Thứ Năm, ngày 19 tháng 5 năm 2016

TRÀ DƯỢC CHỐNG MỆT MỎI SAU LAO ĐỘNG

TRÀ DƯỢC CHỐNG MỆT MỎI SAU LAO ĐỘNG


     Lúc giả lao hay sau một ngày làm việc căng thẳng, mệt mỏi có nhiều cách để phục hồi sức khỏe như chơi thể thao, tập khí công dưỡng sinh, ăn uống bồi bổ sức lực, nằm hoặc ngồi thư giãn..., trong đó có một phương pháp còn ít người biết đến là sử dụng các món trà dược của y học cổ truyền. Nói là trà bởi vì cách sử dụng của nó cũng tương tự như pha trà uống hàng ngày chứ không nhất thiết trong thành phần phải có trà búp, trà mạn thực thụ. Người ta thường căn cứ vào tính chất công việc, thời tiết và thể chất của người dùng để lựa chọn loại trà dược nào cho phù hợp nhằm thu được hiệu quả cao nhất. Có thể dẫn ra vài loại điển hình như sau :
* Độc sâm trà : Nhân sâm thái phiến hoặc nghiền vụn, mỗi ngày dùng 3-9g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Nếu không có sâm củ thì dùng trà sâm đóng gói thay thế. Công dụng : bổ khí cường thân, hồi phục sinh lực sau lao động rất tốt, đặc biệt là lao động chân tay. Người bị cao huyết áp cần thận trọng khi dùng loại trà này.
* Nhân sâm đại táo trà : Nhân sâm 3-5g thái phiến, đại táo 10 quả bỏ hạt, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : bổ khí sinh huyết, chống mệt mỏi sau lao động nặng.
* Nhân sâm liên tử trà : Nhân sâm 6g thái phiến, liên tử (hạt sen) 10g đập vụn ngâm trong nước 30 phút, cho thêm đường phèn vừa đủ rồ đem hấp cách thủy, sau 1 giờ thì dùng được, uống nước ăn cái trong ngày. Công dụng : bổ tỳ ích phế, cường tráng thân thể.
* Tăng dịch ích âm trà : Huyền sâm 15g, mạch môn 12g, sa sâm 12g, sinh địa 12g, ngọc trúc 12g. Các vị thuốc thái phiến hoặc nghiền vụn rồi hãm với nước sôi trong bình kín trong 15 phút, uống thay trà trong ngày. Công dụng : dương âm sinh tân, nhuận táo, dùng rất tốt cho những người lao động trong điều kiện năng nóng, háo khát do mất mồ hôi nhiều. Những người tỳ hư đi lỏng không nên dùng loại trà này.
* Thanh hao mai đông trà : Thanh hao 15g, ô mai 7g, mạch môn 10g, lá sen tươi 9g. Các vị nghiền vụn hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : thanh nhiệt khứ thử, sinh tân chỉ khát, dùng rất tốt cho những người lao động trong mùa hè nắng nóng, môi khô, miệng khát, ra mồ hôi nhiều. Những người có thể chất tỳ vị hư hàn hay đi lỏng thì không nên dùng.
* Hoàng kỳ táo khương trà : Hoàng kỳ sao 10g, đại táo 3 quả bỏ hạt, gừng tươi 2 lát. Các vị thuốc nghiền vụn hãm với nước sôi trong 15 phút, uống thay trà trong ngày. Công dụng : ích khí phù chính, hòa dinh cố biểu, dùng rất tốt cho những người làm việc trong thời tiết gió rát, băng giá dễ bị cảm mạo.
* Quế chi cam thảo trà : Quế chi 10g, cam thảo sống 5g nghiền vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : ôn bổ tâm dương, hòa dinh ích khí, dùng rất tốt cho những người lao động ngoài trời vào mùa đông hoặc công nhân nhà máy nước đá, đông lạnh. Những người có chứng viêm nhiệt không nên dùng loại trà này.
* Ngũ vị táo nhân kỷ tử trà : Ngũ vị tử 6g, toan táo nhân sao đen 6g. Các vị nghiền vụn hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : định tâm an thần, kiện não ích trí, dùng rất tốt cho những người lao động trí óc dễ căng thẳng thần kinh.
* Thủ ô đan sâm trà : Hà thủ ô chế 25g, đan sâm 25g, mật ong lượng vừa đủ. Các vị thuốc tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : ích thận bổ can, hoạt huyết hóa ứ rất tốt, dùng cho những người bị thiểu năng mạch vành, cao huyết áp. Những người huyết áp thấp không nên dùng loại trà này.
* Ba kích đỗ trong ngưu tất trà : Ba kích 20g, ngưu tất 15g, đỗ trọng 20g, ngũ vị tử 9g. Các vị nghiền vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : ôn bổ can thận, làm mạnh gân cốt, dùng rất tốt cho những người lao động cơ bắp phải bê vác, vận động cột sống nhiều.
     Ngoài công dụng chống mệt mỏi do lao động, các loại trà dược nói trên, nếu dùng thường xuyên, còn góp phần chữa trị các chứng bệnh mạn tính. Nhìn chung, tất cả đều đơn giản, rẻ tiền, dễ kiếm và dễ dùng.


                                                                                  Hoàng Khánh Toàn

Chủ Nhật, ngày 15 tháng 5 năm 2016

HẠT DƯA HẤU CÓ CÔNG DỤNG GÌ ?

HẠT DƯA HẤU CÓ CÔNG DỤNG GÌ ?


