.
- Không nên uống các loại nước này quá nhiều vào buổi tối.
     Có thể nói, dùng cây cỏ làm nước giải khát theo kinh nghiệm dân gian là một thói quen tốt và đáng khích lệ vì loại đồ uống này rất có lợi cho sức khỏe, không chứa hóa chất độc hại, không có của rởm, rẻ tiền và lại được cơ thể rất dễ chấp nhận.


                                                                                            Hoàng Khánh Toàn

Thứ Hai, 30 tháng 6, 2014

Giải khát từ dưa chuột

NƯỚC GIẢI KHÁT TỪ DƯA CHUỘT Dưa chuột là một trong những loại quả được dùng phổ biến ở nước ta để làm thức ăn và làm thuốc. Trong sách Bản thảo cương mục, danh y Lý Thời Trân đã viết : “Hoàng qua, khí vị cam hàn, thanh nhiệt giải khát, lợi tiểu tiện”. Trong dân gian cũng lưu truyền khá nhiều các bài thuốc sử dụng dưa chuột để chữa bệnh và giải khát. Vào những ngày hè nóng nực, việc lựa chọn và chế biến các thứ nước gải khát từ dưa chuột là hết sức hữu ích. Bài viết này xin được giới thiệu một số công thức điển hình để độc giả tham khảo. * Dưa chuột 500g rửa sạch, thái miếng, ép lấy nước bằng tay hoặc bằng máy, hòa với 20 ml mật ong, uống trong ngày. Dùng đặc biệt tốt cho trẻ em bị mụn nhọt, rôm sẩy, mẩn ngứa, phát sốt trong mùa hè. * Dưa chuột 500g, dưa hấu 500g, hai thứ gọt bỏ vỏ và hạt, ép lấy nước, hòa với 20 ml mật ong, chia uống vài lần trong ngày. Dùng làm nước giải khát, chữa phù thũng và làm đẹp da. * Dưa chuột 500g, bí đao 500g, hai thứ gọt bỏ vỏ và hạt, rửa sạch, thái miếng rồi ép lấy nước, pha thêm một chút muối, dùng làm nước giải khát trong ngày. Đồ uống này đặc biệt tốt với những người thừa cân và béo phì. * Dưa chuột 500g, ớt xanh (loại quả to, hay dùng để xào ăn) 100g, hai thứ bỏ hạt, thái miếng, ép lấy nước rồi hòa thêm một chút muối, dùng làm nước giải khát trong ngày. Đồ uống này có màu đẹp, hương vị thơm ngon và rất giàu vitamin. * Vỏ dưa chuột 100g, vỏ bí đao 100g, hai thứ rửa sạch, sắc với 500 ml nước trong 30 phút rồi bỏ bã lấy nước, pha thêm một chút muối, uống trong ngày. Dùng đặc biệt tốt cho những người hay bị phù thũng. * Dưa chuột 300g, bình quả (loại táo to nhập khẩu từ nước ngoài) 200g, chanh 100g. Dưa chuột và táo gọt bỏ vỏ, chanh để nguyên vỏ, bỏ hạt, tất cả thái lát đem ép lấy nước, pha thêm một chút muối, uống trong ngày. Dùng để làm nước giải khát, đặc biệt với những người bị cao huyết áp, mắc bệnh thận. * Dưa chuột, táo, cà rốt và bưởi múi mỗi thứ 500g, mật ong và nước đun sôi để nguội vừa đủ. Dưa chuột và táo gọt bỏ vỏ, cà rốt rửa sạch thái miếng, bưởi bỏ vỏ và hạt, tất cả đem ép lấy nước, cho thêm nước đun sôi để nguội và mật ong lượng vừa đủ, uống trong ngày. Đồ uống này rất giàu vitamin, vừa giải khát vừa làm đẹp da. * Dưa chuột và bưởi múi mỗi thứ 80g, cà chua 100g, nước cốt chanh 20 ml. Dưa chuột và bưởi bỏ vỏ và hạt, cà chua thái miếng, tất cả đem ép lấy nước, hòa với nước cốt chanh, uống trong ngày. Có công dụng giải khát, làm đẹp da và đen râu tóc. * Dưa chuột bao tử 300g, chanh 100g, táo 200g, mật ong lượng vừa đủ. Dưa chuột bỏ núm, táo bỏ vỏ thái miếng, đem ép lấy nước, hòa với nước cốt chanh, chế thêm mật ong, uống trong ngày. Có công dụng giải khát, tiêu trừ mỏi mệt, làm đẹp nhan sắc. * Dưa chuột 300g, củ cải 100g, mật ong 15 ml. Dưa chuột và củ cải rửa sạch, thái miếng, ép lấy nước, hòa thêm mật ong, uống trong ngày. Có công dụng giải khát, đặc biệt tốt với những người bị viêm đường tiết niệu, sỏi thận, sỏi niệu quản và sỏi bàng quang. * Dưa chuột 250g, nho tươi 200g, chuối tiêu 150g, nước cốt chanh tươi 15 ml. Dưa chuột rửa sạch thái miếng, nho rửa sạch, chuối tiêu bỏ vỏ thái miếng, tất cả đem ép lấy nước, uống trong ngày. Dùng làm nước giải khát, đặc biệt tốt với nhứng người bị bệnh thận, thiếu máu, mệt mỏi, chán ăn. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, trong 100g dưa chuột tươi có chứa 96g nước, 0,6g protein, 0,1g mỡ, 22g đường, 12 mg Ca, 0,3 mg Fe, 15 mg Mg, 24 mg P, 45 đơn vị quốc tế vitamin A, 0,03 mg vitamin B1, 0,02 mg vitamin B2, 0,3 mg niacin, 12 mg vitamin C. Vì dưa chuột tính lạnh nên những người tỳ vị hư hàn, hay bị rối loạn tiêu hóa, đi lỏng không nên dùng. Hoàng Khánh Toàn

