Hiển thị các bài đăng có nhãn Tọa đàm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tọa đàm. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 13 tháng 10, 2019

Công nghệ chiết xuất dược liệu


CÔNG NGHỆ CHIẾT XUẤT DƯỢC LIỆU, VẤN ĐỀ BỨC THIẾT
 CHO SỰ PHÁT TRIỂN ĐÔNG DƯỢC THÀNH PHẨM

     Có lẽ chưa bao giờ, số lượng các đông dược thành phẩm được sản xuất trong nước, kể cả thuốc và thực phẩm chức năng, lại phong phú như bây giờ. Theo báo cáo của Bộ Y tế, tính đến năm 2011  đã có tới 1086 chế phẩm thuốc đông y đang lưu hành trên thị trường. Nhưng, cũng chưa bao giờ chất lượng của những sản phẩm này lại trở thành vấn đề hết sức bức thiết như hiện nay. Bởi lẽ, ở tất cả các khâu từ trồng trọt, thu hái, bào chế, bảo quản...để đảm bảo dược liệu có đủ các tiêu chuẩn : đúng, tốt, sạch/tinh khiết và các đông dược thành phẩm đạt yêu cầu : đúng, tốt và tinh khiết đều có những điều hết sức bất cập, trong đó có vấn đề công nghệ chiết xuất dược liệu.
     Có thể nói, công nghệ chiết xuất dược liệu có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc quyết định đến chất lượng, độ an toàn và hiệu quả của đông dược thành phẩm. Đây là sự khác nhau giữa tân dược mà nguyên liệu được biết rõ về thành phần hóa học với đông dược có nguồn gốc cây cỏ, thành phần phức tạp và trong nhiều trường hợp còn chưa xác định được thành phần có tác dụng. Mỗi đông dược thành phẩm có đạt được những yêu cầu của tiêu chuẩn hóa hay không cũng liên quan tới việc định lượng hoạt chất hay chất đặc trưng của mỗi dược liệu. Điều này được thực hiện bằng hai cách : thiết lập những phổ hay sắc ký đồ đối chiếu của thành phẩm tiêu chuẩn để so sánh và tiến hành kiểm tra, kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất.
     Có một nghịch lý là, trong khi kho dược liệu của nước ta hết sức phong phú với gần 4000 cây thuốc có thể trực tiếp làm thuốc hoặc để tách chiết một số hoạt chất bào chế đông dược thành phẩm, ngành dược chúng ta lại phải phụ thuộc rất nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu. Năm 2008, thống kê của Cục Quản lý dược Việt Nam cho thấy, thuốc sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng được 50,18% nhu cầu sử dụng với 90% nguyên liệu sản xuất phải nhập từ nước người. Báo cáo của Bộ Y tế tại hội nghị tổng kết chính sách quốc gia về y dược học cổ truyền 2003 – 2010 cũng chỉ rõ : công tác phát triển dược liệu còn mang tính tự phát, chất lượng dược liệu chưa được kiểm soát thường xuyên, hệ thống cung ứng dược liệu và thuốc thành phẩm còn nhỏ lẻ. Trung bình mỗi tỉnh sử dụng khoảng 42 tấn dược liệu/năm, trong đó nguồn dược liệu trong nước chiếm 51,56%, ngoài nước chiếm 48,44% (nhiều thời điểm trong nước dược liệu phải nhập khẩu đến 90%).
     Theo ý kiến của một số chuyên gia, tình trạng phụ thuộc này là do nước ta chưa đầu tư đúng mức vào công nghệ tách chiết tinh khiết để khai thác nguồn dược liệu quý giá sẵn có. Trên thực tế, công nghiệp chiết xuất của chúng ta chưa phát triển, hầu như chưa có các nhà máy chiết xuất lớn theo đúng nghĩa của nó. Các cơ sở thường tự xây dựng các phân xưởng chiết xuất nhỏ phục vụ cho nhu cầu của riêng mình. Phương pháp chiết xuất chủ yếu vẫn là nấu cao, cô cao trực tiếp ở áp suất thường trong không khí và điều kiện nhiệt độ không chuẩn xác. Các cơ sở chiết dược liệu ở vùng trồng (nếu có) cũng chủ yếu là cơ sở nhỏ chế biến một loại cao nhất định với các trang thiết bị khá thô sơ. Một vài doanh nghiệp nắm bắt được sự phát triển của thị trường đã bắt đầu đầu tư các nhà máy chiết xuất ở các vùng nguyên liệu. Tuy nhiên, phần lớn các trang thiết bị của các nhà máy này vẫn chỉ dùng để “nấu cao” ở quy mô lớn có sự hỗ trợ của máy móc. Một số cơ sở nhỏ có thiết bị hiện đại hơn (chiết có gia nhiệt với các dung môi cồn, cồn - nước, cô thu hồi dung môi dưới áp suất giảm…) nhưng lại thiếu những quy trình chiết, các sản phẩm chiết có chất lượng cao đặc trưng cho cơ sở, có sản lượng đủ lớn cạnh tranh với nước ngoài. Việc đầu tư các thiết bị chiết xuất, các dây chuyền chiết xuất hiện đại cùng với các quy trình chiết xuất dược liệu tiên tiến, hiệu quả chỉ mới là ý tưởng hay mơ ước.
     Những người làm việc trong các doanh nghiệp dược hẳn còn nhớ câu chuyện thu tiền tỷ từ việc chiết xuất maniferin, một hợp chất có tác dụng chữa bệnh zona vào những năm 80 của thế kỷ trước và đến nay chúng ta đã có thể sản xuất nguyên liệu mangiferin đạt độ tinh khiết 98 % - 101%, xuất khẩu sang Nga cả nguyên liệu và thuốc thành phẩm với trị giá khoảng 1 triệu USD/năm. Theo nhiều nhà nghiên cứu dược liệu, trong kho tàng thực vật nước ta không chỉ có xoài mà còn hàng trăm loài dược liệu có chứa hàm lượng lớn những hoạt chất quý giá dùng để sản xuất nguyên liệu bào chế thuốc thành phẩm như Taxol trong cây thông đỏ ; Rurin và Troxerutin  trong hoa hòe dùng để sản xuất thuốc làm bền thành mạch, dự phòng và trị liệu các bệnh lý xuất huyết ; Curcumin và Quercetin trong nghệ dùng để sản xuất thuốc phòng chống khối u, hỗ trợ điều trị ung thư, viêm loét dạ dày tá tràng...; Shikimic acid trong tinh chất hoa hồi dùng để sản xuất Oseltamivir Phosphate có tác dụng phòng chống virus cúm A/H5N1 và H1N1, mối đe dọa lớn với thế giới và Việt Nam (đến nay, Việt Nam đã làm chủ công nghệ sản xuất Oseltamivir Phosphate từ acid Shikimic, phân lập từ quả hồi trên quy mô phòng thí nghiệm), Artemisinin trong thanh hao hoa vàng phục vụ sản xuất thuốc phòng chống sốt rét, đáp ứng nhu cầu thuốc trong nước và tham gia xuất khẩu ; Vinblastin, Vincristin, Vindolin và Catharanthin từ cây dừa cạn làm nguyên liệu sản xuất thuốc điều trị bệnh ung thư ; Sterol trong đậu tương dùng làm nguyên liệu sản xuất thuốc, sản phẩm bổ sung dinh dưỡng và bán tổng hợp các chất như Testosteron propionat, Ethinylestetradiol, DHEA ; Carotenoid để làm thuốc chống lão hóa, chống ung thư từ quả gấc và hoa cúc vạn thọ ; Lutein, Zeaxanthin từ hoa cúc vạn thọ để làm nguyên liệu bào chế thuốc Vicuva ; Rotundin trong củ bình vôi dùng làm thuốc an thần, trấn tĩnh ; Glycosid từ quả mướp đắng để sản xuất thức ăn chức năng làm giảm hàm lượng đường trong máu...
     Điều đó cho thấy, với một tiềm năng hết sức to lớn, nếu có một đường hướng đúng đắn và mạnh dạn, công nghệ đầu tư hiện đại và tiên tiến, đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ cao và chuyên nghiệp thì chúng ta có thể tạo ra một sức bật mới, một sự chuyển biến về chất cho công cuộc phát triển công nghệ chiết xuất dược liệu, có thể làm được cái gọi là may “túi ba gang” cho ngành công ngiệp dược. Điều đáng mừng là, Đề án “Phát triển công nghiệp dược và xây dựng mô hình hệ thống cung ứng thuốc của Việt Nam giai đoạn 2007 - 2015 và tầm nhìn đến năm 2020” đã xác định : xây dựng cơ sở chiết xuất hoạt chất tinh khiết từ dược liệu để đảm bảo 20% nhu cầu hoạt chất cho sản xuất thuốc vào năm 2015 và 30% vào năm 2020. Cũng trong năm 2007, Thủ tướng đã có quyết định số 43 và 61 về phát triển công nghiệp dược, trong đó có đề cập đến các vấn đề tăng cường đầu tư phát triển các cơ sở chiết xuất tinh khiết các hoạt chất từ dược liệu với mục tiêu là : Nghiên cứu tạo ra những công nghệ có chất lượng cao ở trong nước, kết hợp với nhập khẩu, làm chủ và ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại của nước ngoài để sản xuất nguyên liệu hoá dược phục vụ ngành công nghiệp dược và công nghiệp bào chế thuốc chữa bệnh, tiến tới chủ động sản xuất thuốc ở trong nước ; nghiên cứu khai thác và sử dụng có hiệu quả các hoạt chất thiên nhiên chiết tách, tổng hợp hoặc bán tổng hợp được từ các nguồn dược liệu và tài nguyên thiên nhiên quý giá và thế mạnh của nước ta, phục vụ tốt công nghiệp bào chế một số loại thuốc đặc thù của Việt Nam, đáp ứng nhu cầu chữa bệnh trong nước và xuất khẩu.   
     Quán triệt tinh thần của quyết định này, mới đây một số công ty dược đã khởi công xây dựng nhà máy chiết xuất dược liệu công nghệ cao như Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Y tế Domesco, Công ty TNHH Nam dược...và đặc biệt là nhà máy chiết xuất và tổng hợp dược liệu của Công ty cổ phần Hóa-dược phẩm Việt Nam đạt 3 tiêu chuẩn : thực hành tốt sản xuất thuốc theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO-GMP), thực hành tốt bảo quản thuốc (GSP) và hệ thống an toàn chất lượng phòng thí nghiệm (GLP) đã khánh thành tại Bắc Ninh vào ngày 20/07/201 với tổng công suất đạt 500 tấn nguyên liệu thành phẩm/năm.
     Tới thăm và làm việc với Công ty cổ phần Hóa - dược phẩm Việt Nam và khánh thành nhà máy, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đánh giá cao những quyết tâm và sáng tạo của Công ty cổ phần Hóa - dược phẩm Việt Nam trong quá trình đầu tư xây dựng nhà máy, đồng thời khẳng định đây là một trong những mô hình điển hình góp phần đưa công nghiệp chế biến dược liệu của Việt Nam phát triển về mặt chất lượng cũng như quy mô để đáp ứng nhu cầu hội nhập.  