      Dưa hấu là một trong những loại hoa quả thông dụng trong đời sống người Việt, nhất là vào mùa hè nóng nực với công dụng thanh nhiệt giải thử, trừ phiền chỉ khát, lợi tiểu tiện và được coi là thứ quả có tác dụng thanh nhiệt tả hỏa tựa như cổ phương trứ danh Bạch hổ thang. Thông thường, người ta chỉ dùng ruột của quả dưa hấu mà không biết rằng hạt của nó cũng có giá trị tăng cường sức khỏe và phòng chống bệnh tật.
     Theo dược học cổ truyền phương Đông, hạt dưa hấu vị ngọt, tính mát khi chưa rang chín và tính bình sau khi đã rang, có công dụng thanh phế nhuận tràng, hòa trung chỉ khát, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như : (1) Ho khạc nhiều đờm dùng hạt dưa hấu bóc vỏ ăn sống hoặc lấy 20g hạt sức lấy nước uống ; (2) Ho kéo dài dùng hạt dưa hấu giã nát 15g, lạc nhân 15g, hoa hồng 1,5g, đường phèn 30g, sắc lấy nước uống và ăn lạc nhân ; (3) Huyễn vựng, đầu thống (cao huyết áp) dùng hạt dưa hấu ăn sống hoặc sau khi rang chín lúc bụng đói ; (4) Đa kinh (kinh nguyệt quá nhiều dùng nhân hạt dưa hấu 9g nghiền vụn chiêu uống với nước ấm mỗi ngày 2 lần ; (5) Thổ huyết (nôn ra máu) dùng 50g hạt dưa hấu tươi sắc lấy nước uống ; (5) Viêm bàng quang cấp tính dùng 40g hạt dưa hấu sắc uống…Ngoài ra, hạt dưa hấu còn được dùng để hỗ trợ tiêu hóa và bổ dưỡng cơ thể.
     Kết quả nghiên cứu của y học hiện đại cho thấy, cứ trong mỗi 100g hạt dưa hấu có chứa 10g protid, 11g lipid, 4g glucid, cung cấp 160 calo. Điều đặc biệt là loại hạt này chứa nhiều acid béo không bão hòa như acid linoleic, giàu acid amin thiết yếu như tryptophan, acid glutamic, lysine, arginine…; các loại vitamin như vitamin B1, B2, B6, B12, E, PP…, nhất là vitamin B3 (trong một lon hạt dưa có chứa 3,8mg niacin, tức 19% hàm lượng cần thiết trong ngày, có chức năng duy trì hoạt động của hệ thần kinh, hệ tiêu hóa và sức khỏe của da ; các nguyên tố vi lượng như Ca, Fe, P, Se, Mg…và các hoạt chất như lycopene có lợi cho đời sống tình dục, cucurbecitrin có tác dụng hạ huyết áp và chống viêm bàng quang…Bởi vậy, hạt dưa hấu có khá nhiều công dụng :
- Bổ dưỡng cơ thể do thành phần dinh dưỡng khá phong phú, đặc biệt là giàu đạm và các vitamin.
- Có lợi cho tim mạch, giúp hạ huyết áp, giảm cholesterol máu, ngăn ngừa tích cực tình trạng vữa xơ động mạch do có nhiều vitamin nhóm B, magiê và acid linleic.
- Hỗ trợ tiêu hóa, phòng ngừa chứng táo bón do chứa nhiều chất xơ.
- Giúp tăng cường trí nhớ, nâng cao chức năng não-thần kinh, nhanh chóng phục hồi sức hoạt động của tế bào não.
- Giúp kiểm soát bệnh tiểu đường. Người ta thường dùng trà hạt dưa hấu bằng cách hãm 2-3 muỗng cà phê hạt dưa hấu trong 2-3 cốc nước trong khoảng 30-45 phút. Loại trà này được tin rằng có khả năng kiểm soát lượng đường trong máu và bệnh tiểu đường.
- Giúp ổn định men gan và lượng lipid huyết thanh rất có ích cho người bị viêm gan và những người bị rối loạn lipid máu.
- Giúp giải độc cho cơ thể bằng cách dùng trà hạt dưa hấu và uống 3 ly mỗi ngày để giúp thanh lọc cơ thể và tăng cường sức khỏe.
- Chống phù nề bằng cách trộn một muỗng cà phê bột ​​hạt giống dưa hấu với mật ong, chế thêm một chút nước lọc, quấy đề rồi uống, mỗi ngày 2 lần.
- Làm giảm ho bằng cách lấy hạt dưa hấu 20 g sắc đặc để uống, mỗi ngày 2 lần.
- Cải thiện đời sống tình dục. Với hàm lượng lycopene và vitamin cao, hạt dưa hấu rất tốt cho đời sống tình dục. Chúng làm tăng khả năng sinh sản ở nam giới, duy trì hoạt động của hệ thần kinh và tăng cường sự bền bỉ trong dương sự.
- Hỗ trợ trị liệu phì đại tiền liệt tuyến lành tính. Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí European Journal cho thấy lợi ích của hạt giống dưa hấu trong điều trị phì đại tuyến tiền liệt. Có thể dùng bằng cách đổ hai muỗng canh bột hạt dưa hấu khô trong nửa lít nước sôi, để khoảng nửa giờ và sử dụng thường xuyên để hỗ trợ điều trị căn bệnh này.
     Cuối cùng, hạt dưa hấu còn có giá trị về văn hóa. Hạt dưa là một món ăn nhâm nhi trong ngày Tết, ngày Lễ của người Việt Nam, đây là món chủ nhà đãi khách trong dịp Lễ Tết. Nguyên liệu chính của món hạt dưa đơn giản là chỉ từ những hạt của các loại dưa nhưng chủ yếu là dưa hấu. Hạt dưa hấu được tách ra và nướng lên làm phần bên trong hạt chín. Khi thưởng thức, người ra sẽ dùng răng (thường là răng cửa) cắn mạnh vào đầu hạt dưa và tách làm đôi hạt dưa để ăn phần lõi màu vàng bên trong gọi là chíp hạt dưa hay cúp hạt dưa. Thực khách vừa nhâm nhi hạt dưa vừa uống trà, trò chuyện giúp không khí  ngàyTết, ngày Lễ thêm sinh động. Nhân hạt dưa có vị béo, thơm khá đặc trưng. Màu hồng đỏ của hạt dưa nhuộm bằng phẩm màu thực phẩm thường đem lại sắc hồng tươi thắm cho đôi môi. Đây cũng là một nét văn hóa đặc sắc của người Việt Nam. Không chỉ lễ Tết, ngày nào trong năm cũng có hạt dưa đỏ để ăn. Vào quán trà chén ven đường phố cũng có món hạt dưa, vào các nhà hàng cũng có món hạt dưa. Sinh nhật, cưới hỏi, người ta cũng dùng cúp hạt dưa.
     Tuy hạt dưa là món ăn ngon và vui trong ngày Tết nhưng cũng có nhiều cảnh báo về những nguy cơ khi ăn hạt dưa như một số nơi phát hiện hạt dưa có chất gây ung thư do được nhuộm bằng phẩm màu công nghiệp. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, có trong màu công nghiệp là chất độc có thể ngộ độc hoặc gây ung thư nếu dùng lâu dài nên bị cấm sử dụng trong thực phẩm.

                                                                                     Hoàng Khánh Toàn


Thứ Năm, ngày 12 tháng 5 năm 2016

ĐÔNGY TRỊ LIỆU BÊNH HÔ HẤP TRẺ EM

ĐÔNG Y TRỊ LIỆU BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP TRẺ EM


     Bệnh lý đường hấp ở trẻ em là hết sức thường gặp, phức tạp và dễ gây biến chứng, thậm chí có thể tử vong. Có thể kể ra những căn bệnh chính như viêm đường hô hấp trên,  viêm khí phế quản cấp tính, viêm phổi, viêm phế quản thể hen, hen phế quản…Với những tiến bộ khoa học y học vượt bậc, tây y đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc phòng chống bệnh lý đường hô hấp cho trẻ. Tuy nhiên, với không ít trường hợp, ở trong những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, đông y vẫn có một vai trò quan trọng trên cơ sở thực hành  nhiều biện pháp dùng thuốc và không dùng thuốc theo quan điểm “biện bệnh luận trị” hoặc “biện chứng luận trị”, trong đó phương thức biện chứng luận trị vẫn là cơ bản.

1. Viêm đường hô hấp trên cấp tính
     Viêm đường hô hấp trên cấp tính  không phải là một bệnh đơn lẻ mà là tổng hợp các bệnh do bị cảm lạnh, viêm mũi, viêm họng, viêm xoang, viêm thanh quản….với triệu chứng dể nhận biết như sốt cao, hắt hơi sổ mũi, chảy nước mũi, đau rát họng, ho, khàn tiếng, đau mỏi toàn thân….Trong đông y, nhóm bệnh này thuộc phạm vi các chứng như cảm mạo, khái thấu, nhũ nga, hầu tý…với nguyên nhân chủ yếu là do phong hàn, phong nhiệt gây nên. Chẩn trị cụ thể như sau :
* Với thể Ngoại cảm phong hàn
- Triệu chứng : Sợ lạnh, không ra mồ hôi, đau đầu, nghẹt mũi, chảy nước mũi, ngứa họng, ho, không sốt hoặc sốt nhẹ , lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch khẩn
- Phép chữa : Tân ôn giải biểu, tuyên phế tán hàn
- Bài thuốc : Tô kiều giải biểu thang gồm các vị : tô diệp 6g, kinh giới 6g (cho sau), phòng phong 6g, kim ngân hoa 10g, liên kiều 10g, cát cánh 8g, tiền hồ 8g, cam thảo 3g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Ngoại cảm phong nhiệt
- Triệu chứng : Phát sốt, ra mồ hôi, nghẹt mũi, chảy nước mũi, đau đầu, đau mình mẩy, hầu họng đỏ đau, ho khạc đờm vàng, mặt đỏ, họng khô, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch phù sác.
- Phép chữa : Tân lương giải biểu, tuyên phế chỉ khái lợi hầu
- Bài thuốc : (1) Nếu họng đau nhiều, sốt cao dùng bài Liên kiều tán gia giảm gồm : liên kiều 10g, kim ngân hoa 10g, cát cánh 8g, bạc hà 5g, trúc nhự 6g, kinh giới 6g (cho sau), đạm đậu xị 6g, ngưu bàng tử 5g, cam thảo 5g, bản lam căn 10g, hoàng cầm 7g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. (2) Nếu ho nhiều dùng bài Tang cúc ẩm gia giảm gồm : tang diệp 10g, cúc hoa 10g, liên kiều 10g, hạnh nhân 8g, cát cánh 8g, bạc hà 5g (cho sau), cam thảo 3g, bản lam căn 10g, hoàng cầm 7g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Kiêm chứng
     Bất luận là ngoại cảm phong hàn hay phong nhiệt nếu có kiêm các chứng đàm, trệ hoặc co giật thì gia thêm các vị thuốc, cụ thể như sau :
+ Ngoại cảm kiêm đàm có ho khạc đờm nhiều, tiếng ho trầm nặng, khàn tiếng, đại tiện táo, tiểu tiện vàng gia thêm qua lâu nhân 10g, đông qua nhân 10g, sa sâm 12g, mạch môn 8g, bối mẫu 6g.
+ Ngoại cảm kiêm trệ có hiện tượng bụng chướng đầy, chán ăn, buồn nôn và nôn ra nước chua, đi lỏng, mùi chua và khó chịu, hơi thở hôi gia thêm hoắc hương 6g, (cho sau), chỉ xác 6g, lai phục tử 10g, cốc nha 12g
+ Ngoại cảm kiêm co giật gia thêm câu đằng 8g, thuyền thoái 5g, linh dương cốt 10g, (sắc trước), toàn yết 3g.