Thứ Hai, 30 tháng 12, 2013

Ăn kiêng


VÌ SAO Y HỌC CỔ TRUYỀN RẤT COI TRỌNG VẤN ĐỀ ĂN KIÊNG ?

 
     Ăn kiêng là một vấn đề rất quan trọng và lý thú của y học cổ truyền (YHCT) và cũng là bản sắc của văn hoá ẩm thực Việt nam. Trong Hoàng đế nội kinh, cuốn sách thuốc cổ nhất còn lưu truyền đến nay, đã ghi lại khá nhiều nội dung liên quan đến việc ăn kiêng. Rồi lần lượt các y thư kinh điển khác như Thương hàn luận, Trửu hậu bị cấp phương, Ngoại đài bí yếu, ẩm thực chính yếu, Bản thảo cương mục...đều có đề cập đến vấn đề này ở các mức độ khác nhau. Ở nước ta, rải rác trong các trước tác của mình, Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông cũng đều có những kiến giải khá sâu sắc và chi tiết về việc ăn kiêng khi dùng thuốc và trong suốt quá trình phòng và chữa bệnh. Vậy thì, vì sao YHCT lại coi trọng việc ăn kiêng đến như vậy ?

   @ - Trước hết, là vấn đề ăn kiêng về số lượng. YHCT thường xuyên khuyên con người, bất kể tuổi tác, giới tính, bị bệnh hay không bị bệnh, đều phải ăn uống có chừng mực và điều độ, tránh ăn no quá mức hoặc để đói quá lâu. Sách Tố vấn viết : “Ăn uống bị bội thực thì ruột và dạ dày sẽ bị tổn thương”. Hải Thượng Lãn Ông cũng khuyên một cách rất chí lý : “trong cái no nên để một chút đói, chứ đừng để trong cái đói có thừa một chút no”.