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân nhấn nút khánh thành nhà máy - Ảnh: Chinhphu.vn

                                                                                              Hoàng Khánh Toàn

Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2019

ĂN MUỐI NHƯ THẾ NÀO CHO TỐT


ĂN MUỐI NHƯ THẾ NÀO LÀ TỐT NHẤT CHO SỨC KHỎE ?

 

     Muối là một loại gia vị đặc biệt, rất cần thiết cho mọi hoạt động của cơ thể con người. Tuy nhiên, việc dùng muối như thế nào để có lợi nhất cho sức khỏe cũng có khá nhiều quan điểm khác nhau tùy theo vùng miền, chủng tộc, giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, thói quen, tính chất bệnh lý…Dưới đây là một số vấn đề cần biết khi dùng muối ăn

* Một ngày nên ăn muối bao nhiêu là đủ?
     Trung bình mỗi ngày cơ thể chúng ta cần từ 2- 3 lít nước để bổ sung lượng nước bị hụt thông qua các hoạt động. Nếu tính tổng thể, cơ thể con người trung bình sẽ chứa từ 7- 8 lít (nước và máu). Khối lượng này đảm bảo cho hệ tuần hoàn, bài tiết duy trì hoạt động bình thường theo đúng chức năng của chúng. Muối hay có lẽ là chất mà loài người không thể thiếu trong thức ăn hàng ngày, thậm chí đối với nhiều người, có thể thiếu thịt chứ không thể thiếu muối trong bữa ăn. Lượng muối bình quân cần thiết cho cơ thể dao động từ 4-10 gam muối NaCl/ ngày, trong đó, thành phần muối có sẵn trong các thức ăn thiên nhiên chiếm khoảng 3%, số còn lại được bổ sung trong quá trình chế biến thực phẩm. Theo chuyên gia dinh dưỡng của Viện dinh dưỡng quốc gia, người bình thường không bị tăng huyết áp, không bị thừa cân, không mắc các bệnh phải kiêng mặn chỉ nên ăn từ 6 - 8g muối một ngày (bao gồm cả muối ăn, nước mắm, bột canh...).
* Ăn quá mặn có tác hại gì ?
     Thói quen ăn mặn hoặc chế biến mặn các loại thức ăn sẽ làm tăng áp lực thẩm thấu trong máu, cơ thể sẽ có cảm giác khát, dẫn đến uống nước nhiều (quá lượng nước cho phép), tích giữ nước trong cơ thể gây tăng huyết áp. Cơ thể cũng tìm cách tăng đào thải natri qua nước tiểu, dẫn tới mất kali, canxi và nhiều khoáng chất khác và gây “mệt mỏi” cho hệ bài tiết, làm tăng cường độ làm việc của hệ thống tim mạch, thận và tiết niệu nên sớm dẫn tới suy giảm chức năng hoạt động của các hệ cơ quan này. Ngoài việc ăn mặn gây tăng huyết áp, dẫn đến các bệnh về tim mạch, suy tim, suy thận, loãng xương,… Ăn nhiều muối còn làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm loét dạ dày - tá tràng và ung thư đường tiêu hóa. Đối với những người đã mắc bệnh tăng huyết áp, suy tim, suy thận và suy gan, ăn nhiều muối sẽ làm bệnh tiến triển nhanh hơn.
* Ăn quá nhạt có hại không ?
     Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh việc ăn mặn ảnh hưởng tới sức khỏe tim mạch nhưng bên cạnh đó, một chế độ ăn quá nhạt cũng không hoàn toàn tốt cho sức khỏe. Thói quen này là một sai lầm không đáng có trong ăn uống. Nhiều chuyên gia cho rằng, nếu ăn ít muối quá cơ thể có thể bị mệt mỏi, chán ăn, dẫn tới suy giảm các chức năng của cơ quan trong cơ thể và suy giảm sức khỏe nếu để tình trạng đó diễn ra trong thời gian dài. Trong cơ thể, muối đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì áp lực thẩm thấu, giữ cho cân bằng lượng nước bên trong, ngoài tế bào và trong lòng mạch máu. Ngoài ra, muối còn có vai trò trong việc duy trì điện thế tế bào, dẫn truyền xung động thần kinh, đảm bảo thăng bằng kiềm toan. Điều hòa natri trong cơ thể do hoóc-môn vỏ thượng thận aldosteron (tái hấp thu Na+ và thải K+, H+ qua ống thận) và hoóc-môn vasopressin (hay ADH, hoóc-môn chống bài niệu) của tuyến hậu yên. Natri máu bình thường là 135-145 mEq/l. Muối trong máu giảm khi lượng natri máu dưới 135 mEq/l.
     Một chế độ ăn ít muối là khi lượng thức ăn, nước uống trong 24 giờ đưa vào cơ thể có tổng lượng NaCl dưới 2.400mg (tương đương với khoảng 1 thìa cà phê). Nếu người bình thường chỉ sử dụng 1 - 2g muối/ngày và kéo dài thì được coi là ăn quá ít muối và có thể bị hạ natri máu. Đối với những người ăn kiêng muối quá mức, lượng natri máu giảm nhiều sẽ ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe, thậm chí có thể tử vong nếu lượng natri máu xuống quá thấp. Natri máu giảm cũng làm cho nước tự do thoát ra ngoài khoảng kẽ dẫn đến hiện tượng phù tay, chân hoặc nặng hơn là gây phù toàn thân. Hạ natri máu khiến hệ cơ bị suy giảm chức năng với các biểu hiện như mỏi cơ, liệt cơ, kiến bò, chuột rút.
* Những người nào nên ăn nhạt ?
     Người bị cao huyết áp chỉ dùng 2-3 gmuối/ngày và ăn hạn chế các loại thực phẩm chứa nhiều muối. Nên bỏ thói quen dùng thêm bát nước mắm trong bữa ăn, kể cả chấm rau luộc. Người bị suy thận, suy tim phải thực hiện chế độ ăn nhạt tùy theo từng giai đoạn của bệnh. Ở giai đoạn nặng phải ăn nhạt hoàn toàn, tức là không được sử dụng muối và mì chính trong chế biến cũng như tại bàn ăn, không dùng các loại thức ăn chế biến sẵn có nhiều muối. Người từ 45 tuổi trở lên cũng nên ăn hạn chế muối. Chỉ cung cấp cho cơ thể lượng muối theo khuyến cáo. Người béo cần kiểm soát lượng muối hấp thu hàng ngày vì nếu không sẽ dễ bị tăng huyết áp. Trẻ em từ khi bắt đầu ăn bổ sung cũng nên tập thói quen ăn nhạt, khi nấu bột có thể không cần cho thêm muối, nhất là trong những trường hợp trộn thêm sữa bột, pho mát vào bột, cháo, vì bản thân muối trong thức ăn cũng đã đủ cho nhu cầu của trẻ. Trong những trường hợp trẻ đã quen ăn muối thì cũng nên nấu nhạt hơn so với khẩu vị của người lớn. Vì chức năng thận của trẻ còn yếu nên khả năng thải muối kém, natri bị tích tụ nhiều trong cơ thể gây không tốt cho sức khỏe của trẻ.
* Làm thế nào để giảm thói quen ăn mặn ?

     Nếu đã lỡ có thói quen ăn mặn thì việc lập tức từ bỏ chúng quả là một vấn đề nan giải, vị giác của bạn sẽ không chấp nhận việc ăn nhạt trừ khi bác sỹ bắt buộc bạn phải tuân thủ theo một chế độ ăn nhất định. Nên nhớ rằng: vị mặn của thức ăn được chế biến chính là lượng muối đã nêm vào thức ăn, khi bạn nấu một món ăn và phát hiện ra mình đã “quá tay” trong nêm nếm, thì thật sự lượng muối đã rất nhiều. Tuy nhiên, cũng khá may mắn là lượng nước chấm “trực tiếp” với các thức ăn khi đưa vào cơ thể không đáng là bao và chủ yếu là do vị giác của ta ở ngay đầu lưỡi. Do vậy, hãy cố gắng tập thói quen nêm nếm vừa ăn hoặc hơi nhạt, để có thể duy trì chén nước chấm trong bữa cơm hàng ngày. Từng bước giảm dần thói quen ăn mặn cho mình và các thành viên trong gia đình. Cố gắng tập cho trẻ nhỏ đừng sử dụng nhiều nước rưới chấm trong bữa ăn, hạn chế để muối tiêu, muối ớt…trên bàn ăn. Chú ý vị giác khi nêm nếm, kiên quyết với việc tra thêm mắm , muối cho các món ăn. Nên nếm trước hoặc nhờ người thân nếm thử khi nấu ăn để ngừa việc vị giác của mình sai lệch. Đôi khi vị giác của ta bị đánh lừa vì tình trạng sức khỏe trong ngày. Hạn chế các món ăn chiên/xào cần dùng kèm với nước chấm. Nên sử dụng chén nước mắm pha loãng (cùng tỏi, ớt…) trong bữa ăn hàng ngày thay vì chén nước chấm mặn nguyên chất
* Nên dùng loại muối ăn nào ?
     Hiện nay có ba dạng muối ăn chính là muối thô, muối tinh và muối iốt. Một số người cho rằng muối thô tốt hơn cho sức khỏe vì mang tính tự nhiên với thành phần chủ yếu ngoài yếu tố Natri còn có 20 loại chất khoáng khác như I, KCl, MgCl, CaCl, FeSo, Se, Mg, P, S,…và nhiều nguyên tố vi lượng khác. Chính loại muối này có tác dụng nâng cao khả năng đào thải độc tố, đẩy mạnh quá trình trao đổi chất và lọc máu, hỗ trợ quá trình tiêu hóa (đặc biệt giúp cho việc tiêu hóa tinh bột được dễ dàng và trọn vẹn), đẩy mạnh quá trình hấp thu và kích thích các tế bào trong cơ thể, làm tăng sức dẻo dai, bền bỉ…Tuy nhiên muối thô có thể chứa không đủ lượng i-ốt cần thiết để phòng ngừa một số bệnh lý tuyến giáp.
     Muối tinh, được sử dụng rộng rãi hiện nay, chủ yếu là chứa clorua natri (NaCl). Tuy nhiên, chỉ có khoảng 7% lượng muối tinh được sử dụng trong đời sống hàng ngày như là chất thêm vào thức ăn. Phần lớn muối tinh được sử dụng cho các mục đích công nghiệp, từ sản xuất bột giấy và giấy tới việc hãm màu trong công nghệ nhuộm vải hay trong sản xuất xà phòng và chất tẩy rửa và nó có một giá trị thương mại lớn. Điều đáng lo ngại là hầu hết muối ăn ngày nay là muối tinh, do đã loại hết các thành phần khoáng khác, chỉ còn lại NaCl thuần túy(99%).
     Muối iốt là muối tinh được bổ sung thêm iốt dưới dạng của một lượng nhỏ iốtua kali. Nó được sử dụng trong nấu ăn và làm gia vị. Muối ăn chứa iốt làm tăng khả năng loại trừ các bệnh có liên quan đến thiếu hụt iốt. Iốt là chất quan trọng trong việc ngăn chặn việc sản xuất không đủ của các hoóc môn tuyến giáp, thiếu iốt là nguyên nhân của bệnh bướu cổ hay chứng đần ở trẻ em và chứng phù niêm ở người lớn. Vậy nên, tùy theo vùng miền, giới tính, thể chất, tuổi tác và đặc điểm bệnh lý mà lựa chọn loại muối ăn cho phù hợp. Xem ra, loại muối tự nhiên có bổ sung thêm một lượng iốt phù hợp là nên chọn dùng hơn cả.

