Thứ Ba, ngày 16 tháng 9 năm 2014

dược thiện phòng chống đau mắt đỏ

DƯỢC THIỆN PHÒNG CHỐNG ĐAU MẮT ĐỎ


     Trong y học cổ truyền, đau mắt đỏ (viêm kết mạc cấp tính) là một bệnh thường gặp do dịch độc, nhiệt độc của thời tiết xâm nhập vào mắt gây nên. Có rất nhiều phương pháp để phòng chống căn bệnh này như dùng thuốc, châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt…, trong đó có việc sử dụng các món ăn-bài thuốc (dược thiện). Có thể dẫn ra một số ví dụ dưới đây :
- Ruột dưa hấu 500g giã nát ép lấy nước uống mỗi lần 2 cốc, mỗi ngày 3 lần.
- Dưa quả tươi tùy mùa như lê, đào, quýt, mận, mía, dưa chuột, dưa bở, dưa gang, dưa lê…ép lấy nước uống hàng ngày, mỗi ngày 3 cốc con.
- Hoa cúc tươi 10g, cốc tinh thảo tươi 20g, sắc lấy nước uống thay trà trong ngày. Dùng để dự phòng và hỗ trợ trị liệu những trường hợp mắt sưng đỏ, chảy nhiều nước mắt và có nhiều dử, sợ ánh sáng.
- Hạt dành dành 20g sao khô tán bột, rau sam tươi 100g rửa sạch, ngâm với nước muối rồi giã nát, vắt lấy nước uống với bột hạt dành dành.
- Rễ lau tươi 2 nhánh, lá sen tươi ½ tàu cùng sắc lấy nước uống thay trà trong ngày, tối thiểu là 3 cốc. Dùng để phòng bệnh và hỗ trợ diều trị những trường hợp đau mắt đỏ có sốt nhẹ, môi khô miệng khát, mắt rát nhiều.
- Vỏ quýt tươi 30g, phật thủ tươi 20g, sắc lấy nước bỏ bã đem ninh với 20g gạo tẻ thành cháo loãng, chia ăn 2 lần trong ngày. Dùng cho những trường hợp đau mắt đỏ kèm theo tình trạng nhức mắt nhiều, tức ngực, hay cáu gắt, tâm tính bất an.
- Rau cần tươi 500g, rửa sạch, chần nước sôi, thái nhỏ làm nhân, bao vằn thắn, đồng thời nước cần làm canh ăn, ăn canh và vằn thắn. Dùng cho trường hợp đau mắt đỏ có kèm theo đau đầu, miệng đắng, đại tiện bất thông.
- Lá non của thạch lựu tươi 30g sắc lấy nước uống thay trà trong ngày.
- Mã thầy tươi 250, nấu chín, uống canh ăn mã thầy, mỗi ngày 1 lần. Dùng cho trường hợp đau mắt đỏ có kèm theo ho, khạc đờm vàng, môi khô,họng khát, mắt sưng đau nhức.
- Thạch quyết minh 30g, dã cúc hoa 15g, tang diệp 9g, sắc lấy nước uống thay trà trong ngày.
- Quyết minh tử, sơn cúc hoa mỗi thứ 9g, mạn kinh tử và mộc tặc mỗi thứ 6g, sắc lấy nước uống thay trà trong ngày.