     Trong YHCT, tỳ và vị là hai bộ phận có ý nghĩa hết sức quan trọng, đóng vai trò chủ yếu trong việcthu nạp, tiêu hoá, hấp thu và phân bố chất dinh dưỡng, tạo nên cái gọi là “tinh hậu thiên”, thứ vật chất cơ bản để duy trì sự sống cùng với “tinh tiên thiên” vốn được bẩm thụ từ tinh cha huyết mẹ. Nếu ăn uống vô độ lâu ngày sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến công năng của tỳ vị, đặc biệt là ở những người tỳ vị vốn đã hư yếu, tạo nên các hội chứng bệnh lý như chứng Tỳ khí hư, biểu hiện bằng các triệu chứng ăn kém, chậm tiêu, hay đầy bụng, đại tiện lỏng hoặc nát, tay chân vô lực, dễ mệt, có thể phù nhẹ, sắc mặt vàng nhợt, chất lưỡi nhợt, mạch hư hoãn.

   @ - Thứ hai, là vấn đề ăn kiêng về chất lượng. YHCT cho rằng, mục đích ăn uống thường bao gồm hai loại : ăn để bồi bổ (thực bổ) và ăn để phòng và chữa bệnh (thực trị). Đối tượng sử dụng có thể là người bình thường hoặc những người đang mắc một hay nhiều bệnh lý nào đó. ở người bình thường, thể chất mỗi người vốn khác nhau, có người thể chất thiên hàn hay thiên nhiệt, thiên âm hoặc thiên dương. ở người bị bệnh thì tình trạng thiên lệch giữa âm và dương, giữa hàn và nhiệt lại càng rõ ràng tạo nên sự mất cân bằng trầm trọng, cần phải can thiệp bằng các biện pháp dùng thuốc hay không dùng thuốc để nhằm mục đích tái lập lại thế cân bằng vốn có.

     Trong khi đó, thức ăn nói chung dù là thuốc hay không dùng làm thuốc, theo YHCT đều có tính vị hàn lương, ôn nhiệt, cay đắng mặn ngọt... khác nhau. Bởi thế, về nguyên tắc việc dùng các loại thực phẩm, thức ăn cũng tương tự như việc sử dụng các vị thuốc của y học cổ truyền. Nghĩa là, cũng phải nắm được đầy đủ tính vị của chúng để từ đó vận dụng sự thiên thắng thiên suy của đồ ăn thức uống mà điều chỉnh sự thiên thắng hoặc thiên suy của tình trạng bệnh tật trong cơ thể con người, tuân thủ triệt để theo nguyên tắc “hư thì bổ, thực thì tả” của YHCT. Ví dụ, người dương hư với biểu hiện toàn thân sợ lạnh, sắc mặt trắng bệch, khó thở, mệt mỏi, đại tiện lỏng loãng, tiểu tiện trong dài, liệt dương, di tinh...phải trọng dụng các vị thuốc và thực phẩm có tác dụng bổ dương, ôn dương, trợ dương, đồng thời phải kiêng kị các thức ăn có tính âm hàn như dưa hấu, dưa chuột, thanh long, ngó sen, ba ba, hải sâm, ngao sò, mộc nhĩ...Người âm hư có biểu hiện chứng trạng hư nhiệt như có cảm giác hâm hấp sốt về chiều, đau đầu, chóng mặt, lòng bàn tay và bàn chân nóng, người gầy, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ...phải trọng dụng các thực phẩm và vị thuốc có tính bổ âm, tư âm, dưỡng âm và kiêng kị các vị thuốc và thực phẩm có tính ôn nhiệt như thịt chó, thịt dê, nhãn, vải, mít, gừng, tỏi, hạt tiêu...