                                                                                    Hoàng Khánh Toàn


Thứ Ba, 10 tháng 9, 2019

TRỊ VỊ BỆNH


TRỊ VỊ BỆNH, HỌC THUYẾT ĐỘC ĐÁO CỦA
 Y HỌC CỔ TRUYỀN PHƯƠNG ĐÔNG


      Nếu như phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh” mới chỉ được đề cập đến một cách chính thống trong trong nền y học hiện đại ở nước ta từ giữa thế kỷ thứ 20 thì trên thực tế, vấn đề này đã được nói đến trong y học cổ truyền phương Đông từ cách đây hơn 2000 năm với nội dung hết sức sâu rộng bằng học thuyết “trị vị bệnh” được ghi lại sớm nhất trong y thư kinh điển “Hoàng đế Nội kinh”. “Trị vị bệnh” có nghĩa là : chữa bệnh từ khi chưa có bệnh. Sách cổ viết : “Thượng công trị vị bệnh, bất trị dĩ bệnh” (Người thầy thuốc giỏi không chờ tới khi có bệnh mới chữa trị, mà chữa từ khi chưa có bệnh). Trong suốt chiều dài lịch sử tồn tại và phát triển của y học cổ truyền, quan điểm này luôn luôn là tư tưởng chỉ đạo  thống suốt trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.
     Từ xa xưa, những thầy thuốc phương Đông cổ đại không những luôn coi trọng nghiên cứu việc trị liệu, mà còn rất chú ý đến y học dự phòng. Với học thuyết “Trị vị bệnh”, đông y yêu cầu các thày thuốc cần quán triệt quan điểm “dùng thuốc tuy tốt, nhưng không dùng còn tốt hơn”. Ngoài ra, cần có sự hiểu biết cả về  y dược học với thiên văn học, địa lý học, triết học, nông học, số học, âm luật học, đạo học, phật học, ẩm thực dinh dưỡng, binh pháp, chính pháp, khí công,…để làm cơ sở thực hiện tốt nhất học thuyết “trị vị bệnh” vì sức khỏe của cộng đồng. Có thể dẫn ra dưới đây một số đoạn kinh văn bàn luận về vấn đề này
     Sách “Tố vấn - Tứ khí điều thần đại luận” viết : “Thánh nhân bất trị dĩ bệnh, trị vị bệnh, bất trị dĩ loạn trị vị loạn, thử chi vị dã. Phu bệnh dĩ thành nhi hậu dược chi, loạn dĩ thành nhi hậu trị chi, ví do khát nhi xuyên tỉnh, đấu nhi chú bình, bất diệc vãn hồ!” (Là thầy thuốc giỏi, không trị khi đã mắc bệnh, mà trị từ lúc chưa mắc bệnh ; không trị khi đã loạn mà trị lúc chưa loạn. Nếu mắc bệnh rồi mới uống thuốc, để loạn lạc rồi mới trị, chẳng khác gì lúc khát mới đào giếng, sắp đánh nhau mới đúc đồ binh, thì cũng đã muộn lắm sao)
     Sách “Tố Vấn - Âm dương ứng tượng đại luận” viết : “Tà phong chi chí, tật như phong vũ, cố thiện trị giả trị bì mao, kỳ thứ trị cơ phu, kỳ thứ trị cân mạch, kỳ thứ trị lục phủ, kỳ thứ trị ngũ tạng. Trị ngũ tạng giả, bán tử bán sinh dã.” (Phong tà đến, bệnh như phong vũ, người chữa trị giỏi thì chữa ngay lúc tà khí còn ở bì mao, bậc thứ tiếp trị bệnh ở cơ phu, bậc thứ tiếp thì chữa khi tà khí đã vào tới cân mạch, lại bậc thứ tiếp trị bệnh khi tà khí vào tới lục phủ, lại bậc thứ tiếp trị bệnh khi tà khí vào tới ngũ tạng. Trị tại ngũ tạng, thì một nửa thành công, một nửa thất bại)
     Sách “Linh khu - Quan năng” viết : “Thị cố thượng công chi thủ khí, nãi cứu kỳ manh nha; Hạ công thủ kỳ dĩ thành, nhân bại kỳ hình.” (Người thầy thuốc giỏi trị bệnh khi bệnh vừa nảy sinh, người thầy thuốc kém cỏi trị bệnh khi bệnh đã thịnh, vì thế dễ thất bại).
     Sách “Linh Khu - Thuận nghịch” viết : “Thượng công, thích kỳ vị sinh giả dã. Kỳ thứ, thích kỳ vị thịnh giả dã. Kỳ thứ, thích kỳ dĩ suy giả dã. Hạ công, thích kỳ phương tập giả dã, dư kỳ hình chi thịnh giả dã, dư kỳ bệnh chi dư mạch tương nghịch giả dã. Cố viết, phương kỳ thịnh dã, vật cảm hồi thương, thích kỳ dĩ suy, việc tất đại xương. Cố viết, thượng công trị vị bệnh, bất trị dĩ bệnh, thử chi vị dã.” (Người thầy thuốc giỏi châm cứu khi chưa sinh bệnh. Kế tiếp, châm cứu khi bệnh chưa nặng. Kế tiếp, châm khi bệnh đã đỡ. Người thầy thuốc kém cỏi, châm cứu bằng cách đánh úp, khi bệnh đã phát triển mạnh, bệnh và mạch tương phản. Vì vậy, người thầy thuốc giỏi chữa bệnh khi chưa có bệnh)
     Sách  “Tố Vấn - Di tinh biến khí luận” viết : “Thô công hung hung, dĩ vi khả công, cố bệnh vị dĩ, tân bệnh phục khởi.” (Người thầy thuốc dốt nát là hay liều lĩnh, cho là bệnh có thể trị bằng phép “công”, khiến cho bệnh cũ chưa khỏi bệnh mới lại sinh ra).
     Sách “Tố Vấn - Thích nhiệt luận” viết : “Thận nhiệt bệnh giả di tiên xích, bệnh tuy vị phát, kiến xích sắc giả thích chi, danh viết trị vị bệnh.” (Người bị thận nhiệt, thấy mép đỏ trước, bệnh tuy chưa phát, nhưng nhìn thấy sắc đỏ thì tiến hành châm cứu luôn, thế gọi là Trị vị bệnh).
     Từ vài đoạn trích dẫn trên đây, có thể thấy người thầy thuốc thời xưa vô cùng coi trọng việc phòng bệnh nhằm mục đích để không sinh bệnh hoặc ít sinh bệnh, chú ý phát hiện và trị liệu bệnh sớm, coi vấn đề điều trị bệnh từ thời kỳ bệnh mới phát sinh là điều quan trọng. Đoạn thứ nhất chủ yếu bàn về vấn đề không nên đợi bệnh hình thành mới điều trị hay nói cách khác là phải dự phòng tích cực và điều trị dự phòng. Đoạn thứ 2 và 3 bàn về vấn đề phải phát hiện bệnh sớm và điều trị từ khi bệnh mới nảy sinh hay nói cách khác là phải có quan điểm dự phòng trong trị liệu. Đoạn 4 và 5 bàn về vấn đề trị bệnh như dùng binh, cần nắm vững thời cơ để có thể thành công, không nên để đến khi chính khí đã bị tổn thương mới trị liệu hay nói cách khác là phải tiên lượng được sự phát triển của bệnh để điều trị kịp thời, cũng có nghĩa là phải dự phòng trong trị liệu. Đoạn 6 chỉ ra rằng phải chú ý phát hiện những dấu hiệu sớm của bệnh tại thời điểm bệnh chưa phát và khẩn trương trị liệu để cho bệnh không thể phát ra được, đây cũng chính là nội dung phòng bệnh hơn chữa bệnh của y học cổ truyền.
Sau “Hoàng đế nội kinh”, tư tưởng học thuyết “Trị vị bệnh” đã được các thày thuốc đời sau tiếp tục phát triển, hoàn thiện trong cả lý luận và thực tiễn. Ví như, trong sách “Nạn kinh”, nạn thứ 77 viết : “Kinh ngôn thượng công trị vị bệnh, trung công trị dĩ bệnh giả hà tất dã ? Nhiên, sở vi trị vị bệnh giả, kiến can chi bệnh, tắc tri can đương truyền chi dư tỳ. Cố tiên thực tỳ khí, vô lệnh đắc thụ can chi tà. Cố viết Trị vị bệnh. Trung công kiến can chi bệnh, bất hiểu tương truyền, đãn nhất tâm trị can. Cố viết Trị dĩ bệnh dã.”(Người thầy thuốc giỏi có thể chữa bệnh khi bệnh chưa phát, thầy thuốc bình thường chỉ có thể chữa bệnh khi bệnh đã phát, điều này giải thích như thế nào ? Nói chữa bệnh khi bệnh chưa phát, biết can mộc khắc tỳ thổ, thấy can bị bệnh tất sẽ truyền đến tỳ, cho nên trước tiên phải làm cho tỳ khí đầy đủ trong khi chữa bệnh ở can. Người thầy thuốc bình thường thấy biểu hiện bệnh ở can nhưng không hiểu can ảnh hưởng đến tỳ, nên chỉ tập trung chữa can bệnh mà thôi).
Nạn thứ 13 cũng viết : “Tri nhất vi hạ công, tri nhị vi trung công, tri tam vi thượng công. Thượng công giả thập toàn cửu, trung công giả thập toàn bát, hạ công giả thập toàn lục, thử chi vị dã.” (Biết 1 là bậc hạ công, biết 2 là bậc trung công, biết 3 là bậc thượng công. Bậc Thượng công 10 người chữa khỏi 9, bậc trung công 10 người chữa khỏi 8, bậc hạ công 10 người chỉ chữa khỏi có 6).
Trong sách “Kim quỹ yếu lược”, phần thứ nhất có viết : “Trị vị bệnh, kiến can bệnh, tri can truyền tỳ, đương tiên thực tỳ. Tứ quý tỳ vương bất thụ tà, tức vật bổ chi”. (Trị vị bệnh, thấy bệnh ở can, biết bệnh ở can sẽ truyền đến tỳ, trước tiên phải làm mạnh tỳ khí. Tỳ mạnh bốn mùa không bị tà khí xâm nhập thì không cần phải bổ tỳ)
Trong sách “Thiên kim yếu phương” cũng viết : “Thượng y y vị bệnh chi bệnh, trung y y dục bệnh chi bệnh, hạ y y dĩ bệnh chi bệnh.” “Năng tham hợp nhi hành chi giả, khả vị thượng công”.
Trong “Ngoại cảm ôn nhiệt thiên” nêu: “Vụ tại tiên an vị thụ tà chi địa”. Trong “Ôn bệnh điều biện” nêu: “Thanh túc thượng tiêu, bất phạm trung hạ, vô khai môn ấp đạo chi tệ”...
Tổng hợp ý kiến luận bàn qua các thời đại về tư tưởng Trị vị bệnh, có thể thấy, “vị bệnh” là thuận theo quy luật biến hóa của âm dương tứ thời mà tăng cường phương pháp dưỡng sinh dự phòng, chữa bệnh từ khi bệnh chưa phát từ đó sẽ không mắc bệnh nữa hoặc giả cần phát hiện rất sớm những thay đổi về sắc mạch, khẩn trương điều trị, dập tắt sự nảy sinh của bệnh từ lúc còn manh nha không cho bệnh phát sinh hoặc giả nếu bệnh đã phát sinh thì phải kịp thời nhận thấy quy luật phát triển mà có những biện pháp điều trị dự phòng tích cực để bệnh không chuyển sang thể nặng, mau hồi phục, không để lại di chứng nặng nề và không để truyền biến sang các tạng phủ khác…Tóm lại, tư tưởng học thuyết “trị vị bệnh” trong y học cổ truyền phương Đông rất có ý nghĩa trong công tác chữa trị bệnh tật và vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay trên nhiều phương diện. Ví như, việc vận dụng học thuyết “trị vị bệnh” trong việc trị liệu các bệnh nan y như viêm gan, viêm thận, viêm khớp dạng thấp, hen suyễn, lupud ban đỏ, sơ cứng bì, đột quỵ não, nhồi máu cơ tim, ung thư...
 Như chúng ta đã biết, đại bộ phận những bệnh nan y này đều do nội thương gây ra và có thể dùng phương pháp chẩn trị của y học cổ truyền tại thời điểm chưa xác định chính xác bệnh để phát hiện những dấu hiệu sớm của bệnh, đó là sự thay đổi của âm dương khí huyết, chứng trạng, màu sắc, hình dạng, âm thanh, ẩm thực, tình chí, tinh thần, thể lực, tân dịch, lưỡi, mạch…Tại thời điểm này, dưới sự chỉ đạo của tư tưởng học thuyết “trị vị bệnh”, tiến hành tứ chẩn để phát hiện các chứng trạng của bệnh rồi thực thi biện chứng luận trị. Điều này, giúp cho chính khí thắng tà khí, làm cho bệnh tình sớm thuyên giảm hoặc dừng lại mà không thể phát sinh. Đây chính là điều có giá trị nhất mà học thuyết “trị vị bệnh” của y học cổ truyền đem lại. Nếu Đông y và Tây y liên kết hợp tác với nhau, phát huy thế mạnh của hai nền y học thì việc giải quyết các bệnh nan y chắc chắn sẽ đạt được những thành tựu to lớn.
Những năm gần đây, một số nghiên cứu của các thày thuốc y học cổ truyền Nhật Bản đối với tư tưởng học thuyết “ trị vị bệnh” đã được đánh giá rất cao. Y Đằng Thanh tiên sinh nói : “Cái gọi là Thượng công trị vị bệnh, là người thầy thuốc giỏi tại thời điểm bệnh chưa biểu hiện ra ngoài đã tiến hành điều trị. Cũng có thể nói, khi bệnh đã phát ra rõ ràng mới trị liệu thì không phải là thượng công”. Ví như, trước khi bị cảm mạo nếu cảm thấy người hơi khó chịu, vai hơi mỏi, đầu hơi đau…thì chỉ cần uống 01 thang thuốc dự phòng tích cực, lập tức có thể làm cho bệnh cảm không phát sinh, sức khỏe phục hồi nhanh chóng. Người Trị vị bệnh cũng không nên tuyệt đối hóa việc phòng bệnh nói chung mà phải quan tâm đến từng cá nhân cụ thể để có những cách xử lý thích hợp nhất với người đó. Cũng chính vì thế, người chỉ biết phòng bệnh cũng không thể là thượng công. Hoàn Sơn Chính Lan tiên sinh thì cho rằng : “Thời kỳ tiền triệu của nhồi máu não, đã chứng minh là phù hợp với khái niệm Đông y trị vị bệnh”. Ngoài ra, còn có quan điểm của một số tác giả khác như : “Tại thời điểm những căn bệnh nan y được chẩn đoán phát bệnh, tiến hành trị liệu trước khi bệnh phát là trị vị bệnh” ; hay quan điểm: “Trị vị bệnh nhất thiết phải chẩn đoán ra vị bệnh…Dùng biện chứng luận trị của y học cổ truyền làm trọng điểm thì sẽ chẩn đoán ra bệnh” ; hay có quan điểm : “Trị vị bệnh chính là y học dự phòng”.
Có thể thấy, tư tưởng “trị vị bệnh” của y học cổ truyền có khởi nguồn từ rất sớm, được duy trì và phát triển ngày càng sâu sắc qua các thời đại. Vấn đề quan trọng hiện nay là, người thầy thuốc y học cổ truyền trong thời hiện đại phải biết quý trọng, nghiên cứu, thừa kế, hoàn thiện và phát huy tối đa giá trị của học thuyết này trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa y học cổ truyền và y học hiện đại nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong công cuộc phòng chống bệnh tật cho con người.