- Sinh địa hoàng 9g, kim ngân hoa 9g, hoàng liên 6g, cam thảo 3g sắc lấy nước uống thay trà trong ngày, mỗi ngày 1 thang.
- Hợp hoan hoa 5g, gan gà hoặc gan dê 100g, hai thứ đem hấp chín ăn trong vài ngày.
- Rễ xa tiền thảo 9g, thanh ngư thảo 6g, thạch cao sống 6g, sắc lấy nước uống trong ngày.
- Rễ dâu tươi 30g rửa sạch sắc lấy nước uống thay trà hoặc đem luộc với gan lợn ăn và uống vào sáng sớm lúc bụng đói. Hoặc dùng ngon dâu non lượng vừa đủ sắc lấy nước uống hoặc nấu canh ăn.
- Cúc vạn thọ 15g sắc lấy nước uống thay trà hàng ngày.
- Mướp đắng và cỏ bấc đèn lượng vừa đủ. Mướp đắng sấy khô nghiền thành bột, uống với nước sắc cỏ bấc đèn, mỗi ngày 15-20g.
- Hạ khô thảo sao 6g, hương phụ  sao dấm 3g, cam thảo nướng 12g. Các vị thuốc sấy khô, tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 4,5g với nước trà xanh.
- Quy đầu, sinh địa, bạch cúc hoa, bạch truật và bạch linh, mỗi thứ 120g. Tất cả sấy khô, tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 9g với nước sôi sau bữa ăn.
- Bí đao 250g, kim ngân hoa 30g, đậu phụ 100g, trứng gà 1 quả, gia vị vừa đủ. Bí đao gọt vỏ bỏ hạt thái miếng, kim ngân hoa cho vào túi vải sắc lấy nước bỏ bã, đậu phụ nghiền nát, đập trứng gà vào đánh đều rồi đem hấp cách thủy cho chín, cắt thành từng miếng nhỏ. Nấu bí đao với nước sắc kim ngân cho chín rồi cho đậu phụ vào, đun sôi một lát, chế đủ gia vị, ăn nóng.
- Thịt lợn nạc 50g, giao bạch 3 củ, vỏ dưa hấu 30g, trứng gà 2 quả, đạm trúc diệp 10g, gia vị vừa đủ.Thịt lợn rửa sạch thái chỉ, giao bạch bỏ vỏ và đầu rửa sạch thái chỉ, vỏ dưa hấu rửa sạch thái chỉ, trứng gà đập vào bát đánh đều với một chút muối gia vị. Sắc đạm trúc diệp lấy nước bỏ bã, cho thịt lợn, gia bạch và vỏ dưa hấu vào nấu chín, tiếp đó đổ trứng gà vào quấy đều, đun sôi một lát là được, chế thêm gia vị làm canh ăn.
Nhìn chung, những món dược thiện trên đây đều đơn giản, dễ kiếm, dễ chế, dễ dùng và rẻ tiền, được dùng để phòng bệnh và hỗ trợ điều trị bệnh đau mắt đỏ. Đây là một phần trong kho tàng kinh nghiệm dân gian được sử dụng để phòng chống viêm giác mạc cấp tính cùng với các liệu pháp tự nhiên khác.