   @ - Thứ ba, ở những người bị bệnh đang phải dùng thuốc YHCT còn cần phải kiêng các thức ăn có tính đối kháng, dễ làm mất hoặc hạn chế công dụng của thuốc. Đầu tiên là những thực phẩm có tác dụng đối ngịch với thuốc, ví như trường hợp bị nhiệt chứng đang phải dùng các thuốc có tính mát lạnh để thanh nhiệt, giải nhiệt thì không nên dùng các thức ăn có tính ấm nóng, vì như vậy vừa hạn chế công năng của thuốc, vừa làm cho tình trạng bệnh lý nặng lên. Thứ hai, là những thực phẩm có tính tương kị với từng vị thuốc cụ thể, ví dụ : thiên môn kị cá chép, bạch truật kị đào và mận, thục địa kị hành, cà rốt và hẹ...Trên thực tế, sự tương kị này mang tính tổng kết kinh nghiệm của cổ nhân, còn đứng về phương diện hoá học và dược lý học hiện đại thì dường như chưa có câu trả lời thích đáng. Tuy nhiên, điều này cũng chứng tỏ vấn đề ăn kiêng đã được người xưa xem xét tỉ mỉ và tổng kết rất công phu.

   @ - Thư tư, là vấn đề ăn kiêng theo mùa. Theo triết học phương Đông, con người là một chỉnh thể, một vũ trụ thu nhỏ, nhưng con người không thể thoát khỏi sự chi phối của vũ trụ lớn, của môi trường bên ngoài. Bởi vậy, một trong những học thuyết chi phối YHCT là học thuyết “thiên nhân hợp nhất”, nghĩa là cơ thể con người luôn luôn thống nhất và chịu sự chi phối của hoàn cảnh bên ngoài. Từ đó, mọi hoạt động sống của con người dù muốn hay không vẫn phải thuận theo các quy luật của tự nhiên, trong đó có cả vấn đề ăn uống. Cổ nhân nói : “Nhân nhân chế nghi, nhân địa chế nghi, nhân thời chế nghi”, nghĩa là ẩm thực phải tuỳ người, tuỳ điều kiện địa lý và tuỳ điều kiện khí hậu, thời tiết, tức là ăn uống phải theo mùa. Trên thực tế, với sự phát triển của công nghệ sinh học, giao thông và thông tin hiện nay, vấn đề ăn uống “tuỳ thời” đã phai nhạt khá nhiều.

   @ - Cuối cùng, là vấn đề kiêng kị sự thiên lệch, nghĩa là không nên ăn quá nhiều, quá lâu một thứ nào đó. Tại sao như vậy ? Y thư cổ đã giải thích rất rõ : “Năm vị khi vào cơ thể, đi vào các cơ quan tạng phủ và có thể gây bệnh. Chua đi vào gân, ăn nhiều nó người sẽ mỏi mệt ; mặn đi vào máu, ăn nhiều nó sẽ khát nước ; cay đi vào khí, ăn nhiều nó sẽ hại tim...” (Linh khu - Ngũ vị luận). Ngay cả khi đã lựa chọn được các thức ăn phù hợp với thể chất và tình trạng bệnh tật của cơ thể, người xưa cũng khuyên không nên dùng quá mức vì có thể đem lại hậu quả ngược lại, “vật cực tắc phản”, “âm cực sinh dương”, “dương cực sinh âm” chính là như vậy. Ví dụ : ngời bị bệnh thuộc thể   m hư thì nên dùng các thức ăn có tác dụng bổ âm, dưỡng âm, nhưng không nên dùng quá nhiều vì âm thịnh có thể khắc phạt, làm hại đến dương khí trong nhân thể.

     Như vậy, có thể thấy, vấn đề ăn kiêng trong y học cổ truyền là hết sức quan trọng và tuân thủ một cách chặt chẽ theo nguyên tắc chỉ đạo dựa trên lý luận có tính biện chứng của triết học phương Đông. Đồng thời, ăn kiêng cũng là một biểu hiện cụ thể của bản sắc văn hoá dân tộc trong ăn uống. Tuy nhiên, đây là một vấn đề còn hàm chứa nhiều ẩn số chưa được giải thích rõ ràng dưới ánh sáng của khoa học hiện đại và cũng tỏ ra khá phức tạp khi ứng dụng vào thực tế cuộc sống.