2. Viêm khí phế quản cấp tính
     Trong đông y, viêm khí phế quản cấp tính thuộc phạm vi chứng khái thấu thường do phong hàn và phong nhiệt gây nên. Chẩn trị cụ thể như sau :
* Với thể Phong hàn khái thấu
- Triệu chứng : Ho nhiều, khạc đờm trong loãng, chảy nước mũi trong, sợ lạnh, không vã mồ hôi, sốt, đau đầu, ngứa họng, mình mẩy đau nhức nặng nề, chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch nhu khẩn\
- Phép chữa : Sơ phong tán hàn, tuyên phế chỉ khái, hóa đàm
- Bài thuốc : Dùng bài Chỉ khái tán gia giảm gồm : tử uyển 8g, cát cánh 8g, bạch tiền 8g, bách bộ 10g, kinh giới 6g (cho sau), trần bì 3g, bán hạ chế 8g, ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, cam thảo 3g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Phong nhiệt khái thấu
- Triệu chứng : Phát sốt, ho tiếng nặng, đờm nhiều vàng dính và khó khạc, miệng khô họng đau, mồ hôi dâm dấp, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch phù sác
- Phép chữa : Sơ phong thanh nhiệt, tuyên phế chỉ khái
- Bài thuốc : Dùng bài Tang cúc ẩm hợp với bài Ma hạnh thạch cam thang gia giảm, gồm các vị : ma hoàng 3g, thạch cao 18g, hạnh nhân 8g, cam thảo 5g, hoàng cầm 8g, liên kiều 10g, cát cánh 8g, qua lâu nhân 10g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.

3. Viêm phổi
     Trong đông y, viêm phổi thuộc phạm vi các chứng như phong ôn, khái suyễn, mã tỳ phong…với nguyên nhân là do chính khí suy nhược, công năng tạng phủ rối loạn khiến tà khí bên ngoài xâm nhập sâu vào phần “lý” (bên trong) mà gây thành bệnh. Chẩn trị cụ thể như sau :
* Với thể Phong tà bế phế
- Triệu chứng : Phát sốt, ho, khó thở, khạc đờm trắng loãng, không có mồ hôi, không khát, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù khẩn hoặc phù sác.
- Phép chữa : Tân ôn giải biểu, tuyên phế hóa đàm
- Bài thuốc : Dùng bài Tam ảo thang gia giảm gồm : ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, trần bì 3g, bán hạ chế 8g, kinh giới tuệ 6g (cho sau), bạch giới tử 8g, lai phục tử 10g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Phong nhiệt bế phế
- Triệu chứng : Sốt cao, ho nhiều, khó thở, vã mồ hôi, miệng khát, ngực đau, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác
- Phép chữa : Tân lương giải biểu, tuyên phế hóa đàm
- Bài thuốc : Dùng bài Ma lâu thang gia giảm gồm : ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, thạch cao 12g, cam thảo 5g, qua lâu nhân 10g, lai phục tử 10g, hoàng cầm 10g, liên kiều 10g, săc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Phong ôn bế phế
- Triệu chứng : Ho và khó thở nhiều, tắc mũi, sốt cao, vã mồ hôi, phiền khát, đau ngực, môi miệng xanh tím, đờm vàng dính, lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch sác.
- Phép chữa : Thanh nhiệt giải biểu, tuyên phế bình suyễn
- Bài thuốc : Dùng bài Ngũ hổ thang hợp với Tam hoàng thạch cao thang gia giảm gồm các vị : ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, thạch cao 12g, cam thảo 5g, hoàng cầm 10g, hoàng liên 3, ngưu bàng tử 6g, lai phục tử 10g, tang bạch bì 10g, hoàng bá 8g, sắc uống mỗi ngày 1 thang
* Với thể Đàm nhiệt bế phế
- Triệu chứng : Ho và khó thở nhiều, sốt cao, môi khô miệng khát, khạc đờm nhiều màu vàng và dính, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu vàng dính, mạch khẩn sác.
- phép chữa : Thanh nhiệt tuyên phế, dục đàm bình suyễn
- Bài thuốc : Dùng bài Ma hạnh thạch cam thang hợp với Đình lịch đại táo tả phế thang gia giảm gồm : ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, thạch cao 15g, cam thảo 5g, ngư tinh thảo 15g, ngưu bàng tử 6g, thiên trúc hoàng 8g, tang bạch bì 10g, hầu táo tán 1g (uống cùng nước thuốc sắc), sắc uống mỗi ngày 1 thang, uống thêm trúc lịch lượng vừa đủ.

4. Viêm phế quản thể hen và hen phế quản
     Trong đông y, hai bệnh lý này thuộc phạm vi các chứng như háo chứng, suyễn chứng, nguyên nhân do chính khí hư suy, công năng tạng phủ rối loạn, đặc biệt là Phế, Tỳ và Thận, tà khí thừa cơ xâm nhập mà gây nên bệnh. Chẩn trị cụ thể như sau:
* Trong giai đoạn phát bệnh
- Với thể Hàn chứng
+ Triệu chứng : Ho và khó thở thành cơn, có khi phải ngồi dậy để thở, có nhiều tiếng rít trong khí quản, đờm trong loãng, sắc mặt nhợt nhạt, tay chân lạnh, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng loãng, chất lưỡi nhợt, rêu trắng mỏng, mạch hoạt khẩn.
+ Phép chữa : Ôn phế tán hàn, giáng khí bình suyễn
+ Bài thuốc : Dùng bài Tiểu thanh long thang hợp Tam tử dưỡng tân thang gia giảm gồm : can khương 1,5g, quế chi 3g, ma hoàng 3g, bạch thược 10g, tế tân 1,5g, bán hạ chế 8g, ngũ vị tử 5g, tô tử 8g, bạch giới tử 5g, lai phục tử 10g, cam thảo 5g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
- Với thể Nhiệt chứng
+ Triệu chứng : Ho và khó thở thành cơn, nhiều đờm rãi, có thể có sốt, đờm vàng, tức ngực buồn phiền, khát nước muốn uống, tiểu tiện vàng, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ, rêu vàng dính, mạch hoạt sác.
+ Phép chữa : Thanh nhiệt tuyên phế, hóa đàm định suyễn
+ Bài thuốc : Dùng bài Định suyễn thang gia thạch cao gồm các vị ma hoàng 3g, ngân hạnh 10g, hoàng cầm 8g, tang bạch bì 10g, tô tử 8g, bán hạ chế 10g, khoản đông hoa 10g, hạnh nhân 8g, cam thảo 5g, thạch cao 15g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Trong giai đoạn hồi phục
- Triệu chứng : ho và khó thở nhẹ, khạc đờm loãng, sắc mặt không tươi, mệt mỏi vô lực, cơ thể tiều tụy gầy yếu, ăn kém, bụng đầy, đại tiện lỏng loãng, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch nhu vô lực.
- Phép chữa : Bổ phế kiện tỳ ôn thận
- Bài thuốc : Dùng bài Bổ phế kiện tỳ ôn thận thang gồm : đẳng sâm 10g, thục địa 10g, ngũ vị tử 3g, khoản đông hoa 8g, bạch linh 12g, hoài sơn 12g, hồ đào nhục 12g, thỏ ty tử 10g, , địa long 6g, chích thảo 3g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
     Ngoài việc dùng thuốc, với tất cả các bệnh lý đường hô hấp trẻ em đều có thể kết hợp với châm cứu, xoa bóp, tập thở, sử dụng các món ăn-bài thuốc phù hợp với tuổi, thể chất và mức độ bệnh.