                                                                                Hoàng Khánh Toàn

     

Một số cây thuốc giải độc

MỘT SỐ CÂY THUỐC GIẢI ĐỘC TIÊU BIỂU


     Trong y học cổ truyền, các vị thuốc có công dụng giải độc là rất phong phú và thực sự là những thảo dược cứu cánh cho rất nhiều trường hợp ngộ độc thuốc hoặc thực phẩm khi y học hiện đại chưa có mặt ở nước ta. Và ngay trong điều kiện hiện nay khi “thuốc không có trong tay, thầy chưa có tại chỗ” thì chúng vẫn có một giá trị dự phòng và hỗ trợ điều trị tích cực. Trong những vị thuốc này có thể kể đến một số cây thuốc giải độc điển hình sau đây :
1. Bòn bọt
     Còn gọi là cây bọt ếch, chè bọt, cây sóc…,tên khoa học là Glochidion eriocarpum Champ., được dùng để chữa rắn độc cắn bằng cách lấy lá tươi giã nát, vắt lấy nước uống, bã đắp lên vết thương hoặc dị ứng sơn (lấy cả cành lá sắc lấy nước để rửa. Ngoài ra, còn được dùng để chữa ỉa chảy, lỵ trực khuẩn, phù thũng…
2. Cam thảo đất
     Còn gọi là cam thảo nam, thổ cam thảo, tên khoa học là Scoparia dulcis L.,vị ngọt, tính mát, có công dụng giải nhiệt, chữa cảm sốt, say sắn, ngộ độc nấm bằng cách dùng 100g cây tươi rửa sạch, sắc lấy nước uống.
3. Cây mua
     Có tên khoa học là Melastoma D. Don, thường dùng để giải ngộ độc sắn bằng cách lấy 60-100g lá hoặc rễ sắc uống. Ở nước ta có nhiều loại mua, người ta coàn dùng cây mua lùn (Melastoma dodecandrum Lour. Để giải độc sắn và chữa rắn độc cắn (lấy rễ giã nát, hãm với nước sôi hoặc sắc lấy nước uống)
4. Đậu xanh
     Tên khoa học là Vigna radiata (L) Wilezek, vị ngọt, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu thử lợi tiểu. Để giải độc lấy 100g đậu xanh rửa sạch, nghiền sống, chế nhiều nước rồi uống hoặc nhai luôn 1-2 nắm hạt sống rồi uống nhiều nước. Có thể lấy cả hạt ninh nhừ ăn, nếu chỉ có vỏ hạt thì sắc lấy nước uống. Cũng có thể dùng bột đậu xanh khuấy với nước nguội để uống. Hạt đậu xanh dùng giải độc trong mọi trường hợp, đặc biệt khi say sắn và ngộ độc nấm.
5. Kim ngân
     Tên khoa học là Lonicera japonica Thunb., thường dùng cành lá và hoa để chữa bệnh và giải độc bằng cách mỗi ngày dùng 12g hoa (kim ngân hoa) hay 20g cành lá (kim ngân đằng) sắc lấy nước uống. Nước sắc kim ngân được dùng để giải độc do cà độc dược, cỏ sữa lá to, hạt dây cam thảo, lá ngón và nấm độc. Có thể dùng lá kim ngân tươi nhai kỹ rồi nuốt lấy nước. Kim ngân thường dùng riêng hoặc kết hợp với bồ công anh, sài đất.
5. Ổi
     Tên khoa học là Psidium guajava L., thường dùng quả xanh, lá non hoặc búp ổi để làm thuốc. Theo kinh nghiệm dân gian, ăn quả xanh có thể giải độc ba đậu và các chất độc gây ỉa chảy.
6. Rau má
     Tên khoa học là Centella asiatica (L.) Urb, vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt giải độc, làm mát gan và lợi tiểu. Để giải độc lá ngón hoặc say sắn lấy cả cây rau má rửa sạch, giã nát, hòa với nước ấm rồi gạn lấy nước uống ; để chữa ngộ độc nấm cũng làm như trên hoặc lấy rau má 160g đem sắc với 80g đường phèn lấy nước uống hoặc lấy 160g rau má và 400g củ cải tươi, rửa sạch, giã nát, ép lấy nước uống.
7. Rau mùi
     Tên khoa học là Coriandrum sativum L., thường dùng để chữa nhiễm độc thức ăn bằng cách lấy khoảng 120g hạt mùi đem sắc với 2 bát nước lấy 1 bát, chia uống 2 lần trong ngày.
8. Sắn dây
     Còn gọi là cát căn, tên khoa học là Pueraria var. Chinensis (Ohwi) Maesen, thường dùng lá, hoa, rễ củ và bột để giải độc bằng cách : lấy củ sắn dây tươi rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước uống hoặc củ khô (cát căn) sắc lấy nước uống ; bột sắn dây hòa với nước rồi pha thêm đường uống ; lá sắn dây tươi rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước uống để chữa rắn độc cắn, bẫ đắp lên trên vị trí tổn thương.

