Thứ Hai, ngày 01 tháng 4 năm 2013

Củ nần rất độc


Cây củ nần rất độc

Theo thông tin từ Bệnh viện Huyện Kon Chro tỉnh Gia Lai cho biết: Ngày 25/10/2012 bệnh viện đã tiếp nhận 8 bệnh nhân nam nhập viện trong tình trạng đau đầu, đau bụng, nôn mửa và tiêu chảy. Sau khi khám và làm các xét nghiệm, bệnh viện đã xác định các bệnh nhân bị ngộ độc do ăn củ nần. Các bệnh nhân này quê ở  huyện Phù Mỹ (Bình Định) lên huyện Kon Chro làm thuê nên thấy loại củ rừng mọc nhiều ở vùng này đã nấu để ăn và bị ngộ độc.  Vậy, cây củ nần độc như thế nào, có thể nhầm lẫn với loại cây củ gì ? Sau đây là những thông tin cần thiết để giúp bà con nhận biết, phân biệt và phòng tránh ngộ độc.
Củ nần, còn được gọi là  củ nê, củ nằng, củ nâu trắng, có tên khoa học là Dioscorea hispida Dennst, thuộc họ Củ nâu (Dioscoreaceae). Cây  mọc trên các nương rẫy hoang, là loại cây leo cao tới 30m, có lông mềm với các lông màu vàng nhạt hoặc nhẵn hình trụ, thường có gai nhiều. Lá có 3 lá chét có lông nhẵn trông giống như lá cây củ đậu, lá chét giữa hơi lớn hơn, dài 16cm, rộng 10cm. Lá rụng vào mùa khô, mọc lại vào tháng 3-4. Cụm hoa to, dài tới 50cm; bông đực dày nhiều nhánh, bông cái thòng. Quả nang dày lông vàng, có cánh rộng ở phía giữa tới 16mm; quả dài, thót lại về phía trên thành một mũi nhọn tù hay tròn. Hạt to, dài 10mm, với một cánh lớn màu vàng nâu. Mùa ra hoa vào cuối tháng 3.
          Trong củ và lá cây củ nần có các alcaloid độc là dioscorin và dioscorein.          Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, alcaloid trong củ nần có cấu trúc tương tự cocain và tác dụng cũng có những điểm giống nhau, đặc biệt là liều độc rất cao Dioscorin là một loại chất độc mạnh, chỉ cần 10mg có thể giết chết một con ngựa. Còn dioscorein là một chất bay hơi ít độc hơn. Củ nần rất độc, một miếng to bằng quả táo tây đủ để làm tử vong một người lớn trong 6 giờ. Biểu hiện ngộ độc củ nần bắt đầu với cảm giác ngứa trong cổ họng kèm theo nóng rát, chảy nước rãi rồi xuất hiện choáng váng, buồn ngủ, nôn ra máu, khó thở..., trường hợp nặng có thể dẫn tới hôn mê và  tử vong. Vì vậy, tuyệt đối không được sử dụng cây củ nần để làm thức ăn cho người và gia súc.
          Theo ThS Hoàng Khánh Toàn, chủ nhiệm khoa Đông y, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, trong các sách thuốc cổ như Lục châu bản thảo, Sinh thảo dược tính bị yếu, Bản thảo cầu nguyên  dược học cổ truyền, củ nần được gọi là Bạch thự lương, vị đắng, tính lạnh, có độc, có công dụng tán nhiệt, tiêu thũng, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như nhọt độc, hậu bối, giang mai, hạ cam, tổn thương do trật đả...nhưng chỉ dùng ngoài bằng cách giã nát đắp, sắc lấy nước rửa hoặc nấu thành cao để bôi lên tổn thương, tuyệt đối không được uống trong vì rất dễ ngộ độc. Theo kinh nghiệm dân gian, khi không may bị ngộ độc dùng gừng tươi 60g ép lấy nước, dấm ăn 60 ml, cam thảo 10g, nước sạch nửa bát, tất cả đem sắc cô còn nửa bát, trước ngậm sau uống.
         Cũng theo ThS Toàn, người ta rất dễ nhầm lẫn giữa củ nần với củ nâu (Dioscorea cirrhosa Lour), hai loại đều cùng một họ nhưng củ nâu ngoài công dụng để nhuộm vải và làm thuốc còn có thể dùng để ăn với điều kiện là phải gọt bỏ vỏ ngoài, ngâm nhiều nước và thay nước nhiều lần cho hết hoặc giảm chất chát rồi luộc ăn. Chuyện xưa kể lại rằng, trong khi đi trị thủy bị thiếu lương thực, vua Vũ Vương nhà Hạ (Trung Quốc) đã dùng củ nâu để ăn và vì vậy mà lương thực lại thừa ra, do đó loại củ này được đặt tên là Vũ dư lương (họ Vũ thừa lương thực). Để phân biệt hai loại củ nần và củ nâu. Các sách thuốc cổ đều ghi rằng : củ nâu vị ngọt, chát hơi chua, tính bình, không có độc, có công dụng hoạt huyết cầm máu, lý khí giảm đau, thường được dùng để chữa đau bụng do sản hậu, kinh nguyệt không đều, rong kinh, thổ huyết, viêm khớp dạng thấp, cầm máu vết thương...Để phân biệt với củ nần cần căn cứ vào hình dáng cây và củ, khác với củ nần, thân cây củ nâu tròn, nhẵn, có nhiều gai, lá đơn mọc so le ở phía dưới, mọc đối ở gần ngọn, phiến lá hình trứng hoặc bầu dục nhẵn bóng, cụm hoa đực không có lá, gồm nhiều bông, trục bông nhẵn, có cạnh. Củ nâu vỏ xám vàng nhạt, không sần sùi, nhựa màu đỏ nhạt, mặt cắt hơi hồng còn củ nần vỏ cỏ có rãnh, màu nâu đỏ nhạt, nhựa màu vàng nhạt hơi hồng, mặt cắt có màu trắng nhạt.
     Vậy nên, tuyệt đối không được dùng củ nần làm thức ăn và nếu có dùng củ nâu thì cũng phải rất thận trọng phân biệt với củ nần. Tốt nhất, trong điều kiện lương thực không thiếu như hiện nay thì củ nâu cũng không nên dùng.