                                                                                  Hoàng Khánh Toàn





Thứ Năm, ngày 05 tháng 5 năm 2016

KINH NGHIỆM DÂN GIAN THANH NHIỆT HẠ SỐT

Kinh nghiệm dân gian thanh nhiệt hạ sốt


     Sốt là một phản ứng có lợi của cơ thể nhằm chống lại tác nhân gây bệnh. Nhưng, sốt sẽ trở nên bất lợi khi thân nhiệt quá cao hoặc sốt kéo quá dài ngày. Trên thực tế không hiếm trường hợp mặc dù người bệnh đã được dùng tân dược hạ sốt đủ liều, bồi phụ đầy đủ dịch thể và điện giải nhưng thân nhiệt vẫn không thuyên giảm. Lúc này, chúng ta có thể mạnh dạn phối hợp dùng một số kinh nghiệm dân gian có tác dụng thanh nhiệt hạ sốt sau đây :
- Lá cỏ nhọ nồi lượng vừa đủ, rửa sạch, ngâm dung dịch thuốc tím như ngâm rau sống rồi giã nát lấy nước cốt cho người bệnh uống (liều lượng tuỳ theo lứa tuổi, người lớn ít nhất là 200 ml), còn bã đắp lên thóp (với trẻ sơ sinh) hoặc đắp vào huyệt Bách hội và Dũng tuyền (với người lớn). Vị trí huyệt Bách hội : là giao điểm của đường trục dọc qua giữa đầu với đường nối hai đỉnh vành tai khi gấp vành tai áp sát vào đầu, sờ vào đó có một khe hõm nhỏ. Vị trí huyệt Dũng tuyền : ở lòng bàn chân, tại điểm nối 2/5 trước và 3/5 sau của đoạn nối đầu ngón chân thứ 2 (ngón trỏ) và điểm giữa bờ sau gót chân, trong chỗ lõm ở gan bàn chân.
- Lá cỏ bợ lượng vừa đủ, rửa và ngâm sạch rồi giã nát vắt lấy nước cốt uống, liều lượng tuỳ theo lứa tuổi, người lớn mỗi lần uống 200 ml, mỗi ngày 2 lần.
- Thân cây chuối non một đoạn dài chừng 40cm, ngâm rửa sạch rồi bóc bỏ bẹ già bên ngoài, thái vụn, giã nát, vắt lấy nước cốt uống.
- Lá tre non 20g, lá dâu non 20g, lá sắn dây 20g, sắc lấy nước uống.
- Măng tay tre non vài cái, bóc bỏ bẹ nang bên ngoài, rửa sạch, đem nướng trên bếp cho mềm rồi vắt lấy nước cốt uống, liều lượng tuỳ theo lứa tuổi, người lớn ít nhất là 30 ml. Cũng có thể thái thành những lát mỏng rồi hãm với nước sôi uống.
- Rễ cây chuối tiêu 500g ngâm rửa sạch, muối ăn 30g, hai thứ giã nát rồi đắp lên các huyệt Trung đình (ở chỗ hai bờ sườn gặp nhau làm thành một góc nhọn), Cưu vĩ (ở điểm nối 7/8 dưới và 1/8 trên của đoạn nối rốn và huyệt Trung đình) và Cự khuyết (ở điểm nối 6/8 dưới và 2/8 trên của đoạn nối rốn và huyệt Trung đình). Khi bã thuốc khô thì lại thay thuốc mới cho đến khi thân nhiệt trở về bình thường.
- Sinh chi tử, sài hồ, sinh thạch cao, hoàng cầm và kim ngân hoa mỗi thứ 50g. Tất cả giã nát hoặc tán vụn, mỗi lần lấy một lượng bột thuốc vừa đủ trộn với lòng trắng trứng gà rồi đắp vào rốn, cố định bên ngoài bằng băng dính, mỗi ngày thay thuốc 2 lần.
- Gừng tươi 10g, hành củ 10g, rau mùi 10g, trứng gà 2 quả luộc chín bỏ lòng đỏ lấy lòng trắng. Các vị thuốc đem hấp chín, gói vào túi vải rồi chườm khắp toàn thân cho đến khi mồ hôi vã ra một chút là thân nhiệt sẽ hạ. Bài thuốc này dùng cho những người bị sốt cao do cảm cúm mà không có mồ hôi (cảm mạo phong hàn)..
- Hành củ tươi và lá kinh giới tươi lượng vừa đủ, đem giã nát rồi chia đắp lên chóp mũi vài lần trong ngày.
- Trân châu, ngưu hoàng và đại hoàng lượng vừa đủ. Tất cả tán bột, hoà với giấm thành dạng hồ rồi chia đắp lên rốn mỗi ngày 1 lần, bên ngài cố định bằng băng dính. - Sinh chi tử 10g, trứng gà 1 quả. Chi tử tán thành bột rồi trộn với lòng trắng trứng, vê thành những viên thuốc nhỏ và đắp vào huyệt Dũng tuyền, cố định bên ngoài bằng băng dính, mỗi ngày thay thuốc 1 lần.
- Bạch giới tử 10g, chi tử 10g, đào nhân 10g, hạnh nhân 10g, ngô thù du 5g, long não 5g. Tất cả tán thành bột rồi trộn với lòng trắng trứng gà và đắp vào huyệt Dũng tuyền, mỗi ngày thay thuốc 1 lần.
- Thanh hao 10g, hành củ 3 củ, gừng tươi 10g, giun đất 7 con. Tất cả đem giã nát hoà với cồn 70 % thành dạng hồ rồi dán vào thóp trước, 5 đến 10 phút thay thuốc 1 lần. Chuyên dùng cho trẻ sơ sinh sốt cao và có thể có co giật.
- Liên kiều, hoàng cầm, hoắc hương, khương hoàng, cát căn, câu đằng mỗi thứ 15g, bồ công anh 50g, sinh thạch cao 50g, đại hoàng 10g. Tất cả sấy khô, tán vụn, cứ mỗi tháng tuổi lấy 5 g bột thuốc hoà với 300 - 500 ml nước sôi, chế thêm nước lạnh cho đủ độ ấm rồi ngâm tắm cho trẻ, mỗi ngày 2 lần. Chuyên dùng để thanh nhiệt hạ sốt cho trẻ em sốt cao.
- Sài hồ, kinh giới, tía tô, bạc hà mỗi thứ 20 - 50g, sắc trong 5 phút rồi bỏ bã, chế thêm nước lạnh, dùng khăn mềm thấm dịch thuốc lau toàn thân cho trẻ trong 15 phút. Chuyên dùng cho trẻ em sốt cao do ngoại cảm.
- Dùng rượu cao độ hoặc cồn 70 % thấm vào khăn mềm rồi lau hốc nách, lòng bàn tay, lòng bàn chân và dọc cột sống cho bệnh nhân.
- Lấy 1 chậu nước lạnh và 1 chậu nước nóng (39 -40˚C). Ngâm hai chân vào chậu nước nóng trong 20 phút với người lớn, 15 phút với trẻ 8 -10 tuổi, 7 phút với trẻ 1- 2 tuổi rồi chuyển sang chậu nước lạnh trong 1 phút (người lớn và trẻ em như nhau). Sau đó, lấy khăn mềm lau chân thạt khô rồi dùng bàn tay xát mạnh hai lòng bàn chân sao cho ấm lên là được. Tiếp đó, nằm đắp chăn kín cho mồ hôi vã ra là thân nhiệt sẽ giảm dần. Chú ý lau khô mồ hôi và hết sức tránh gió lùa. Tuỳ theo mức độ sốt mà tiến hành 2 - 3 lần. Trong khi ngâm, nước có thể nguội dần, cần chế thêm nước nóng để giữ nhiệt độ ổn định. Trẻ em bị sốt do sởi, thuỷ đậu và sốt xuất huyết không nên dùng bài này.