                                                                                    Hoàng Khánh Toàn

     

Kinh nghiệm dân gian giải độc

GIẢI ĐỘC BẰNG KINH NGHIỆM DÂN GIAN


     Trong y học cổ truyền, kho tàng kinh nghiệm dân gian chữa trị các tình trạng ngộ độc là hết sức phong phú. Các kinh nghiệm này hiện nay không còn được dùng nhiều nữa, nhưng trong một chừng mực nhất định chúng vẫn có giá trị trong những hoàn cảnh nhất định và vẫn là những gợi mở thú vị cho việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu, chứng minh, thừa kế và phát triển những “vốn cổ” mà người xưa đã để lại. Bài viết này xin được dẫn ra một số kinh nghiệm điển hình để độc giả tham khảo.
1. Ngộ độc thức ăn
     Trước hết, cần loại trừ chất độc ra khỏi cơ thể càng sớm càng tốt, nhất là mới bị sau bữa ăn 1-2 giờ bằng các biện pháp như : lấy muối ăn 1 thìa canh(25g) sao qua, pha vào một bát nước sôi cho uống 3 lần, mỗi lần cách nhau chừng 10 phút hoặc dùng lông gà (rửa sạch bằng nước muối), bảo bệnh nhân há miệng đưa vào gần cuống họng sẽ nôn ngay hoặc dùng ngón tay ngoáy họng cũng có hiệu quả.
     Sau đó, cho uống nước trà đường nóng để bù nước, cầm đi lỏng, phân giải hòa loãng chất độc. Có thể dùng nước sắc lá sim, lá ổi, núm hoa chuối tiêu, vỏ măng cụt…sao vàng sắc đặc cho uống. Nếu biết bệnh nhân ngộ độc thức ăn gì thì có thể dùng các vị thuốc, bài thuốc như : ăn thịt không tiêu dùng sơn tra 12g sắc uống ; ăn chất bột không tiêu dùng mạch nha 12g, thần khúc 12g sắc uống ; ăn rau sống và hoa quả không tiêu dùng can khương 10g, thần khúc 10g sắc uống ; ăn tôm cá cua không tiêu dùng cành tía tô 12g, trần bì 10 sắc uống ; do ăn cá không tiêu dùng rau diếp cá và lá tía tô mỗi thứ 50g sắc uống ; do ăn cả cá và thịt không tiêu dùng tỏi 10g, phèn phi 10g, hai thứ giã nhỏ, pha nước sôi uống ; do ăn thịt lợn dùng hành củ 100g giã nát vắt lấy nước uống ; do ăn thịt dê dùng lá và hạt mướp đắng 100g sắc uống, do ăn thịt trâu bò dùng tương ăn 100 ml hòa với 20 ml nước gừng tươi uống ; do ăn thịt gà dùng lá chanh 100g sắc uống ; do ăn thịt chó dùng lá và củ giềng sao, rau má, mỗi thứ 30g sắc uống.
2. Ngộ độc sắn
     Có thể dùng một trong những bài thuốc như : (1) Con cua đồng tươi (rửa qua nước sôi) 10-20 con giã nhỏ, hòa với 1 bát nước đun sôi để nguội rồi lọc lấy nước cốt uống. Bài này dùng chung cho cả gia súc bị ngộ độc sắn. (2) Mật mía 200-300 ml hoặc nước đường pha đậm uống. (3) Cam thảo bắc 20g hoặc cam thảo đất 50g sắc uống. (4)Tương ăn 150-200 uống. (5) Rau muống sống 100g cắt đoạn rửa sạch, giã nhỏ, vắt lấy nước, đem trộn với 50g cám gạo tẻ, bọc vào vải sạch vắt lọc lấy nước uống. (6) Nước cốt rau má 100 ml, nước cốt lá sắn dây 50 ml hòa với mật hoặc nước mía hoặc nước đường uống. Chú ý : cấm không được dùng các loại thuốc đau bụng như viên rửa, thuốc gió, rượu quế, rượu hồi...rất nguy hiểm vì làm bệnh nặng thêm.