                                                                        BS Lê Vân Hồng
                                                                ThS Hoàng Khánh Toàn

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2019

Đông dược chống phóng xạ


ĐÔNG DƯỢC PHÒNG CHỐNG NHIỄM PHÓNG XẠ



     Nhiễm phóng xạ là một trong những vấn đề hết sức quan trọng trong xã hội hiện đại khi vũ khí nguyên tử, nhà máy điện hạt nhân và những sự cố của nó đã và đang đe dọa đến sức khỏe và tính mạng con người trên toàn thế giới. Vậy nên, việc nghiên cứu và sử dụng các thuốc và chế phẩm có công dụng phòng chống nhiễm phóng xạ có ý nghĩa vô cùng to lớn. Một trong những hướng nghiên cứu quan trọng mà các nhà khoa họa đã và đang tiến hành là : trên cơ sở thừa kế kho tàng kinh nghiệm của y học cổ truyền và bằng trang thiết bị hiện đại  tìm hiểu, chứng minh và sử dụng các loại thảo dược có khả năng phòng chống nhiễm phóng xạ.
     Kết quả nghiên cứu trên thực nghiệm và lâm sàng cho thấy, có khá nhiều vị thuốc đông y có công dụng này ở các mức độ khác nhau, trong đó đặc biệt phải kể đến các dược thảo rất thông dụng trong đời sống và hoạt động kê đơn bốc thuốc hàng ngày như : lá trà, tam thất, nhân sâm, nấm linh chi, hoàng kỳ, hoa hòe, đương quy, đan sâm, kỷ tử, thục địa, xuyên khung, nhục quế, sa sâm, đông trùng hạ thảo, a giao, sài hồ, côn bố, hải tảo (tảo biển), tô tử, trư linh, lô hội (nha đam), ô mai, mộc nhĩ, đậu xanh...Để phòng chống nhiễm phóng xạ, có thể sử dụng các dược liệu này theo phương thức độc vị hoặc kết hợp với các vị thuốc khác trong các bài thuốc thuốc cổ hay các bài thuốc kê đơn theo nguyên tắc biện chứng luận trị dưới dạng cổ truyền như thuốc sắc, thuốc hoàn, thuốc bột, trà dược, rượu thuốc, món ăn - bài thuốc...hoặc các dạng được bào chế theo công nghệ hiện đại như trà tan, trà nhúng, viên nang, viên nén, siro...Dưới đây, xin được giới thiệu một số các dùng đơn giản và thông dụng :
- Nên sủ dụng nước trà hàng ngày, đặc biệt là nước trà tươi với liều lượng không hạn chế.
- Đan sâm 300g, tam thất 100g, hai thứ sấy khô, sao qua, tán thành bột mịn, trộn đều, mỗi ngày uống 10g chia 2 lần với nước ấm.
- Nhân sâm 100g, hoàng kỳ 100g, đương quy 100g, tất cả sấy khô, tán thành bột mịn, trộn đều, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 5g.
- Đậu xanh để cả vỏ 50g, gạo tẻ 100g, hai thứ ninh nhừ thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày
- Mộc nhĩ đen 60 g một nửa sao cháy, một nửa sao khô; vừng đen 15 g sao thơm. Tất cả tán vụn, trộn đều, mỗi ngày lấy 6 g hãm với 120 ml nước sôi, uống thay trà.
- Lô hội 100g, rửa sạch, nghiền nhỏ, vắt lấy nước cốt uống hàng ngày. Người tỳ vị hư hàn, hay bị đi lỏng và rối loạn tiêu hóa thì không nên dùng bài này.
- Hải tảo 20g, côn bố 20g, cam thảo 4g, ba thứ thái vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
- Nấm linh chi 200g, sấy khô tán vụn, đựng trong lọ kín dùng dần, mỗi ngày lấy 5g hãm với nước sôi trong 15 phút uống cả nước và cái.
- Thịt vịt 200g đem hầm với 3g đông trùng hạ thảo, chế đủ gia vị, chia ăn vài lần.
- Hoa hòe 20g, trà 10g, hai thứ hãm với nước sôi, uống trong ngày.
- Kỷ tử 30g hãm với nước sôi uống thay trà trong ngày.
- Hoµng kú 300g, kª huyÕt ®»ng 300g, ph¸ cè chØ 200g, thá ty tö 200g, ®­¬ng quy 200g, kû tö 200g, trÇn b× 150g. C¸c vÞ thuèc sÊy kh«, t¸n vôn, ®ùng trong lä kÝn ®Ó dïng dÇn. Mçi ngµy lÊy 30g h·m víi n­íc s«i trong b×nh kÝn, sau chõng 15 - 20 phót th× dïng ®­îc, uèng thay trµ trong ngµy, tèi ®a cã thÓ dïng 60g mçi ngµy
- Sinh hoµng kú 250g, ®¼ng s©m 250, b¹ch truËt 250g, b¹ch linh 250g, ph¸ cè chØ 300g. C¸c vÞ thuèc sÊy kh«, t¸n vôn, ®ùng trong lä kÝn ®Ó dïng dÇn. Mçi ngµy lÊy 50g h·m víi n­íc s«i trong b×nh kÝn, sau chõng 15 - 20 phót th× dïng ®­îc, uèng thay trµ trong ngµy.
- Sinh hoµng kú 100g, n÷ trinh tö 100g, linh chi 60g, ®­¬ng quy 60g, ®an s©m 60g, ®¼ng s©m 60g, s¬n thï 60g. C¸c vÞ sÊy kh«, t¸n vôn, ®ùng trong lä kÝn ®Ó dïng dÇn. Mçi ngµy lÊy 50g h·m víi n­íc s«i trong b×nh kÝn, sau 20 phót th× dïng ®­îc, uèng thay trµ trong ngµy
- N÷ trinh tö 100g, kû tö 100g, th¸i tö s©m 100g, kª huyÕt ®»ng 150g. C¸c vÞ sÊy kh«, t¸n vôn, ®ùng trong lä kÝn dïng dÇn. Mçi ngµy lÊy 45g h·m víi n­íc s«i trong b×nh kÝn, sau chõng 15 phót th× dïng ®­îc, uèng thay trµ trong ngµy.
          Ngoài ra, cần chú ý ăn nhiều rau quả tươi có chứa nhiều lycopene như cà chua, dưa hấu..., chứa nhiều vitamin C và E như các loại đậu, dầu thực vật, cà rốt, cam, uýt, bưởi...để tăng cường khả năng chống oxy hóa và chống phóng xạ cho cơ thể.