                                                                                     Hoàng Khánh Toàn


KINH NGHIỆM DÂN GIAN GIẢI ĐỘC

GIẢI ĐỘC BẰNG KINH NGHIỆM DÂN GIAN


     Trong y học cổ truyền, kho tàng kinh nghiệm dân gian chữa trị các tình trạng ngộ độc là hết sức phong phú. Các kinh nghiệm này hiện nay không còn được dùng nhiều nữa, nhưng trong một chừng mực nhất định chúng vẫn có giá trị trong những hoàn cảnh nhất định và vẫn là những gợi mở thú vị cho việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu, chứng minh, thừa kế và phát triển những “vốn cổ” mà người xưa đã để lại. Bài viết này xin được dẫn ra một số kinh nghiệm điển hình để độc giả tham khảo.
1. Ngộ độc thức ăn
     Trước hết, cần loại trừ chất độc ra khỏi cơ thể càng sớm càng tốt, nhất là mới bị sau bữa ăn 1-2 giờ bằng các biện pháp như : lấy muối ăn 1 thìa canh(25g) sao qua, pha vào một bát nước sôi cho uống 3 lần, mỗi lần cách nhau chừng 10 phút hoặc dùng lông gà (rửa sạch bằng nước muối), bảo bệnh nhân há miệng đưa vào gần cuống họng sẽ nôn ngay hoặc dùng ngón tay ngoáy họng cũng có hiệu quả.
     Sau đó, cho uống nước trà đường nóng để bù nước, cầm đi lỏng, phân giải hòa loãng chất độc. Có thể dùng nước sắc lá sim, lá ổi, núm hoa chuối tiêu, vỏ măng cụt…sao vàng sắc đặc cho uống. Nếu biết bệnh nhân ngộ độc thức ăn gì thì có thể dùng các vị thuốc, bài thuốc như : ăn thịt không tiêu dùng sơn tra 12g sắc uống ; ăn chất bột không tiêu dùng mạch nha 12g, thần khúc 12g sắc uống ; ăn rau sống và hoa quả không tiêu dùng can khương 10g, thần khúc 10g sắc uống ; ăn tôm cá cua không tiêu dùng cành tía tô 12g, trần bì 10 sắc uống ; do ăn cá không tiêu dùng rau diếp cá và lá tía tô mỗi thứ 50g sắc uống ; do ăn cả cá và thịt không tiêu dùng tỏi 10g, phèn phi 10g, hai thứ giã nhỏ, pha nước sôi uống ; do ăn thịt lợn dùng hành củ 100g giã nát vắt lấy nước uống ; do ăn thịt dê dùng lá và hạt mướp đắng 100g sắc uống, do ăn thịt trâu bò dùng tương ăn 100 ml hòa với 20 ml nước gừng tươi uống ; do ăn thịt gà dùng lá chanh 100g sắc uống ; do ăn thịt chó dùng lá và củ giềng sao, rau má, mỗi thứ 30g sắc uống.
2. Ngộ độc sắn
     Có thể dùng một trong những bài thuốc như : (1) Con cua đồng tươi (rửa qua nước sôi) 10-20 con giã nhỏ, hòa với 1 bát nước đun sôi để nguội rồi lọc lấy nước cốt uống. Bài này dùng chung cho cả gia súc bị ngộ độc sắn. (2) Mật mía 200-300 ml hoặc nước đường pha đậm uống. (3) Cam thảo bắc 20g hoặc cam thảo đất 50g sắc uống. (4)Tương ăn 150-200 uống. (5) Rau muống sống 100g cắt đoạn rửa sạch, giã nhỏ, vắt lấy nước, đem trộn với 50g cám gạo tẻ, bọc vào vải sạch vắt lọc lấy nước uống. (6) Nước cốt rau má 100 ml, nước cốt lá sắn dây 50 ml hòa với mật hoặc nước mía hoặc nước đường uống. Chú ý : cấm không được dùng các loại thuốc đau bụng như viên rửa, thuốc gió, rượu quế, rượu hồi...rất nguy hiểm vì làm bệnh nặng thêm.
3. Ngộ độc dứa
     Có thể dùng một trong một trong các bài thuốc như : (1) Vỏ dứa (loại dứa bị ngộ độc) 100g, cam thảo hoặc mộc nhĩ đen 15-25g sắc uống, mỗi thang sắc 2-3 lần. (2) Bồ công anh 12g, ké đầu ngựa 15g, lá dâu 16g, kinh giới 16g, thổ phục linh 16g, cam thảo hoặc đậu xanh 4g, sắc lấy nước uống. Chú ý : tránh rửa nước, quạt lạnh, mùi khét, bụi lông vải…kiêng tôm, cua, sò…Khi ổn định cho uống trà đường.
4. Ngộ độc nấm
     Trước hết nên làm động tác gây nôn để thải hết thức ăn. Sau đó, dùng một trong những bài thuốc như : (1) Mộc nhĩ đen hoặc nấm hương 25-40g sắc 3 lần, mỗi lần lấy 200 ml, uống 3 lần. Nếu dùng nấm hương có thể cho thêm 10 cái thì càng tốt, hiệu quả của nấm hương cao hơn mộc nhĩ. (2) Đậu xanh 200g (chừng 1 bát), đem tán nhỏ, nấu đặc lấy nước uống hoặc cho vào một ít gạo nếp nấu thành cháo ăn. (3) Mộc nhĩ đen hoặc nấm hương 40g, đậu xanh 100g sắc đặc uống. (4) Rau khoai lang sống 50 ngọn, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước uống. (5) Óc thỏ 5 cái và dạ dày thỏ 2 cái, làm sạch, thái nhỏ rồi trộn đường ăn sống.
5. Ngộ độc hải sản (tôm, cá, sò, cá nóc…)
     Ngộ độc cá, tôm, sò…dùng lá tía tô tươi 50g sắc với 3 bát nước lấy 1 bát uống trong ngày. Ngộ độc cá nóc dùng ngọn khoai lang 50-60g, muối ăn 6g, hai thứ đem giã lẫn, vắt lấy 1 bát nước uống trong ngày.
6. Ngộ độc thuốc
     Tất cả các loại thuốc khi ngộ độc sau động tác gây nôn có thể dùng nước cốt rau muống 150 ml hoặc nước sắc củ khúc khắc (thổ phục linh)  200 ml uống. Riêng ngộ độc thuốc phiện đốt 100g bông gòn pha với nước uống ; ngộ độc mã tiền dùng cạo rỉ sắt 100g giã nhỏ hòa với nước sôi gạn trong uống ; ngộ độc ba đậu dùng nước ép lá chuối tươi hoặc nước sắc hoàng liên uống ; ngộ độc cà độc dược dùng vỏ đậu xanh 160g, liên kiều 40g, kim ngân hoa 80g, cam thảo 20g sắc với 2 lít nước còn 200 ml, cách 2 giờ uống 1 lần ; ngộ độc lá ngón cho uống thật nhiều nước cam thảo ; ngộ độc cây niệt gió cho ăn uống nước muối loãng, ăn cháo nhạt nguội ; ngộ độc thạch tín dùng bột xuyên tiêu (sao) 100g, sáp ong vừa đủ luyện thành viên, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 12g ; ngộ độc thuốc trừ sâu dùng nước chanh hoặc nước mắm uống…


                                                                                       Hoàng Khánh Toàn

Thứ Tư, ngày 04 tháng 5 năm 2016

AN CUNG NGƯU HOÀNG NOÀN CÓ DỰ PHÒNG ĐƯỢC ĐỘT QUỴ NÃO

AN CUNG NGƯU HOÀNG HOÀN CÓ DỰ PHÒNG ĐƯỢC ĐỘT QUỴ NÃO ?