3. Ngộ độc dứa
     Có thể dùng một trong một trong các bài thuốc như : (1) Vỏ dứa (loại dứa bị ngộ độc) 100g, cam thảo hoặc mộc nhĩ đen 15-25g sắc uống, mỗi thang sắc 2-3 lần. (2) Bồ công anh 12g, ké đầu ngựa 15g, lá dâu 16g, kinh giới 16g, thổ phục linh 16g, cam thảo hoặc đậu xanh 4g, sắc lấy nước uống. Chú ý : tránh rửa nước, quạt lạnh, mùi khét, bụi lông vải…kiêng tôm, cua, sò…Khi ổn định cho uống trà đường.
4. Ngộ độc nấm
     Trước hết nên làm động tác gây nôn để thải hết thức ăn. Sau đó, dùng một trong những bài thuốc như : (1) Mộc nhĩ đen hoặc nấm hương 25-40g sắc 3 lần, mỗi lần lấy 200 ml, uống 3 lần. Nếu dùng nấm hương có thể cho thêm 10 cái thì càng tốt, hiệu quả của nấm hương cao hơn mộc nhĩ. (2) Đậu xanh 200g (chừng 1 bát), đem tán nhỏ, nấu đặc lấy nước uống hoặc cho vào một ít gạo nếp nấu thành cháo ăn. (3) Mộc nhĩ đen hoặc nấm hương 40g, đậu xanh 100g sắc đặc uống. (4) Rau khoai lang sống 50 ngọn, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước uống. (5) Óc thỏ 5 cái và dạ dày thỏ 2 cái, làm sạch, thái nhỏ rồi trộn đường ăn sống.
5. Ngộ độc hải sản (tôm, cá, sò, cá nóc…)
     Ngộ độc cá, tôm, sò…dùng lá tía tô tươi 50g sắc với 3 bát nước lấy 1 bát uống trong ngày. Ngộ độc cá nóc dùng ngọn khoai lang 50-60g, muối ăn 6g, hai thứ đem giã lẫn, vắt lấy 1 bát nước uống trong ngày.
6. Ngộ độc thuốc
     Tất cả các loại thuốc khi ngộ độc sau động tác gây nôn có thể dùng nước cốt rau muống 150 ml hoặc nước sắc củ khúc khắc (thổ phục linh)  200 ml uống. Riêng ngộ độc thuốc phiện đốt 100g bông gòn pha với nước uống ; ngộ độc mã tiền dùng cạo rỉ sắt 100g giã nhỏ hòa với nước sôi gạn trong uống ; ngộ độc ba đậu dùng nước ép lá chuối tươi hoặc nước sắc hoàng liên uống ; ngộ độc cà độc dược dùng vỏ đậu xanh 160g, liên kiều 40g, kim ngân hoa 80g, cam thảo 20g sắc với 2 lít nước còn 200 ml, cách 2 giờ uống 1 lần ; ngộ độc lá ngón cho uống thật nhiều nước cam thảo ; ngộ độc cây niệt gió cho ăn uống nước muối loãng, ăn cháo nhạt nguội ; ngộ độc thạch tín dùng bột xuyên tiêu (sao) 100g, sáp ong vừa đủ luyện thành viên, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 12g ; ngộ độc thuốc trừ sâu dùng nước chanh hoặc nước mắm uống…