                                                                                       Hoàng Khánh Toàn   

    

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2018

CÓ NÊN PHỐI HỢP ĐÔNG DƯỢC VỚI TÂN DƯỢC ?


CÓ NÊN PHỐI HỢP ĐÔNG DƯỢC VỚI TÂN DƯỢC ?

  
     Hiện nay, theo đà phát triển của công tác kết hợp y học hiện đại và y học cổ truyền, việc phối hợp sử dụng tân dược (thuốc tây) và đông dược (thuốc ta) có xu hướng ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, có một câu hỏi không dễ tìm lời giải đáp luôn được đặt ra là : có nên cùng dùng cả hai loại thuốc tây và thuốc ta với nhau hay không ? Có hai ý kiến trái ngược với nhau về vấn đề này : ý kiến thứ nhất cho rằng hoàn toàn không nên bởi lẽ lý luận chỉ đạo, đặc tính và cách dùng hai loại thuốc là rất khác nhau, nếu dùng chung sẽ không thể kiểm soát được và dễ xảy ra các tai biến không mong muốn ; ý kiến thứ hai cho rằng hoàn toàn nên, bởi lẽ phương thức kết hợp sẽ tạo nên tác dụng cộng hưởng và phát huy triệt để thế mạnh của từng loại thuốc.
     Kỳ thực, cả hai quan niệm trên đều không tránh khỏi tính chủ quan và phiến diện. Bởi lẽ, câu trả lời chính xác chỉ có thể có được dựa trên kết quả nghiên cứu một cách khoa học và nghiêm túc. Thực tế đã chứng minh rằng nếu sự phối hợp đó là hợp lý thì có thể nâng cao hiệu quả và mở rộng phạm vi điều trị, giảm bớt các tác dụng phụ của mỗi loại thuốc ; nếu sự phối ngũ đó không hợp lý thì chẳng những công hiệu của dược vật bị hạn chế mà có khi còn làm nặng hơn hoặc phát sinh các tác dụng phụ, thậm chí có thể đưa đến những hậu quả nghiêm trọng.
     Cho đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện khá nhiều tân dược và đông dược khi phối hợp với nhau sẽ làm tăng hiệu quả trị liệu. Ví như, kim ngân hoa phối hợp với Bezyl penicillin có tác dụng ức chế khả năng kháng Penicillin của tụ cầu vàng. Các vị thuốc đông y thuộc nhóm thanh nhiệt giải độc như bồ công anh, diếp cá, lô căn, thạch cao, trúc diệp, bản lam căn...phối hợp với Penicillin G có tác dụng nâng cao hiệu quả trị liệu đối với các đợt bùng phát cấp tính của bệnh viêm phế quản mạn tính. Những đông dược kiềm tính như bằng sa, ngoã lăng tử khi dùng kết hợp với Oxacillin và Erythromycin có thể ngăn được sự phá huỷ của dịch vị, làm tăng khả năng hấp thu và hiệu lực kháng khuẩn của hai loại kháng sinh này. Griseofulvin là một kháng sinh chống nấm thường khó hấp thu và dễ gây ra các phản ứng bất lợi như buồn nôn, nôn, đi lỏng, đau đầu...nếu phối hợp với nhân trần có thể làm tăng độ dung giải, nâng cao hiệu lực sinh học và có thể giảm lượng dùng của Griseofulvin từ 33 - 55%. Diphenhydramine (Benadryl) phối hợp với ma hoàng và Clenbuterol phối hợp với dương kim hoa (cà độc dược) đều có tác dụng hiệp đồng nâng cao hiệu quả điều trị bệnh hen phế quản.
     Mặt khác, không ít sự phối hợp giữa thuốc tây và thuốc ta còn có tác dụng mở rộng phạm vi ứng dụng của mỗi loại thuốc. Ví như, Aminazine khi phối hợp với bột trân châu không những hiệu quả trị liệu được nâng cao rõ rệt mà còn có thể dùng được cho cả những bệnh nhân chức năng gan bị rối loạn do bột trân châu có khả năng cải thiện hoạt động của tế bào gan và dự phòng các thương tổn gây nên do Aminazine. Phức hợp dã cúc hoa - Eutonyl trong chế phẩm “Dã lạc phiến” không chỉ có hiệu năng giảm áp ở người bị huyết áp cao mà còn được mở rộng dùng cho người bị di chứng liệt nửa người do rối loạn tuần hoàn não. Dịch tiêm đan sâm và sinh mạch tán (bài thuốc gồm ba vị : nhân sâm, mạch môn và ngũ vị tử) phối hợp với Hyoscyamine không những làm tăng nhịp tim ở người có hội chứng yếu nút xoang (sick sinus syndrome - SSS) mà còn có tác dụng cải thiện tuần hoàn huyết dịch, cải thiện tình trạng thiếu máu cơ tim, giải quyết cả “ngọn” và “gốc” của vấn đề.
     Một số dược liệu khi phối hợp với thuốc tây còn có khả năng làm giảm thiểu các tác dụng không mong muốn. Ví như, Streptomycin nếu dùng quá dài ngày có thể dẫn đến tình trạng giảm thính lực và chóng mặt do tổn thương hệ thống tiền đình. Khi dùng phối hợp với cam thảo các tác dụng phụ này sẽ được giảm thiểu bởi lẽ Glycyrrhizic acid có trong thành phần của cam thảo sẽ kết hợp với gốc kiềm tính của Streptomycin để tạo nên Streptomycin glycyrrhizinate có độc tính thấp hơn nhưng năng lực kháng khuẩn vẫn được giữ nguyên. Cyclophosphamide là thuốc chữa ung thư nhưng thường có các tác dụng phụ ở đường tiêu hoá như nôn, buồn nôn, đi lỏng.... Khi dùng kết hợp với bạch cập và hải phiêu tiêu thì các rối loạn này được phòng chống một cách tích cực nhờ vào khả năng chỉ huyết, tiêu thũng và bảo vệ niêm mạc dạ dày và ruột của hai vị thuốc này, Thập toàn đại bổ là một bài thuốc cổ có tác dụng vừa bổ khí vừa bổ huyết, khi dùng phối hợp với Rifamixin (thuốc kháng lao) sẽ giảm thiểu chứng hạ bạch cầu do thuốc này gây nên, đồng thời nâng cao hiệu lực kháng lao của nó.
     Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu thực nghiệm và lâm snàg cũng cho thấy : trong nhièu trường hợp sự phối hợp giữa thuốc ta và thuốc tây đã đưa lại những hiệu quả bất lợi. Trước hết, có thể làm giảm tác dụng trị liệu của thuốc thông quaviệc ảnh hưởng đến quá trình hấp thu hoặc tương tác làm biến đổi cấu trúc và hoạt tính dược lý. Ví như, các vị thuốc đông y có chứa nhiều ion kim loại như thạch cao, hải phiêu tiêu, thạch quyết minh, hổ cốt, long cốt, mẫu lệ...(chứa nhiều Ca) ; minh phàn (chứa nhiều Al) ; đại giả thạch, đồng tự nhiên (chứa nhiều Cu) ; xích thạch chi, hoạt thạch (chứa nhiều Mg và Cu)...không nên dùng cùng một số kháng sinh như Tetracycline, Rimifon...vì sẽ làm giảm hệ số hấp thu, ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả trị liệu. Các vị thuốc có chứa nhiều Tanin như đại hoàng, ngô thù du, kim anh tử, kha tử, ngũ bội tử, thạch lựu bì, địa du, biển súc...và các chế phẩm đông dược như Lục vị địa hoàng hoàn, Hoè giác hoàn...không nên hợp dùng với một số kháng sinh như Chloromycetine, Erythromycine, Rifampin, Griseofulvin, Nystatin, Lincomycin, Tetracycline và Vitamin B1 để tránh phản ứng giữa Tanin và các tân dược này tạo nên các sản phẩm kết tủa làm giảm hiệu quả điều trị. Các thuốc tây kiềm tính như Aminophylline, Gastropine, Sodium bicarbonate, Aluminum hydroxide...không nên phối hợp với các vị thuốc đông y toan tính như sơn tra, ô mai, sơn thù, ngũ vị tử...và các chế phẩm như Sơn tra hoàn, Bảo hoà hoàn...vì sẽ gây ra phản ứng trung hoà kiềm toan làm ảnh hưởng đến hiệu lực của thuốc.
     Thêm nữa, một số thuốc tây và thuốc ta khi phối hợp với nhau có thể gây ra các phản ứng độc hại. Ví như, ma hoàng và các chế phẩm có ma hoàng như Đại lạc hoạt đan, Nhân sâm tái tạo hoàn, Chỉ khái định suyễn hoàn...không nên phối hợp với các thuốc có tác dụng ức chế Monoamine oxidase (MAO) như Furazolidone, Eutonyl, Isocarboxazid, Methylhydrazine...vì dễ gây ra các phản ứng phụ nguy hiểm do các chất như Adrenaline, Dopamine, Serotonin không bị phá huỷ, ứ đọng ở các mạt đoạn thần kinh gây nên. Các thuốc lợi tiểu như Lasix, Hypothiazid không nên hợp dùng với cam thảo vì Glycyrrhizin và Glycyrrhetinic acid chứa trong cam thảo sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới thận cùng với các thuốc lợi tiểu dễ gây các phản ứng bất lợi do giảm kali máu quá mức...Các vị thuốc có chứa Alkaloid như ô đầu, hoàng liên, bối mẫu và các thành phẩm như Tiểu hoạt lạc đan, Hương liên hoàn...không nên phối hợp với Atropine, Cafeine và Aminophylline vì dễ gây các phản ứng do trúng độc.
     Như vậy, có thể thấy, tân dược cũng có thể dùng cùng đông dược, thậm chí trong nhiều trường hợp là hết sức cần thiết, nhưng với điều kiện sự phối hợp đó phải hợp lý, có cơ sở khoa học rõ ràng và nghiêm túc, tuyệt đối không phối hợp tuỳ tiện và liều lĩnh. Rất đáng tiếc là, cho đến nay, ở nhiều cơ sở y tế chính danh, việc phối hợp đông dược và tân dược vẫn mang nặng tính chủ quan và kinh nghiệm chủ nghĩa