     Trong mươi năm gần đây, khi tỷ lệ đột quỵ não có xu hướng gia tăng nhanh chóng, ngoài việc thực hành những biện pháp dự phòng như ăn uống hợp lý, tích cực tập luyện, giảm thiểu căng thẳng thần kinh, cai rượu và thuốc lá…người ta có xu hướng tìm hiểu và sử dụng các loại thuốc và thực phẩm chức năng có công dụng ngăn ngừa tích cực căn bệnh dễ gây tử vong và tàn phế này, trong đó có An cung ngưu hoàng hoàn (ACNHH), một chế phẩm nổi tiếng của y học cổ truyền phương Đông. Có thể nói, chưa bao giờ loại thuốc này lại phong phú về chủng loại, thăng giáng về giá cả, thật và giả lẫn lộn, nguồn gốc xuất xứ không rõ ràng, quảng cáo tràn lan như bây giờ. Ví như, trên trang mạng có những nội dung : “Chỉ với một viên An cung ngưu hoàng hoàn thôi bạn sẽ không bao giờ bị tai biến mạch máu và đột quỵ”, hay “cơ hội để bạn không bị tai biến hoặc đột quỵ đó chính là dùng An Cung Ngưu Hoàng Hoàn”…Vậy, nên hiểu vai trò, công dụng của An cung ngưu hoàng hoàn trong việc phòng ngừa đột quỵ não là như thế nào ?
    Như chúng ta đều biết, ACNHH là phương thuốc do danh y Ngô Đường, tự Cúc Thông, người đời Thanh (Trung Quốc), đại biểu trọng yếu của học phái ôn bệnh, sáng chế, được ghi trong sách “Ôn bệnh điều biện” nổi tiếng của Ông với thành phần gồm : Ngưu hoàng 1 lạng, uất kim 1 lạng, tê giác 1 lạng, hoàng cầm 1 lạng, hoàng liên 1 lạng, hùng hoàng 1 lạng, sơn chi 1 lạng, chu sa 1 lạng, mai phiến 2 tiền 5 phân, xạ hương 2 tiền 5 phân, trân châu 5 tiền. Tất cả tán bột thật mịn, dùng mật làm hoàn, mỗi hoàn 1 tiền, lấy vàng lá làm áo, bao sáp. Hiện nay, vì tê giác rất hiếm nên được thay bằng thuỷ ngưu giác (sừng trâu nước).
     Theo dược học cổ truyền, ACNHH có công dụng thanh nhiệt giải độc, trấn kinh khai khiếu, dục đàm. Chuyên trị ôn nhiệt bệnh, nhiệt tà nội hãm tâm bào, đàm nhiệt ủng bế tâm khiếu dẫn đến sốt cao phiền táo, thần hôn thiềm ngữ (hôn mê, rối loạn ngôn ngữ) hoặc thiệt kiển chi quyết (lưỡi rụt, tay chân giá lạnh), trúng phong khiếu bế, tiểu nhi kinh quyết thuộc đàm nhiệt nội bế. Đây là một trong ba phương thuốc lương khai trọng yếu (lương khai tam bảo hay ôn bệnh tam bảo) cùng với Chí bảo đan và Tử tuyết đan, là một trong những dược vật cấp cứu hữu hiệu của y học cổ truyền. “Cung” là chỉ tâm bào, tâm bào là cái màng ở ngoài bọc lấy tim ; ôn nhiệt độc tà nội hãm, khi xâm phạm vào tâm, trước hết là tác động đến tâm bào. Nếu nhiệt tà quá thịnh sẽ làm nhiễu loạn thần minh mà dẫn đến tình trạng thần hôn thiềm ngữ. ACNHH có đủ khả năng thanh hoá đàm nhiệt nội hãm tâm bào, nhiệt thanh đàm hoá thì tâm thần tất an, vì thế mà gọi là “an cung”. Ngô Cúc Thông đã viết : “Thử phương hương hoá uế trọc nhi lợi chư khiếu, hàm hàn bảo thận thuỷ nhi an tâm thể, khổ hàn thông hoả phủ nhi tả tâm dụng chi phương dã, chuyên trị nhiệt hãm tâm bào lạc, thần hôn thiềm ngữ cập đại nhân, tiểu nhi kinh quyết chi nhân vu nhiệt giả đa hiệu”.
     Ở Trung Quốc, các nhà y học cổ truyền đã nghiên cứu dùng ACNHH để trị liệu trúng phong (đột quỵ não) trong giai đoạn cấp tính với trúng phong bế chứng thuộc thể đàm nhiệt nội bế thanh khiếu, có tác dụng cải thiện rõ rệt triệu chứng, làm giảm tỷ lệ tử vong và rút ngắn giai đoạn cấp tính ; với viêm não Nhật Bản B, ACNHH có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm, chống co giật, nếu dùng sớm có thể ức chế quá trình phát triển của bệnh ; với hôn mê gan, chế phẩm này cũng có khả năng giúp cho ý thức nhanh hồi phục, bệnh tình sớm ổn định ; với viêm gan, ACNHH có tác dụng rất tốt đối với những trường hợp viêm gan cấp tính mức độ nặng đe doạ hôn mê nhưng phải chỉ định sớm và dùng liều cao ; với những trường hợp sốt cao do viêm nhiễm đường hô hấp trên, viêm phổi cấp tính, viêm amydal, viêm ruột cấp tính..., sản phẩm này có tác dụng hạ sốt rất tốt, ...Ngoài ra, ACNHH còn được khảo sát tác dụng trị liệu trên nhiều mặt bệnh khác như Hội chứng não sau chấn thương (pos-traumatic brain syndrome), ung thư gan nguyên phát, viêm tuỵ cấp tính, suy thận mạn tính, động kinh, tâm thần phân liệt, đau đầu dai dẳng, hội chứng phổi - não (pulmono - cerebral syndrome), hôn mê do rối loạn chuyển hoá pocphirin (hematoporphyria), luput ban đỏ, rắn độc cắn, một số bệnh lý ở trẻ em như viêm phổi, ngừng hô hấp do nhiều nguyên nhân khác nhau, hen, viêm thận cấp tính, viêm não, động kinh, bạch cầu cấp, viêm amydal và viêm xoang mũi cấp tính...Tuy nhiên, chưa hề có một công trình nghiên cứu hay một khảo sát lâm sàng nào chứng minh ACNHH có tác dụng dự phòng đột quỵ não. Có chăng người ta chỉ dùng để ngăn ngừa khẩn cấp khi có các tiền triệu của bệnh lý này như đau đầu dữ dội, huyết áp đột ngột tăng quá cao, tê bì chân tay, hoa mắt chóng mặt nhiều, rối loạn ý thức, tự nhiên bại hoặc liệt tạm thời chi thể trong giây lát…dưới sự hướng dẫn tỉ mỉ của thầy thuốc có chuyên khoa.
     Ở ta, hiện nay không biết căn cứ vào đâu người ta, kể cả một số công ty dược cung ứng và phân phối ACNHH mách thuốc rằng : có thể dự phòng đột quỵ não bằng cách sử dụng loại thuốc này với nhiều cách khác nhau như 3 tháng uống 1 viên, mỗi năm dùng 2 viên, mỗi tháng dùng 1 viên…Đó là một điều hoàn toàn sai lầm, bởi lẽ ACNHH là một loại thuốc có sức công phá mãnh liệt, là thuốc bệnh chứ không phải thuốc bổ và khi dùng phải được chỉ định của thầy thuốc để đảm bảo đúng bệnh, đúng người, đúng lúc và không để xảy ra các tác dụng không mong muốn.
     Trên thực tế, ở Trung Quốc cũng như Hàn Quốc, để dự phòng đột quỵ não mới hoặc dự phòng tái phát đột quỵ não cũ người ta chỉ dùng những sản phẩm có nguốc gốc từ ACNHH với việc gia thêm các vị thuốc có công dụng bồi bổ khí huyết, âm dương, tạng phủ và hỗ trợ trị liệu các bệnh lý là nguy cơ gây đột quỵ não như cao huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, vữa xơ động mạch…Ví dụ như Tâm não hoàn, Ngưu hoàng thanh tâm nguyên dạng viên hoàn hoặc dạng nước.
     Với thành phần gồm xạ hương, ngưu hoàng và linh dương giác có công dụng thanh tâm tả hỏa, trừ đàm khai khiếu, tức phong định kính ; hoàng cầm và sài hồ thanh nhiệt giải độc ; long não khứ uế, thông khai bế ; vàng lá trấn tâm an thần ; mật ong và cam thảo điều vị hòa trung, Tâm não hoàn cũng có công dụng thanh nhiệt giải độc, trấn kinh khai khiếu và trừ đàm, chuyên trị ôn nhiệt bệnh, trúng phong hôn mê, sốt cao co giật giống như An cung ngưu hoàng hoàn. Tuy nhiên, điểm khác biệt độc đáo của sản phẩm này là còn dùng bạch sâm, bạch truật, bạch linh và hoài sơn để bổ khí, đương quy bổ huyết, mạch môn dưỡng âm, xà sàng tử và nhục quế trợ dương, đan bì và bồ hoàng hoạt huyết khứ ứ và cầm máu, độc hoạt và phòng phong khu phong trừ thấp, làm mạnh gân cốt, thần khúc kích thích tiêu hóa, mầm đậu nành chống lão hóa và dự phòng các bệnh tim mạch. Hơn 20 vị thuốc phối hợp chặt chẽ với nhau tạo nên công dụng thanh nhiệt giải độc, trấn kinh khai khiếu, bổ khí dưỡng huyết, trợ dương ích âm, hoạt huyết hóa ứ của sản phẩm.
     Như vậy, Tâm não hoàn không chỉ có tác dụng công tà (chữa bệnh) mà còn bồi bổ chính khí, điều hòa công năng các tạng phủ, khắc phục các rối loạn bệnh lý do tà khí gây nên, lấy công để bổ mà không khắc phạt quá mức, lấy bổ để công mà tăng cường hiệu lực trị bệnh độc đáo của sản phẩm. Tâm não hoàn rất thích hợp trong việc làm tăng tuần hoàn não, điều hòa huyết áp, chống co giật, rối loạn nhịp tim, rối loạn thần kinh thực vật, chống chóng mặt, đau đầu, tinh thần bất an và đặc biệt là dự phòng tích cực và hỗ trợ điều trị TBMN, kể cả xuất huyết và nhồi máu với các triệu chứng như liệt toàn thân, bán thân bất toại, hôn mê, nói ngọng, liệt mặt...ở tất cả các giai đoạn. Sản phẩm đã được nghiên cứu công phu và rất nổi tiếng ở Hàn Quốc. Liều lượng sử dụng để dự phòng đột quỵ tùy theo đối tượng, tính chất và mức độ bệnh lý hoặc nguy cơ có thể dùng 1-2 viên (mỗi viên nặng 3,75g)/ngày, thông thường người lớn dùng 1 viên/lần, 1-2 lần/ngày
     Hay như Ngưu hoàng thanh tâm nguyên, trong thành phần ngoài xạ hương, linh dương giác, long não, ngưu hoàng, sài hồ, hoàng cầm giống như ACNHH, còn có nhục quế, đan bì, phòng phong, bạch truật, cát cánh, bạch linh, hoài sơn, nhân sâm, bồ hoàng, thần khúc, đại đậu hoàng quyền, mạch môn, bạch liễm, bạch chỉ, hạnh nhân, can khương…, tất cả tonghr cộng 27 vị. Sản phẩm có công dụng củng cố sức khỏe hệ tim mạch, phòng chống vữa xơ động mạch, cải thiện hệ miễn dịch, giảm mỡ máu và đường huyết, tăng cường lưu thông máu, tăng cường sức co bóp cơ tim, giúp cho tuần hoàn máu không bị đình trệ, tắc nghẽn, tăng lưu lượng máu nuôi não, được dùng để dự phòng đột quỵ não cho những người có nguy cơ cao như bệnh nhân cao huyết áp, rối loạn lipid máu, tiểu đường, người cao tuổi, béo phì…hoặc những người sau tai biến mạch não để phục hồi di chứng và dự phòng tái phát, người bị suy nhược thần kinh, mất điều hòa vận động…Liều lượng tùy theo tuổi tác, tính chất và mức độ bệnh lý có thể dùng 1 viên hoàn bọc sáp hoặc 1 lọ (50ml)/lần, 1-2 lần/ngày, dùng liên tục trong 15 ngày, 2-3 tháng một liệu trình.
     Tuy nhiên, một điều cần hết sức lưu ý là, cả hai sản phẩm trên dù là thuốc hay thực phẩm chức năng khi sử dụng nhất thiết vẫn phải có sự chỉ định và theo dõi chặt chẽ của thầy thuốc có chuyên khoa. Khi dùng, nếu thấy bất cứ biểu hiện gì bất thường đều phải ngừng lại và xin sự tư vấn của bác sĩ.