 

 

 

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

Gạo lứt dưỡng sinh


MỘT VÀI CÁCH DÙNG GẠO LỨT DƯỠNG SINH

     Càng ngày người ta càng nhận thấy rằng, gạo lức có một giá trị dinh dưỡng và phòng chống bệnh tật rất độc đáo. Như mọi người đều biết, ngoài vỏ ra, hạt thóc còn có ba phần chính là lớp cám, phôi và nội nhũ. Nội nhũ chiếm phần lớn và chủ yếu là glucid có giá trị chính là cung cấp năng lượng. Lớp cám và phôi tuy chỉ chiếm 10% hạt nhưng lại chiếm tới 65% các chất có giá trị nhất về mặt dinh dưỡng. Hai phần này rất giàu các hoạt chất sinh học tự nhiên như các loại vitamin (B1, B2, B6, PP, E, acid folic, acid pantothenic, choline, biotin...), các vi khoáng, chất xơ, lignin, có chứa khoảng 120 chất kháng ôxy hóa và hàng trăm hoạt chất hóa học tự nhiên khác vốn có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa và trao đổi chất có liên quan đến sức khỏe của con người. Phần phôi và cám gạo lứt cũng là nguồn giàu chất béo thực vật để sản xuất dầu cám vốn chứa rất nhiều omega-3 và acid omega-6 có vai trò ức chế và loại trừ các gốc tự do. Chính vì vậy, ngày 8/5/2008 FDA đã chính thức cho phép gạo lức được mang nhãn hiệu “hạt toàn phần” (Whole grain) có lợi cho sức khỏe, giúp phòng ngừa và hỗ trợ trị liệu bệnh tật.

     Cũng như các loại ngũ cốc thông dụng khác, cách dùng gạo lứt đơn giản nhất là nấu cơm ăn hàng ngày. Tuy nhiên, để tăng cường hiệu lực bổ dưỡng và phòng chống bệnh tật, đồng thời cũng để khắc phục tính chất khô khan, khó ăn của gạo lứt, người ta thường chế biến thành nhiều dạng khác nhau và tìm cách phối hợp với các thực phẩm khác tạo thành các món ăn hấp dẫn và độc đáo. Dưới đây xin được giới thiệu một số công thức điển hình :

Bài 1 :  gạo lứt 500g, lạc nhân 200g, vừng đen 50g, đường đỏ lượng vừa đủ. Tất cả đãi sạch, sấy khô rồi rang từng thứ cho chín thơm là được. Tiếp đó, đem giã hoặc xay vụn thành bột, trộn đều ba thứ với nhau, đựng trong lọ kín để dùng dần. Mỗi lần lấy một lượng bột thích hợp hòa với nước sôi, quấy đều thành dạng bột đặc, chế thêm đường đỏ, dùng làm đồ điểm tâm hàng ngày. Công dụng : kiện tỳ ích vị, nhuận tràng.

Bài 2 :  Gạo lứt 500g, gạo tẻ thường 200g, hồng táo 20g. Gạo lứt đãi sạch, ngâm với nước qua 1 đêm, gạo tẻ đãi sạch rồi trộn đều với gạo lứt cho vào nồi đun sôi, bỏ hồng táo và nấu đến chín là được, dùng làm cơm ăn hàng ngày. Công dụng : bổ khí kiện tỳ, dưỡng huyết an thần.

Bài 3 :  gạo lứt 150g, đậu hạt hòa lan non 50g, nước dùng nấu gà lượng vừa đủ. Gạo lứt đãi sạch ngâm nước 2 giờ, đậu hòa lan rửa sạch. Hai thứ đem hấp cách thủy trong 20 phút rồi lấy nước dùng gà nấu chín thành cơm ăn hàng ngày. Công dụng : kiện tỳ ích vị, bổ khí dưỡng huyết, lợi thủy tiêu thũng.

Bài 4 :  gạo lứt 100g, gạo nếp 50g, lệ chi nhục 40g, long nhãn nhục 20g, đường đỏ lượng vừa đủ. Gạo lứt đãi sạch ngâm nước 2 giờ, gạo nếp đãi sạch ngâm nước 1 giờ, long nhãn và lệ chi rửa sạch. Cho gạo lứt và gạo nếp vào nồi đun sôi, bỏ long nhãn và lệ chi vào nấu trong 40 phút là được. Công dụng : kiện tỳ ích vị, dưỡng huyết an thần, nhuận tràng.