                                                                                   ThS Hoàng Khánh Toàn

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2017

Thói quen xấu ảnh hưởng đến xương khớp

NHỮNG THÓI QUEN ẢNH HƯỞNG XẤU ĐẾN HỆ CƠ XƯƠNG KHỚP


Hiện nay, tỷ lệ bệnh nhân mắc các bệnh lý về cơ xương khớp ngày càng gia tăng và có xu hướng trẻ hóa, đặc biệt là các bệnh lý về cột sống. Ngoài nguyên nhân do quá trình thoái hóa tự nhiên diễn ra, thì phần lớn bệnh lý phát sinh là do những thói quen trong sinh hoạt hàng ngày làm ảnh hưởng xấu đến hệ cơ xương khớp. Việc chữa trị thường kéo dài dễ tái phát, làm giảm chất lượng cuộc sống, hiệu suất công việc cũng như gây gánh nặng về kinh tế. Để tránh mắc phải những căn bệnh liên quan tới xương khớp thì việc phòng bệnh là rất quan trọng. Dưới đây là những thói quen có tác động xấu, làm giảm tuổi thọ của xương khớp mà nhiều người hay mắc phải.
1. Bẻ tay, vặn lưng, cổ quá mức
Việc bẻ khớp ngón tay, vặn lưng, vặn cổ, các khớp hoạt động nhanh đột ngột và quá tầm vận động, dẫn đến việc phá hủy các cấu trúc sụn khớp và dây chằng xung quanh khớp nên rất có hại cho khớp.  
Đây chính là nguyên nhân khiến các khớp ngày càng to lên. Đồng thời, cũng có thể gây ra nhưng tổn thương như: bong gân, giãn dây chằng, trật khớp, làm sụn khớp nhanh bào mòn và đẩy nhanh quá trình lão hóa.
Nếu không bỏ thói quen này, khớp sẽ bị thoái hóa, biến dạng khớp, to khớp ở vùng các ngón tay hay rách dây chằng, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, cột sống thắt lưng, thoát vị nhân đĩa đệm gây chèn ép rễ thần kinh...
2. Đi giày cao gót
Giày cao gót giúp tăng chiều cao cơ thể, tạo dáng đẹp. Tuy nhiên, khi mang giày cao gót, các cơ của cột sống thắt lưng và bắp chân cũng như gân gót lâm vào tình trạng căng giãn quá mức nên rất dễ đau và mỏi. Triệu chứng sẽ là đau lưng, đau bắp chân hay đau phần trên của gót chân. Khi các nhóm cơ làm việc quá tải sẽ yếu, không giữ vững được các cấu trúc như cột sống, khớp gối, cổ chân dễ gây chấn thương do té ngã và tổn hại đến hệ khớp
Bằng việc nâng cao gót chân, toàn bộ trọng lượng cơ thể bình thường chịu lực qua xương gót to và dày thì lại chuyển qua chịu trên xương bàn và các ngón chân vốn dĩ mỏng hơn và nhỏ hơn. Nghiên cứu cho thấy độ cao của đế giày cứ tăng mỗi 2,5 cm thì áp lực lên bàn chân trước tăng 22-25%. Do đó mang giày cao 7cm, áp lực xương bàn phải chịu là 175% mức bình thường. Việc này rất dễ gây thoái hóa khớp bàn ngón, nhất là ngón cái.
Mũi giày càng nhỏ hẹp sẽ ép các ngón chân lại với nhau gây vẹo ngón cái ra ngoài, lâu ngày gây biến dạng ngón cái và các ngón khác. Ngoài ra, việc ép các ngón chân ở mũi giày gây chèn ép, tổn thương các nhánh thần kinh gây đau hay phì đại các nhánh thần kinh vùng bàn chân.
Tóm lại, tránh mang giày cao gót quá lâu, khi chọn mua giày không nên chọn đế quá cao, phần mũi giày không nên ép các ngón chân quá chật, chất liệu da giày nên mềm mại và không gây kích ứng.
3. Các thói quen xấu ảnh hưởng đến cột sống
- Ngồi không đúng tư thế, ngồi lâu.
- Mang balô nặng, mang túi nặng một bên.
- Đi khom người hay đứng xiêu vẹo.
- Nhặt đồ vật khom lưng hay khiêng vật nặng khom lưng
- Mang vật nặng xoay đột ngột.
Nếu bạn là dân văn phòng và phải thường xuyên ngồi máy tính làm việc mỗi ngày thì việc ảnh hưởng xấu đến xương khớp là điều không thể tránh khỏi. Ngồi làm việc hay đứng quá lâu tại một vị trí khiến tuần hoàn máu ở chân sẽ giảm, cơ mông, hông ngày càng trở nên kém linh hoạt, xương dần mỏng đi, giòn và dễ gãy hơn. Các khớp xương bàn tay, cổ tay và cánh tay luôn luôn phải hoạt động với chuột và bàn phím khiến cho các dây chằng và cơ phải chịu sức ép khi hoạt động liên tục.
Thói quen ngồi lâu, liên tục trên hai giờ làm mỏi nhóm cơ cạnh cột sống khiến chúng ta khòm lưng và cúi ra trước, dẫn đến căng các nhóm cơ và dây chằng phía sau cột sống. Sự mệt mỏi của hệ thống giữ vững này gây đau và nếu kéo dài làm cột sống không vững, dẫn đến tổn thương các đốt sống, thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống. Do đó, chúng ta cần hạn chế ngồi làm việc lâu quá hai giờ. Để phòng ngừa các bệnh xương khớp, bạn hãy từ bỏ thói quen ngồi làm việc quá lâu tại một vị trí mà hãy tranh thủ một vài phút giải lao đi lại, vận động nhẹ nhàng vừa giúp tinh thần thoải mái vừa ngăn ngừa bệnh thoái hóa khớp cổ, vai, cột sống.
Ngoài ra, việc mang balô hay túi nặng một bên khiến cột sống phải nghiêng hẳn một bên, các nhóm cơ hoạt động không đều dễ bị vẹo cột sống, tổn thương đốt sống và dây chằng. Do vậy khi mang túi xách, chúng ta không nên mang quá 10% trọng lượng cơ thể và khi phải mang nhiều hơn, chúng ta mang đều hai tay.
Khi cúi gập ngang hông lưng quá 90 độ, hệ thống dây chằng phía sau căng quá mức có thể bị rách, đĩa đệm chịu lực quá mức có thể lồi ra phía sau gây thoát vị đĩa đệm. Nên hạn chế gập lưng quá mức, nhất là khi nhặt đồ vật rơi. Đặc biệt không nên cúi người khiêng vật nặng. Tư thế đúng trong các việc này là ngồi xuống và thẳng lưng để nhặt đồ vật.
4. Ngồi xổm, leo cầu thang, chéo chân hay bó chân
Khớp gối gồm khớp chè đùi và khớp đùi chày, chịu toàn bộ trọng lượng của cơ thể. Khi gối co, áp lực do cơ ở phần đùi và gân bánh chè sẽ ép xương bánh chè trượt trên xương đùi. Lúc đi bộ, lực này tác động bằng khoảng 1/2 trọng lượng cơ thể, khi leo cầu thang lực này gấp 3-4 lần trọng lượng cơ thể và khi ngồi xổm, lực này gấp 7-8 lần trọng lượng cơ thể. Do vậy thói quen ngồi xổm tạo áp lực rất lớn phá hủy sụn xương bánh chè và sụn xương đùi gây thoái hóa khớp chè đùi. Tập luyện cơ tứ đầu đùi và tránh thói quen ngồi xổm, hạn chế tối đa lên xuống cầu thang hay khiêng vác lên cầu thang sẽ giúp bảo vệ khớp chè đùi.
5. Dùng thuốc giảm đau không theo chỉ định
Một lý do đáng lưu ý khác được xuất phát từ việc dùng thuốc giảm đau không đúng. Trong nhóm thuốc giảm đau kháng viêm thì tác dụng phụ viêm dạ dày là hay gặp nhất. Nguy cơ tim mạch, bệnh thận từ thuốc giảm đau cũng được ghi nhận với nhóm NSAID.
Nhóm thuốc kháng viêm mạnh như corticoid có hiệu quả cao, nhưng dùng lâu dài sẽ gây loãng xương và lệ thuộc thuốc, gây hội chứng Cushing do thuốc. Do vậy nên dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ.
6. Dinh dưỡng thiếu và không cân đối
Chế độ ăn uống ảnh hưởng rất lớn để khả năng hoạt động của hệ xương khớp. Ăn uống thiếu chất khiến cơ thể không đủ dinh dưỡng để nuôi dưỡng xương khớp. Ngược lại, chế độ ăn quá nhiều các chất đường và chất béo cũng khiến bạn thừa cân, béo phì, làm cho hệ xương khớp phải chịu đựng sức nặng nhiều hơn, hoạt động nhiều hơn, làm tăng nguy cơ bị các bệnh xương khớp.
Bệnh chuyển hóa ngày càng nhiều và gặp ở lứa tuổi ngày càng trẻ dần. Bệnh bao gồm rối loạn lipid máu, đái tháo đường, bệnh gout... Bệnh gout ảnh hưởng đến khớp nhiều nhất trong nhóm bệnh này, thường gặp ở những người hay ăn nhậu, uống nhiều bia rượu và ăn nhiều hải sản, nội tạng đôngn vật...
Thói quen sử dụng nhiều rượu bia, thuốc lá, cà phê, nước ngọt có ga cũng làm giảm lượng canxi và khả năng hấp thụ canxi gây ra bệnh loãng xương. Vì thế, tăng cường uống sữa, ăn nhiều rau xanh lá đậm, trái cây tươi, ngũ cốc, hải sản… vừa tốt cho sức khỏe vừa bảo vệ hệ xương khớp vững chắc.
8. Lười vận động                     
Lười vận động là một trong những thói quen xấu gây hại cho xương khớp. Theo một số nghiên cứu khoa học nhận thấy Việt Nam là một trong 10 nước có tỷ lệ người lười vận động nhất trên thế giới. Thói quen lười vận động sẽ dẫn đến hàng loạt các bệnh nguy hiểm như: tim mạch, tiểu đường, béo phì, đặc biệt là các bệnh về xương khớp như: viêm khớp, thoái hóa khớp, đau vai gáy, đau cột sống…
Thay vì ngồi một chỗ, mỗi ngày bạn chỉ cần dành khoảng 30 phút thực hiện những bài tập thể dục đơn giản, không chỉ rất hữu ích cho hệ xương khớp mà còn tăng cường sức khỏe như: bơi lội, đạp xe, đá bóng, cầu lông, võ thuật, tập thái cực quyền, khí công dưỡng sinh…
9. Giảm cân quá nhanh