                                Trả lời phỏng vấn báo KS và ĐS

Chứng không phóng tinh


ĐÔNG Y ĐƠN GIẢN CHỮA CHỨNG KHÔNG PHÓNG TINH


     Có một nghịch lý là, trong khi không ít đấng “mày râu” thất vọng vì xuất tinh quá nhanh và quá sớm trong các cuộc “mây mưa” thì lại có một số nam giới  khổ sở vì chuyện xuất tinh quá khó khăn hoặc không xuất tinh được mỗi khi “động phòng” mặc dù ham muốn tình dục và độ cương cứng của “cậu nhỏ” vẫn hoàn toàn bình thường. Theo y học hiện đại, chứng không xuất tinh được phần lớn mang tính cơ năng mà nguyên nhân chủ yếu là do rối loạn hoạt động của hệ thống thần kinh trung ương khiến cho trung khu chỉ đạo phản xạ phóng tinh ở tủy sống lâm vào trạng thái ức chế. Ngoài ra, còn có một số nguyên nhân khác như dị tật hoặc bệnh lý thực thể của bộ phận sinh dục, do tác dụng không mong muốn của một số loại thuốc...
     Trong y học cổ truyền, chứng không phóng tinh được gọi là Bất xạ tinh hoặc Xạ tinh bất năng với nguyên nhân chủ yếu là do tiên thiên bất túc (dị tật bẩm sinh), tinh thần tình chí bất điều (rối loạn tâm thần kinh), ngoại cảm tà khí, ẩm thực sở thương (ăn uống không hợp lý), lao lực quá độ và cửu bệnh đại bệnh (bị bệnh lâu ngày, bệnh nặng). Về mặt trị liệu, có thể sử dụng phương pháp biện chứng luận trị, nghĩa là căn cứ vào chứng trạng cụ thể của người bệnh mà phân loại thành các thể bệnh để lựu chọn các vị thuốc và bài thuốc cho phù hợp, ví như : với thể Can uất khí trệ dùng bài Tứ nghịch tán hoặc Sài hồ sơ can tán gia giảm, với thể Huyết ứ dùng bài Huyết phủ trục ứ thang hoặc Tiểu phúc trục ứ thang gia giảm, với thể Thấp nhiệt uất kết dùng bài Tứ diệu tán gia giảm, với thể Thận tinh suy hư dùng bài Hữu quy hoàn gia giảm. Cũng có thể sử dụng các kinh nghiệm dân gian như :