Bài 5 :  gạo lứt 500g, đậu đỏ 60g, hai thứ đãi sạch đem ngâm nước trong 2 giờ, sau đó cho đậu đỏ vào nồi, đổ một lượng vừa đủ nấu sôi trong 20 phút rồi cho gạo lứt vào nấu đến chín là được, dùng làm cơm ăn hàng ngày. Công dụng : kiện tỳ ích vị, lợi thủy tiêu thũng.

Theo dinh dưỡng học cổ truyền, gạo lứt có tên gọi là Thao mễ hay Hạt sắc chi mễ, vị ngọt, tính bình, có công dụng kiện tỳ ích vị, dưỡng huyết nhuận tràng, thường được dùng dưới dạng nấu thành cơm ăn, rang chín hãm hoặc sắc lấy nước uống thay trà hàng ngày. Loại hạt toàn phần này nên được tìm hiểu và sử dụng rộng rãi.

                                                                                     Hoàng Khánh Toàn

    

Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013

Ăn gì để tư âm bổ thận

ĂN GÌ ĐỂ TƯ ÂM BỔ THẬN ?


     Theo y học cổ truyền, cơ thể con người muốn khỏe mạnh thì nhất thiết phải giữ được cân bằng âm dương. Tuy nhiên, âm dương luôn luôn biến hóa và thể chất mỗi người có thể thiên về âm hoặc thiên về dương, nghĩa là có người thiên về âm hư, có người thiên về dương hư. Khi bị bệnh, mặc dù cùng mắc một căn bệnh giống nhau nhưng có người thuộc thể âm hư, có người thuộc thể dương hư. Âm hư do nhiều nguyên nhân gây nên như bị tà khí nhiệt táo xâm nhập, ăn uống quá nhiều đồ cay nóng, rối loạn tình chí, phòng sự quá độ, lạm dụng các thuốc táo nhiệt...khiến cho tân dịch hao tổn, âm dịch hư suy. Biểu hiện của chứng âm hư thường là người gầy, da khô, dung nhan tiều tụy, miệng khô họng khát, thích uống nước lạnh, hay có cảm giác sốt nóng về chiều, lòng bàn tay và bàn chân nóng, vã mồ hôi trộm, đầu choáng mắt hoa, tiểu tiện sẻn đỏ, đại tiện táo kết, chất lưỡi đỏ khô, ít hoặc không có rêu lưỡi...
     Khi thể chất hoặc không may mắc bệnh thuộc thể âm hư, dinh dưỡng học cổ truyền khuyên nên trọng dụng các đồ ăn thức uống thanh bổ, ngọt mát nhu nhuận, sinh tân dưỡng âm bổ thận, trong đó đặc biệt lưu ý các thực phẩm sau đây :
* Thịt vịt : tính bình, vị ngọt mặn, có công dụng tư âm dưỡng vị, bổ thận. Sách “Tùy tức cư ẩm thực phổ” viết rằng : thịt vịt có khả năng “tư ngũ tạng chi âm, thanh hư lao chi nhiệt, dưỡng vị sinh tân bổ thận” (bổ phần âm của năm tạng, thanh hư nhiệt, bổ vị và thận, làm tăng tân dịch). Dân gian thường coi thịt vịt trắng là bổ âm tốt nhất.
* Thịt lợn : tính bình, vị ngọt mặn, có công dụng tư âm và nhuận táo. Danh y đời Thanh (Trung Quốc), Vương Mạnh Anh viết : “Trư nhục bổ thận dịch, sung vị chấp, tư can âm, nhuận cơ phu, chỉ tiêu khát” (thịt lơn bổ thận, vị và can âm, làm nhuận da thịt, hết đái đường). Sách “Bản thảo bị yếu” cũng viết : “Trư nhục, thực chi nhuận tràng vị, sinh tinh dịch, trạch bì phu”