Một nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ cho thấy tác dụng phụ của việc giảm béo đột ngột, kém an toàn chính là hạn chế quá trình hấp thụ canxi ở xương và đẩy nhanh quá trình lão hóa. Vì khi giảm cân quá nhanh khiến sự liên kết của lớp mỡ và bắp thịt trở nên lỏng lẻo. Đó là lý do vì sao mà trong một số trường hợp xảy ra sự cố như: ngã, trượt chân, thậm chí là gãy xương. Điều này cũng lý giải vì sao những người sau khi giảm cân lại yếu và dễ mắc bệnh loãng xương.

Trả lời bạn đọc

     Hỏi :  Cháu bị sổ mũi, nghẹt mũi. Đi khám bác sĩ chẩn đoán viêm mũi dị ứng và vẹo vách ngăn, uống thuốc nhưng không khỏi. Cháu đọc 1 bài báo có nói bài thuốc tên "thương nhĩ tán" có thể chữa viêm mũi, viêm xoang. Xin hỏi bác sĩ cháu có thể uống bài thuốc này được không, liều lượng và cách dùng như thế nào, mua ở đâu ạ? Xin bác sĩ chỉ giúp. Cháu cảm ơn!
     Đáp : Thương nhĩ tử tán là một phương thuốc do y gia trứ danh Nghiêm Dụng Hoà, tự Tử lễ, người Giang Tây, Trung Quốc sáng chế và được ghi lại trong trước tác Tế sinh phương nổi tiếng của Ông với thành phần đơn giản gồm : Thương nhĩ tử 2 tiền rưỡi (7g), tân di nửa lạng ta (15g), bạch chỉ 1 lạng (30g), bạc hà nửa tiền (1,5g), tất cả sấy hoặc phơi khô, tán thành bột mịn, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 6g.
    Thương nhĩ tử tán có công dụng tán phong hàn, thông tỵ khiếu (làm thông mũi), chỉ đầu thống (chống đau đầu), thường được dùng để trị các chứng bệnh về mũi xoang như Tỵ cừu (chảy nước mũi trong và hắt hơi nhiều, Tỵ tắc (ngạt mũi), Tỵ thế (chảy nước mũi), Tỵ trất (Ngạt mũi), Tỵ uyên (chảy nước mũi tanh hôi kéo dài)..., tương ứng với y học hiện đại là các bệnh như viêm mũi dị ứng, viêm mũi cấp và mạn tính, viêm xoang cấp và mạn tính...
     Trong phương, thương nhĩ tử vị cay đắng, tính ấm, có công dụng thông mũi, trừ phong thấp, chỉ thống (giảm đau) ; bạch chỉ vị cay, tính ấm, có công dụng giải biểu, trừ phong táo thấp, tiêu thũng bài nùng (chống phù nề và làm hết mủ), chỉ thống ; tân di vị cay, tính ấm, có công dụng tán phong hàn, thông tỵ khiếu ; bạc hà vị cay, tính mát, có công dụng sơ tán phong nhiệt, thanh lợi đầu mục, lợi hầu, thấu chẩn.
     Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, thương nhĩ tử có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, giảm đau, giảm ho, ức chế miễn dịch, chống ôxy hoá, hạ huyết áp và đường huyết, hưng phấn hô hấp và chống ung thư ; bạch chỉ có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, giảm đau, giải nhiệt, chống co giật, hạ huyết áp, chống ung thư và cầm máu ; tân di có tác dụng giảm đau, tiêu viêm, giảm phù nề, chống dị ứng, hạ huyết áp, kháng khuẩn, ức chế ngưng tập tiểu cầu, chống ung thư và làm hưng phấn hô hấp ; bạc hà có tác dụng giải nhiệt, giảm đau, kháng khuẩn, kháng virut, chống viêm, giảm ho, trừ đàm, giảm ngứa, và lợi mật. Điều này giải thích vì sao bốn vị thuốc phối hợp với nhau trong phương thuốc lại có công dụng trị liệu hữu hiệu các bệnh lý viêm nhiễm ở mũi xoang.
     Bạn hoàn toàn có thể dùng bài thuốc này dưới dạng thuốc sắc uống hoặc sử dụng các thành phẩm đông dược có nguồn gốc từ Thương nhĩ tử tán ví như viên nang Thương nhĩ tử tán của công ty Mediplantex hoặc Thông xoang tán của công ty Nam dược. Tuy nhiên, các sản phẩm này được sản xuất để dùng chung cho mọi đối tượng nên hiệu quả chỉ ở mức vừa phải. Tốt nhất là bạn nên đến các cơ sở y học cổ truyền để khám và kê đơn theo quan điểm “biện chứng luận trị” thì kết quả sẽ tốt hơn nhiều. Thông thường người ta hay dùng bài thuốc này phối hợp với bài Ngọc bình phong tán. Nếu có thể, bạn hãy đến khoa Đông y, bệnh viên trung ương Quân đội 108, số 1, Trần Hưng Đạo, Hà Nội, chúng tôi sẽ sẽ sẵn lòng giúp bạn. Địa chỉ liên hệ : 069572256 hoặc 0983585858.


Thứ Năm, 9 tháng 3, 2017

DU XUÂN CHÓ MUA NHẦM GIẢ DƯỢC

DU XUÂN, CHỚ MUA NHẦM GIẢ DƯỢC

     Du xuân là một nét văn hóa đẹp và đầy ý nghĩa của người Việt. Ngoài việc thưởng ngoạn các danh lam thắng cảnh, tìm hiểu những di tích văn hóa và lịch sử, thực hiện các hoạt động tâm linh lành mạnh..., du khách còn có dịp biết đến các sản vật phong phú và độc đáo của mỗi vùng, trong đó không thể không kể đến các cây, con và khoáng vật được dùng để làm thuốc. Với ước vọng có được sức khỏe thật tốt trong năm mới cho bản thân và gia đình, nhiều người sẵn sàng xả tiền ra để mua các dược liệu này mà không cần biết hoặc giả không thể biết chúng là của thật hay của dởm, nhất là khi người bán lại có “nghệ thuật” thuyết giáo hết sức mùi mẫn. Vậy, những dược liệu nào hay bị làm “dởm” ?
     Khó có thể kể hết các loại dược liệu dễ bị gian thương làm giả vì mục đích trục lợi. Tuy nhiên, có thể dẫn ra một số loại thông dụng như :
- Nhân sâm thường được làm giả bằng hoa sơn sâm, thổ nhân sâm (những loại sâm có công dụng thua kém nhân sâm rất nhiều), thương lục (là vị thuốc bệnh có tác dụng trục thủy, dùng không đúng chỉ định rất nguy hiểm)
- Tam thất chính hiệu bị làm “dởm” bởi các dược liệu khác như nga truật (nghệ đen), bạch cập (là vị thuốc cầm máu), cúc tam thất, củ hồi đầu, thổ tam thất, tam thất gừng (khương tam thất)...hoặc bị chế tác từ loại xấu thành loại tốt bằng cách cắt và dùng keo ghép các củ tam thất nhỏ và kém chất lượng thành những củ to, được đánh bóng và găm các mảnh chì bên trong để bán với giá cao hơn.
- Hoài sơn thường được làm giả bằng sắn, khoai mỡ, khoai lang
- Ba kích thật bị làm giả bởi rễ cây mặt quỷ (dương giác đằng), song hoa ba kích (Morinda shuanghuaensis), bạch mộc thông, tam diệp mộc thông...
- Đỗ trọng bị làm giả bởi vỏ cây tử hoa lạc thạch (Trachelospermum axillare), đỗ trọng nam...
- Sa nhân giả thường được chế từ thảo quả (hồng xác sa nhân), bạch đậu khấu, thổ sa nhân, sơn khương...
- Tắc kè thường được làm giả từ các loại thạch sùng có tên là bích hổ (Gekko chinensis) hoặc liễm hổ (Eublepharis lichterfeldri)...
- Mật gấu giả được chế từ túi mật của các loại động vật khác như lợn, dê, trâu, bò...hoặc được chế từ bàng quang hoặc một đoạn ruột động vật, bên trong có chứa cao thực vật có mầu và vị đắng giống mật gấu thật.
- Huyết kiệt được làm giả từ hỗn hợp nhựa thông, bột đá và nguyên liệu có màu sắc gióng huyết kiệt thật...

Việc mua và dùng phải các loại dược liệu “dởm” khiến cho du khách không chỉ lâm vào tình trạng “tiền mất tật mang” mà còn có thể dẫn đến những hậu quả nguy hiểm như dị ứng, ngộ độc..., thậm chí có thể tử vong. Bởi vậy, khi đi chơi xuân, du khách nên hết sức thận trọng trong việc tìm mua các loại dược liệu được bầy bán.