                                                                                       Hoàng Khánh Toàn


CÁC BIỆN PHÁP DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ NÃO


     Đột quỵ não (stroke) hoặc cơn tai biến mạch máu não (cerebrovascular accident) do mất đột ngột lưu lượng máu tới não (chảy máu não hoặc tắc mạch não) dẫn đến giảm, mất chức năng hoặc chết các tế bào não, là nguyên nhân gây liệt, rối loạn ngôn ngữ, mất cảm giác, trí nhớ, hôn mê và có khả năng gây tử vong.
Đột quỵ là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ hai trên thế giới sau ung thư, đứng hàng đầu về tàn phế ở người trưởng thành. Hàng năm ở Mỹ có khoảng 700.000 -750.000 bệnh nhân mới và tái phát, chi phí 30 tỷ USD cho điều trị nội trú và phục hồi chức năng. Tại Pháp, 12% tử vong ở người già do nguyên nhân đột quỵ não, đứng hàng đầu trong các nguyên nhân tử vong. Tỷ lệ mới mắc đột quỵ ở Mỹ là 135/100.000 dân, ở Pháp là 145/100.000 dân. Tỷ lệ đột quỵ tính toàn châu Âu, số người bị đột quỵ lần đầu tiên trong khoảng 141-219/100.000 dân. Ở châu Á, theo Hiệp hội thần kinh các nước Đông nam Á, tỷ lệ mới mắc đột quỵ não là : Nhật bản từ 340 - 523/100.000 dân; Trung quốc 219/100.000 dân; Israel 140/100.000 dân; Ấn độ 13/100.000 dân; Mông cổ 8/100.000 dân; Srilanca 29/100.000 dân; Việt nam 161/100.000 dân (Lê Đức Hinh, (1998). Dự kiến đến năm 2020, đột quỵ não là một trong bốn bệnh hàng đầu dẫn đến tử vong . Ở Việt nam, tỷ lệ mắc bệnh đột quỵ não đang gia tăng ở mức đáng lo ngại ở cả hai giới và các lứa tuổi. Nguy cơ xẩy ra đột quỵ gia tăng theo tuổi, tăng gấp đôi cứ mỗi 10 năm sau 55 tuổi, xấp xỉ 28% đột quỵ xẩy ra dưới 65 tuổi. Nguyên nhân chủ yếu của đột quỵ não là tăng huyết áp.
     Đột quỵ não gồm hai thể bệnh chính: chảy máu não và thiếu máu não cục bộ. Theo thống kê, đột quỵ thiếu máu não chiếm khoảng 80 - 85%, đột quỵ chảy máu não chiếm từ 10 - 15%. Quan niệm đột quỵ não chỉ là cách kết thúc cuộc đời của người già nay đã lỗi thời. Từ những năm của thập kỷ 80 trở lại đây, tỷ lệ tử vong ở các nước phát triển đã giảm nhờ chẩn đoán sớm và với các phương tiện hồi sức tích cực, tổ chức thành các đơn vị đột quỵ não cũng như các trung tâm đột quỵ não đã điều trị có hiệu quả bệnh. Mặt khác nhờ hiểu biết cơ chế bệnh sinh, có các biện pháp chống yếu tố nguy cơ trong cộng đồng có hiệu quả nhất là điều trị bệnh tăng huyết áp, nên tỷ lệ mới mắc ở các nước phát triển đã giảm đáng kể ở Anh, và các nước Bắc Âu. Từ các số liệu của Tổ chức Y tế thế giới, đã đưa ra nhận xét : đột quỵ não là bệnh hoàn toàn có thể dự phòng có kết quả bằng các biện pháp mang tính tổng hợp.
     Các biện pháp dự phòng đột quỵ não nhằm ba mục đích : phòng ngừa bị bệnh, dự phòng tái phát và điều trị củng cố. Nội dung chính bao gồm :  
- Khai thông sớm các trường hợp hẹp động mạch cảnh trong bằng các biện pháp phẫu thuật hoặc can thiệp từ bên ngoài
- Giảm dần các yếu tố nguy cơ nguyên nhân mạch máu (tăng huyết áp, tăng cholesterol, kiểm soát tốt bệnh đái tháo đường, bỏ hút thuốc lá) để ngăn chặn sự tạo thành các mảng vữa xơ động mạch