* Dùng thuốc
- Dùng xạ hương 0,3g bôi vào giữa rốn để thông tinh khiếu, mỗi ngày 1 lần trong 07 ngày.
- Viễn chí 9g, xương bồ 9g sắc uống mỗi ngày 1 thang.
- Mã tiền tử chế 12g, sinh ma hoàng 12g, thạch xương bồ 12g, ngô công 18g, đương quy 60g, bạch thược 60g, sinh cam thảo 60g. Tất cả sấy khô, tán thành bột mịn rồi chia làm 40 gói, mỗi tối uống 1 gói với rượu vang. Chú ý : mã tiền tử là vị thuốc có độc nên phải được bào chế cẩn thận, nhất thiết nên mua ở các cơ sở đông dược có giấy phép hành nghề.
- Mã tiền tử chế 0,3g, ngô công 0,5g, băng phiến 0,1g, tất cả tán thành bột, tối trước khi đi ngủ 60 phút uống với nước sắc của ma hoàng 6g, xương bồ 6g và hổ trượng 6g, 30 ngày là 1 liệu trình. Dùng cho tất cả các thể bệnh.
- Xuyên sơn giáp 15g, vương bất lưu hành 15g, lộ lộ thông 10g, ngưu tất 10g sắc uống mỗi ngày 1 thang, 7 ngày là 1 liệu trình.
- Trước khi sinh hoạt tình dục dùng cam công 15g sắc lấy nước ngâm rửa hạ bộ.

* Dùng các món ăn - bài thuốc
- Móng giò lợn 4 cái làm sạch chặt miếng, hành củ 50g bóc bỏ vỏ, hai thứ cho vào nồi với một lượng nước vừa đủ, trước tiên dùng lửa to đun cho sôi rồi dùng lửa nhỏ hầm cho thật nhừ, chế thêm gia vị ăn trong ngày.
- Bồ dục dê trắng 2 quả thái miếng, nhục thung dung 30g tẩm rượu thái phiến, mỡ dê 120g thái miếng, hạt tiêu 6g, trần bì 3g, tất bát 6g, táo tây 6g, hành, gừng và gia vị vừa đủ. Các vị thuốc cho vào túi vải buộc kín miệng rồi đem hầm với bồ dục và mỡ dê, chế đủ gia vị, ăn nóng.
- Chim sẻ 5 con làm sạch, bỏ nội tạng, ướp với gia vị rồi hầm ăn hành ngày.

* Xoa bóp
- Chọn tư thế nằm ngửa, hai cẳng chân gấp tự nhiên, dùng các ngón tay vê tinh hoàn cả hai bên rồi bóp và rung tinh hoàn với một lực từ nhẹ đến mạnh, mỗi ngày làm 2 lần trước khi đi ngủ tối và sáng sớm khi thức dậy, mỗi lần 5 phút, 15 ngày là 1 liệu trình.
- Nếu có điều kiện dùng máy xoa bóp bằng điện đặt ở chế độ rung nhẹ nhất tiến hành xoa rung đầu quy đầu và các vị trí nhậy cảm ở hạ bộ để tạo dần cảm giác phóng tinh.

                                                                               Hoàng Khánh Toàn