Thứ Tư, 28 tháng 12, 2016

RƯỢU VÀ TINH DỤC

NGÀY XUÂN, NÓI CHUYỆN VỀ RƯỢU VÀ TÌNH DỤC


     Ngày xuân, không thể thiếu rượu và việc uống rượu. Đối với người Việt Nam chúng ta nói riêng và thế giới nói chung, rượu không chỉ là một đồ uống thông dụng mà còn là một nét văn hóa đặc sắc của không ít vùng miền. Tuy nhiên, trong nhiều năm gần đây, rượu và chuyện uống rượu đã trở thành một vấn đề bức xúc trong xã hội bởi những hệ lụy lớn lao của nó và đã gây ra những chuyện bàn cãi về công dụng của rượu trên nhiều phương diện của đời sống xã hội và sức khỏe con người, trong đó có vấn đề rượu và sức khỏe tình dục.
     Người xưa có câu: “Tửu vi bách dược chi trưởng” (rượu đứng đầu trăm thứ thuốc). Sách thuốc cổ cũng viết: “ Tửu, thông huyết mạch, hậu tỳ vị, nhuận bì phu, tán thấp khí, hành dược thế, sát bách tà, chỉ đông thống, khước phong hàn”, nghĩa là: rượu có công dụng làm lưu thông huyết mạch, trợ giúp tỳ vị, làm da dẻ nhu nhuận, trừ phong thấp, dẫn thuốc, sát trùng, giảm đau và nâng cao năng lực chống lạnh. Về phương diện sức khỏe tình dục, người xưa vẫn thường gắn liền hai chữ “tửu” và “sắc” với nhau, điều đó phần nào nói lên công năng lợi “sắc” của rượu và rượu được goi là “tình dược” (thuốc dùng cho tình dục). Theo dược học cổ truyền, vì có tính ấm vị cay nên rượu có tác dụng khởi dương, trợ dương, hưng dương và làm ôn thông kinh mạch rất có lợi cho sức khỏe tình dục. Đặc biệt là khi rượu được ngâm với các vị thuốc có công năng ôn thận bổ dương, tăng cường sinh lý như ba kích, nhục dung, dâm dương hoắc, tỏa dương, tiên mao, hải cẩu, ngẩu pín…
     Thực tế cuộc sống và kết quả nhiều nghiên cứu cho thấy, rượu có tác dụng làm tăng hưng phấn cho “chuyện chăn gối”. Nó có xu hướng làm thoát trạng thái ức chế, làm giảm độ lo âu, bồn chồn, khiến tâm trí con người có cảm giác lâng lâng dễ chịu làm tăng mức độ tự tin và giúp vượt qua sự nhút nhát tự ti khi “động phòng”. Rượu mang tới cảm giác ấm áp, hạnh phúc và loại bỏ các ức chế trong cuộc sống, điều đó được coi như là một loại thích kích dục. Rượu cũng làm chậm các vùng bảo vệ ở não, suy nghĩ đề phòng đối phương sẽ bị loại bỏ và việc tiếp cận giữa những người khác giới trở nên dễ dàng, đơn giản hơn. Điều này hết sức quan trọng vì sự căng thẳng kéo dài và nỗi lo không đạt hiệu quả mong muốn trên gường ngủ có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng quan hệ tình dục. Lo âu và bận tâm không mong muốn là những yếu tố thường gây thất bại tạm thời cho vấn đề cương dương. Bởi vậy, nhiều người cho rằng, rượu là chất nạp nhiên liệu cho sự ham muốn, ức chế sợ hãi về tình dục và thật sự nó là chất xúc tác cho sinh hoạt lứa đôi. Đây, có lẽ cũng là lý do tại sao nhiều nền văn hóa cổ đại, bao gồm cả những người La Mã hùng mạnh, xem rượu như là một chất kích thích tình dục mạnh mẽ
     Thêm nữa, một số nghiên cứu cho thấy, nếu trong bữa cơm chiều uống một ít rượu brandy thì sẽ đạt được hiệu quả bất ngờ trong chuyện ái ân vào tối hôm đó. Cũng có nghiên cứu chứng minh nếu đều đặn mỗi ngày uống 1-2 ly rượu vang đỏ thì chất lượng yêu cũng sẽ được cải thiện đáng kể. Vì trong rượu vang có chứa chất làm giảm cholesterol trong máu, thúc đẩy quá trình trao đổi chất, giúp cơ thể linh hoạt hơn nên rất thích hợp với những người có thể trạng béo và thường ăn nhiều đạm. Hơn nữa, rượu vang còn giúp cơ thể sản xuất ra Endothylin (một loại protein chống gây co mạch máu, làm tăng lượng oxy đến tim). Vì vậy, rượu vang đỏ có tác dụng phòng bệnh tim mạch, lượng máu lưu thông tốt hơn, nhờ đó việc yêu được kéo dài. Nói chung, rượu sẽ làm giãn nở các mạch máu ở dương vật, giúp tăng lượng máu đến thể hang khiến khả năng cương cứng tốt và kéo dài hơn. Đối với những người bình thường thì nó sẽ giúp tăng cảm giác cho việc giao hợp, còn đối với người mắc chứng rối loạn cương dương thì rượu lại giúp cải thiện chức năng cương cứng phù hợp để quan hệ.
     Ngoài ra, với một lượng nhất định rượu còn đẩy lùi tỷ lệ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt xuống mức thấp nhất và tăng khả năng yêu, dự phòng tình trạng xuất tinh sớm. Các chất có tác dụng chống lão hóa trong rượu vang như reveratrol còn làm tăng lượng hormone sinh dục nam, tăng lượng calci trong máu, nhờ đó mà chất lượng sinh hoạt tình dục được cải thiện.
     Tuy nhiên, từ xưa đến nay, y học luôn luôn khẳng định : rượu chỉ thực sự có lợi cho sức khỏe nói chung và khả năng sinh hoạt tình dục nói riêng khi được dùng với một liều lượng thích hợp. Nếu lạm dụng với liều lớn và kéo dài, rượu sẽ làm ức chế hệ thần kinh trung ương nói riêng và các cơ quan tạng phủ khác nói chung, thậm chí có thể đưa đến mức tê liệt và vì thế năng lực tình dục cũng lâm vào trạng thái ức chế. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trước hết, ở những người nghiện rượu thường lâm vào tình trạng suy giảm ham muốn tình dục, điều này có liên quan đến kích thích tình dục của cơ thể, bao gồm cả quá trình cung cấp máu cho các thể hang ở dương vật khi não bị ý niệm khiêu dâm kích thích. Hơn nữa, cơ thể không thể duy trì năng lực quan trọng cần thiết để hỗ trợ sự hấp thu oxy gia tăng trong lúc quan hệ tình dục.
     Thứ đến, rượu là nguyên nhân thực thể gây liệt dương, xuất tinh sớm, xuất tinh khó, teo tinh hoàn…ở nam giới do làm giảm mức testosteron (hormone sinh dục nam có tác dụng duy trì đòi hỏi tình dục và kích thích tuyến tiền liệt, túi tinh bài xuất tinh dịch). Đồng thời, uống quá nhiều rượu một lúc hoặc nghiện rượu còn gây ức chế trung khu thần kinh, làm giảm sức khỏe trí não từ đó dẫn đến nhiều phiền toái cho đời sống tình dục.
     Thêm nữa, rượu còn làm giảm độ nhạy cảm tình dục của cả nam giới và nữ giới. Ở những phụ nữ nghiện rượu, nồng độ cồn trong máu tăng cao sẽ gây rối loạn nội tiết thể hiện bằng sự gia tăng tỷ lệ trị số giữa nội tiết tố nam và nội tiết tố nữ. Nội tiết tố nam có tác dụng khêu gợi ham muốn tình dục, khi nội tiết tố nữ tăng còn nội tiết tố nam giảm sẽ làm suy giảm ham muốn “chăn gối”. Ngoài ra, rượu còn gây hại đối với buồng trứng khiến cho lượng và tỷ lệ nội tiết tố tình dục mất cân bằng, từ đó dẫn đến suy giảm ham muốn tình dục, thậm chí gây rối loạn kinh nguyệt hoặc vô sinh. Có những nghiên cứu khảo sát trên phụ nữ nghiện rượu cho thấy, ở những nữ giới dưới 40 tuổi có tới 87% bị trục trặc về chức năng buồng trứng và dẫn đến những rối loạn tình dục và kinh nguyệt. Đó là chưa kể đến việc rượu còn làm giảm tiết dịch của âm đạo để bôi trơn trong khi quan hệ và gây khó khăn trong việc đạt được cực khoái hoặc đạt cực khoái không đầy đủ.
     Ngoài ra, nhiều đáng “mày râu” lạm dụng bia rượu mà không hề biết rằng thói quen xấu này có ảnh hưởng rất lớn đến con cái. Các nhà khoa học đã tiến hành lấy mẫu tinh trùng của những người đàn ông uống rượu thì thấy có đến 70% tinh trùng phát triển không bình thường do tác động của rượu cồn. Khi những tinh trùng này gặp trứng của người nữ và thụ thai sẽ làm tăng nguy cơ sảy thai. Đứa trẻ sinh ra tiềm ẩn nhiều nguy cơ bệnh tật và những đặc điểm bất thường về tâm sinh lý. Thậm chí nếu người mẹ uống rượu trong thời gian mang thai, đứa con đó có thể bị khuyết tật về trí tuệ. Cũng không ít nghiên cứu cho thấy, rượu có thể gây vô sinh nam do không đủ về số lượng tinh dịch, số lượng và chất lượng tinh trùng dẫn đến hiện tương khó thụ thai, vô sinh hiếm muộn. Đó là chưa kể quan hệ tình dục khi say rượu có thể gây nên những tổn thương về tinh thần cũng như thể chất, thậm chí có thể gây chứng “thượng mã phong” và đột tử.
     Tóm lại, rượu là thuốc và cũng là “tình dược” khi sử dụng với một lượng thích hợp tùy theo thể chất, tuổi tác, tửu lượng, chủng loại rượu và tình trạng sức khỏe. Thứ đồ uống này tuyệt nhiên không có lợi cho sức khỏe nói chung và sức khỏe tình dục nói riêng nếu như uống quá nhiều và kéo dài đến mức gây ra tình trạng nghiện rượu. Đây là một vấn đề rất đáng báo động hiện nay khi theo những con số thống kê mới nhất, tính riêng những người sử dụng đồ uống có cồn tại Việt Nam, trung bình một năm tiêu thụ 17,2 lít cồn nguyên chất; đặc biệt nam giới tiêu thụ 27,4 lít/người/năm, gấp hơn 4 lần mức tiêu thụ trung bình toàn cầu, đứng thứ hai sau Thái Lan ở trong khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 10 châu Á và đứng thứ 29 trên thế giới.


                                                                                    Hoàng Khánh Toàn