- Điều trị chống kết tập tiểu cầu để ngăn chặn sự tạo thành mảng vữa xơ động mạch mới và các biến chứng huyết khối vữa xơ động mạch do đứt vỡ các mảng này.
     Các biện pháp cụ thể bao gồm :
+ Chống tăng huyết áp để làm giảm các biến chứng về tim mạch, thận và tỷ lệ tử vong. Tích cực sử dụng các biện pháp phòng chống thừa cân và béo phì, ăn nhạt, thường xuyên tập luyện thể dục thể thao. Sử dụng thuốc hạ huyết áp đều đặn và đúng cách theo hướng dẫn của thầy thuốc.
+ Cai thuốc lá triệt để vì hút thuốc làm nguy cơ gây vữa xơ động mạch và bệnh mạch vành tăng gấp đôi, nhất là ở những người hút trên 40 điếu mỗi ngày. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng : nguy cơ đột quỵ não sẽ dứt hẳn sau một vài năm ngừng hút thuốc lá.
+ Điều chỉnh rối loạn lipid máu, trong đó đặc biệt làm giảm cholesterol. Cơ chế sinh bệnh vữa xơ động mạch chưa được hiểu biết hoàn toàn, nhưng tổn thương và hậu quả rối loạn chức năng của các tế bào nội mạc mạch máu là rất sớm. Có nhiều nghiên cứu lớn đã chỉ ra rằng tăng cholesterol là một yết tố nguy cơ độc lập của đột quỵ não.
+ Thực hiện chế độ ăn muối và kali hợp lý. Ăn mặn làm tăng huyết áp. Đối với các nước nhiệt đới, chỉ nên giảm muối vừa phải do mất muối qua mồ hôi. Chế độ ăn ít kali làm tăng nguy cơ đột quỵ do tăng huyết áp. Nên bổ sung kali bằng ăn thêm hoa quả và rau tươi. Mức độ ăn kiêng được khuyến cáo chung là không quá 2,4g natri mỗi ngày (tương đương 6g muối ăn natriclorua). Những bệnh nhân tăng huyết áp nếu giảm bớt lượng muối ăn khoảng 40mg/ngày thì sẽ giảm được nguy cơ tăng huyết áp hoặc biến chứng tim mạch.
+ Cai rượu, người ta thấy việc sử dụng rượu mức trung bình có thể cải thiện sức khỏe một cách thật sự. Tuy nhiên một số người nghiện rượu thường gặp phải những biến chứng nặng do lạm dụng rượu. Nghiện rượu nặng (sử dụng nhiều hơn 60g/ngày) tăng nguy cơ đột quỵ. Sử dụng mức độ trung bình (12-24g/ngày) giảm nguy cơ đột quỵ. Sử dụng rượu ít hơn 12g/ngày thì nguy cơ thấp nhất. “10g rượu tương đương với 330ml bia hoặc 100ml rượu vang hoặc 30ml rượu mạnh.
+ Tập thể dục để làm giảm thấp các yết tố nguy cơ của bệnh tim mạch. Những người đàn ông thường xuyên hoạt động đủ mạnh để ướt đẫm mồ hôi là đã giảm 20% nguy cơ đột quỵ. Tập thể dục mức độ trung bình, chẳng hạn như đi bộ nhanh, đạp xe đạp hoặc bơi lội ít nhất 30 phút/lần/ngày, 5 ngày/tuần là hữu ích. Tập thể dục đều đặn có thể góp phần cải thiện đường máu, giảm tỷ lệ kháng insulin, giảm cân, cải thiện một số thông số lipid, hạn chế tiến triển tổn thương xữa xơ động mạch và cải thiện huyết áp. Tập thể dục có tác dụng làm giảm HA tâm thu, giảm béo phì. Thể dục làm giảm tỷ lệ nhồi máu cơ tim do đó cũng làn giảm tỷ lệ đột quỵ não.
+ Chống béo phì, nhất là  béo bụng vì đó là nguy cơ lớn nhất của đột quỵ. Về yếu tố nguy cơ của đột quỵ, nghiên cứu sức khỏe dinh dưỡng đã xác định rằng gia tăng chỉ số khối cơ thể = [trọng lượng (kg)] chia cho [chiều cao (m)]2, nếu > 27kg/m2 và tăng cân nặng sau 18 tuổi làm tăng yếu tố nguy cơ của nhồi máu não.
+ Chống bệnh đái tháo đường để làm giảm nguy cơ đột quỵ não. Nghiên cứu ở Framinham đã xác định rằng nguy cơ đột quỵ cao hơn trong những bệnh nhân đái tháo đường so với những bệnh nhân không đái tháo đường. Khi một bệnh nhân đái tháo đường bị đột quỵ thì hậu quả hiểm nghèo hơn nhiều so với bệnh nhân không bị đái tháo đường. Lý do của hậu quả này là do bệnh nhân bị đái tháo có vòng tuần hoàn nghèo nàn.
+ Phát hiện và điều trị sớm các bệnh lý về tim như Rối loạn nhịp (đặc biệt là rung nhĩ), tổn thương van tim, các tổn thương cơ tim đặc biệt là nhồi máu mới, nhồi mấu cũ và bệnh lý cơ tim.
+ Sử dụng các thuốc dự phòng theo hướng dẫn của thầy thuốc, bao gồm :
    (1) Các thuốc tây y như : Các thuốc chống đông và thuốc chống kết tập tiểu cầu do ức chế sự tổng hợp thromboxan A2 của tiểu cầu (chất làm dính các tiểu cầu với nhau và với thành mạch) đồng thời giúp ổn định màng tế bào làm ADP không giải phóng ra được khỏi màng tế bào để tham gia vào quá trình kết dính tiểu cầu nên đã được dùng phổ biến trong thời kỳ cấp để ngăn chặn huyết khối tiến triển và tái phát. Chúng có lợi ích dự phòng lâu dài cho nhiều nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ đột quỵ bao gồm rung nhĩ, tình trạng tăng đông. Tuy vậy, các thuốc này không làm tiêu có ý nghĩa cục máu đông và không thể tái lập nhanh tưới máu não trong giai đoạn cấp. Các thuốc chống kết tập tiểu cầu chủ yếu là Aspirin, Dypiridamol, Aggrenox, Clopidogrel…
   (2) Các thuốc đông y như Hoa đà tái tạo hoàn, là phương thuốc bí truyền dân gian Trung quốc được nghiên cứu sản xuất dưới dạng viên hoàn, liều dùng 8 gam/1 lần x 2 lần/24h, một đợt điều trị 30 ngày, có thể uống 3 đợt liên tục và không có tai biến. Thuốc có tác dụng khu phong khai khiếu, hoạt huyết hoá ứ, tiêu sưng tán kết. Thuốc đã được nghiên cứu thực nghiệm trên động vật (thỏ, chó, mèo, chuột) nhận thấy thuốc làm tăng lưu lượng động mạch cảnh gốc và động mạch cảnh trong, làm tăng cường tính co bóp của cơ tim. Thuốc cũng đã được nghiên cứu thử nghiệm trên lâm sàng ở nhiều bệnh viện của Trung Quốc để điều trị cho các bệnh nhân sau đột quỵ não (cả đột quỵ chảy máu và đột quỵ thiếu máu não) và đã được xác định có sự cải thiện rõ lưu lượng máu não của bệnh nhân, giảm độ quánh máu, giảm chỉ số kết tập tiểu cầu, cải thiện khả năng biến dạng hồng cầu, dự phòng tích cực đột quỵ tái phát ; Luotai, là Panax notogingseng saponin (dạng bột pha tiêm, viên nén, dung dịch tiêm) của Trung Quốc dùng để dự phòng và điều trị đột quỵ thiếu máu cục bộ não cấp và bán cấp do có tác dụng làm bền vững thành mạch máu, cải thiện vi tuần hoàn, tác động vào quá trình đông máu, giảm đau và chống viêm. Ngoài ra còn nhiều loại đông dược thành phẩm khác như Hoạt huyết dường não, viên Kỷ cúc địa hoàng hoàn, viên Tứ vật đào hồng…


                                                                                            Hoàng Khánh Toàn