* Trứng gà : tính bình, vị ngọt, không những có công dụng ích khí dưỡng huyết mà bất luận lòng trắng hay lòng đỏ cũng đều có khả năng tư âm nhuận táo. Dân gian Trung quốc thường nấu trứng gà với đậu đen hoặc đậu tương để bổ thận tư âm.
* Sữa bò : tính bình, vị ngọt, rất giàu chất dinh dưỡng, có công dụngn tư âm dưỡng dịch, sinh tân nhuận táo. Các y gia đời xưa thường gọi công dụng tư âm của sữa bò với nhiều cách khác nhau như “nhuận cơ chỉ khát”, “nhuận bì phu”, “nhuận đại tràng”, “tư nhuận ngũ tạng”, “tư nhuận bổ dịch”.
* Ba ba : tính bình, vị ngọt, có công dụng tư âm bổ thận, lương huyết, là loại thực phẩm thanh bổ tuyệt vời cho người bị âm hư. Sách “Tùy tức cư ẩm thực phổ” cho rằng ba ba có khả năng “tư can thận chi âm, thanh hư lao chi nhiệt”, sách “Bản thảo bị yếu”  cũng viết : “Giáp ngư lương huyết tư âm”.
* Rùa : tính bình, vị ngọt mặn, có công dụng tư âm bổ thận dưỡng huyết. Sách “Y lâm bị yếu” cho rằng rùa có khả năng “trị cốt chứng lao nhiệt, âm hư huyết nhiệt chi chứng” (chữa chứng đau nhức trong xương do hư nhiệt và các chứng âm hư huyết nhiệt).
* Hến : tính bình, vị ngọt mặn, có công dụng tư âm bổ thận. Sách “Bản thảo cầu nguyên” cho rằng hến có khả năng “tư chân âm”, sách “Bản thảo tùng tân” viết hến là một trong những thực phẩm có tác dụng “liệu tiêu khát” (chữa đái đường).
* Hải sâm : có công dụng tư âm, bổ huyết, ích tinh, nhuận táo. Sách “Dược tính khảo” cho rằng hải sâm có khả năng “giáng hỏa tư thận”. Sách “Thực vật nghi kỵ” cũng viết : “Hải sâm bổ thận tinh, ích tinh tủy”. Danh y Vương Mạnh Anh (đời Thanh, Trung Quốc) cũng nói : “Hải sâm tư âm, bổ huyết, nhuận táo”. Có thể nói, hải sâm là một loại thực phẩm điển hình có công dụng tư âm bổ thận.
* Sò : tính lạnh, vị mặn, có công dụng tư âm, hóa đàm, nhuyễn kiên. Y thư cổ đều cho rằng sò là thứ không chỉ tư âm bổ thận mà còn nhuận táo,m nhuận ngũ tạng, chỉ tiêu khát.
* Trai : chứa rất nhiều đạm và vitamin, có công dụng tư âm bổ thận, thanh nhiệt, làm sáng mắt. Danh y Vương Mạnh Anh cho rằng trai có khả năng “thanh nhiệt tư âm, dưỡng can lương huyết. Đây là một trong những thực phẩm lý tưởng cho người mắc chứng âm hư.
* Mực : tính bình, vị mặn, có công dụng bổ huyết tư âm, dưỡng thận. Các nhà dinh dưỡng học cổ truyền phương Đông đều cho rằng mực là một trong những loại thực phẩm có khả năng “đại năng dưỡng huyết tư âm”, rất cóm lợi cho những người mắc các chứng bệnh bệnh thuộc thể can thận âm hư.
* Bào ngư : còn gọi là thạch quyết minh nhục, có công dụng tư âm thanh nhiệt, ích tinh minh mục. Danh y Vương Mạnh Anh cho rằng bào ngư cóm khả năng “bổ tâm noãn can, tư âm minh mục”. Bào ngư cũng là một trong những loại thực phẩm điển hình có tác dụng tư âm bổ thận. Hiện nay, có rất nhiều các loại thực phẩm chức năng dùng bào ngư để bồi bổ cho những người bị yếu sinh lý.
* Lê : có công dụng sinh tân, nhuận táo, rất thích hợp cho những người mắc các bệnh lý có sốt gây tổn thương âm dịch. Sách “Bản thảo thông huyền” cho rằng lê có khả năng “nhiệt chư tư ngũ tạng chi âm”, sách “Trùng khánh đường tùy bút” cũng viết : “Lê, ôn nhiệt táo bệnh, cập âm hư hỏa tích, tân dịch hư tổn, chấp ẩm chi kỳ hiệu”.
* Tang thầm : là quả dâu chín, tính lạnh, vị ngọt, có công dụng tư âm bổ huyết, ích thận. Sách “Bản thảo cầu tân” viết : “Tang thầm ích âm khí, ích âm huyết”, sách “Bản thảo kinh sơ cũng viết : “Tang thầm vi lương huyết bổ huyết ích âm chi dược” và “tiêu khát do vu nội nhiệt, tân dịch bất túc, sinh dịch cố chỉ khát, ngũ tạng giai thuộc âm, ích âm cố lợi ngũ tạng”. Quả dâu chín rất có lợi cho người mắc chứng thận âm hư gây tai ù, tai điếc, tiêu khát (đái đường).
* Kỷ tử : tính bình vị ngọt, có công dụng tư âm bổ thận ích thọ, là thứ quả cực kỳ hữu ích cho những người mắc chứng thận âm hư gây đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, lưng gối đau mỏi..., đặc biệt tốt để trị liệu lao phổi, đái đường, hư lao...
* Tổ yến : tính bình, vị ngọt có công dụng bổ thận dưỡng âm, đặc biệt là các bệnh đường hô hấp như lao phổi, giãn phế quản, viêm phế quản mạn tính...thuộc thể phế thận âm hư.
* Ngân nhĩ : còn gọi là mộc nhĩ trắng, tính bình, vị đạm ngọt, có dông dụng tư âm dưỡng vị, sinh tân nhuận táo. Ngân nhĩ rất giàu chất dinh dưỡng, trong đó có nhiều vitamin và 17 loại acid amin cần thiết cho cơ thể, rất có lợi cho những người thể chất âm hư hoặc mắc các chứng bệnh thuộc thể âm hư.
* Tây dương sâm : còn gọi là sâm Mỹ, tính mát, vị ngọt hơi đắng, có công dụng ích khí dưỡng âm, bổ thận. Các sách thuốc cổ như “Bản thảo tùng tân”, “Dược tính khảo”...đều cho rắng tây dương sâm có khả năng “tư âm giáng hỏa”. Với chứng âm hư không nên dùng nhân sâm, nhưng với tây dương sâm thì lại là một vị thuốc rất thích hợp.
     Ngoài ra, để tư âm bổ thận còn nên trọng dụng a giao, mẫu lệ nhục, cá trạch, sữa ngựa, sữa dê, củ mài, mật ong, sữa ong chúa, vừng đen, nấm đông cô, nấm kim châm, cà chua, giá đỗ các loại...và nên kiêng kị thịt chó, thịt dê, thịt chim sẻ, hải mã, hải long, thịt hoẵng, lạc rang, vải, long nhãn, ô mai, tỏi, rau hẹ, hạt tiêu, ớt, gừng, nhục quế, tiểu hồi, đại hồi, rượu trắng, hồng sâm, nhục thung dung, tỏa dương...

                                                                                   Hoàng Khánh Toàn

Thứ Năm, 24 tháng 1, 2013

Trà, đậu xanh phòng chống nhiễm phóng xạ


Trà, đậu xanh phòng chống nhiễm phóng xạ

Cháo đậu xanh giúp giải độc cơ thể (nguồn ảnh: internet)

Để bảo vệ sức khỏe cho mình và người thân trước nguy cơ nhiễm phóng xạ, đông dược có một số bài thuốc đơn giản nhưng rất hữu ích bạn nên áp dụng.