                                                                                       Hoàng Khánh Toàn

Tập thở để thanh lọc cơ thể

TẬP THỞ ĐỂ THANH LỌC CƠ THỂ


     Thường thì khi nói đến thanh lọc cơ thể người ta chỉ nghĩ đến việc lựa chọn và sử dụng những đồ ăn thức uống hoặc các loại thuốc và thực phẩm chức năng nào đó có công dụng giải độc và làm sạch nhân thể mà ít ai nghĩ rằng động tác thở cũng là một trong những phương cách hữu ích trong vấn đề này.
     Như chúng ta đều biết, trong quá trình chuyển hóa thay cũ đổi mới cơ thể chúng ta sản sinh và thải ra bên ngoài rất nhiều thán khí và đồng thời cũng cần hấp thu một lượng dưỡng khí không nhỏ. Lượng thán khí được thải ra càng triệt để bao nhiêu, lượng dưỡng khí đưa vào càng tận thu bao nhiêu thì cơ thể càng khỏe mạnh bấy nhiêu, đúng như các dưỡng sinh gia đời xưa đã nói : “Hơi thở cũng giống như cái bánh đà trong một guồng máy, nó truyền và điều khiển sức sống trong cơ thể chúng ta”. Nhưng vấn đề là ở chỗ, thở như thế nào để đạt được hiệu quả thanh lọc cơ thể ở mức cao nhất ? Nghĩa là chúng ta phải biết cách thở, phải đưa động tác thở vốn mang tính tự phát sang tính tự giác với ý định điều khiển một cách chủ động. Đó chính là phép luyện khí dưỡng sinh nhằm thanh lọc cơ thể của y học phương Đông.
     Về nguyên tắc, động tác thở cơ bản là thở sâu, thở êm và thở dài. Thở sâu làm thông khí dễ dàng trong hai lá phổi và bằng cách tạo ra một áp suất âm trong khoang ngực, sự thở sâu tác động như một cái bơm hút máu từ các tĩnh mạch tuần hoàn qua tim. Do dung tích tăng lên, phổi chứa được nhiều máu hơn và do máu được tiếp xúc với khí trong phổi nhiều hơn nên sự trao đổi khí diễn ra triệt để hơn, việc thanh lọc thán khí và cung cấp dưỡng khí cần thiết cho cơ thể cũng được đảm bảo tốt hơn.
     Cơ sở của mọi phép luyện khí dưỡng sinh là phép thở đầy đủ. Phép thở đầy đủ là sự tổng hợp của ba cách thở : thở trên, thở giữa và thở dưới. Thở trên, còn gọi là thở xương đòn, là cách thở chỉ có bộ phận trên của ngực và phổi hoạt động nên lượng không khí qua phổi là thấp nhất. Thở giữa, còn gọi là thở liên sườn, lúc thở vào cơ hoành đưa lên, bụng thót lại, ngực phình ra, một bộ phận phổi cũng nở rộng. Hầu hết chúng ta thường thở theo cách này. Thở dưới, còn gọi là thở cơ hoành, khi thở ra thì cơ hoành cong khum lên, bụng thót lại và khi thở vào, cơ hoành hạ xuống nén các phủ tạng ở bụng về phía dưới và đẩy bụng phình ra phía trước.
     Cách thở trên chỉ làm đầy không khí cho phần trên của phổi, cách thở giữa làm đầy không khí phần giữa và một phần nhỏ dưới phổi, còn cách thở dưới  làm tràn đầy không khí cho toàn bộ phần giữa và dưới của phổi. Như vậy, cách thở thứ ba là cách thở tốt nhất. Song cách thở này cũng không làm đầy không khí trong toàn bộ hai lá phổi. Chỉ có trong phép thở đầy đủ, phép thở tổng hợp được cả ba cách thở nêu trên thì mới đem lại hiệu quả tối đa cho việc thanh lọc thán khí và cung cấp dưỡng khí cho cơ thể.
     Trong phép thở đầy đủ, khi thở vào, thoạt tiên cơ hoành hạ xuống, bụng từ từ phình ra phía trước, không khí đi vào phần dưới phổi. Sau đó ta giương ngang các xương sườn phần dưới và giữa lồng ngực sao cho từng chút một không khí thâm nhập vào phần giữa của hai lá phổi. Cuối cùng, ta làm lồng ngực nở bồng hết và không khí đi vào phần trên của phổi. Ở giai đoạn cuối này, ta thót bụng lại để làm giá tựa cho phổi, đồng thời để cho các thùy phổi bên trên chứa đầy không khí. Phép thở này hình như là một động tác gồm ba giai đoạn tách biệt nhau nhưng thực ra không phải như vậy. Vì, khi thở ta thực hiện liên tục không đứt đoạn từ động tác này sang động tác khác. Nhìn nghiêng, phép thở đầy đủ là một động tác thống nhất, từ từ và lượn sóng, bắt đầu từ nơi bụng. Khi đã tập quen rồi ta có thể chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác một cách thuần thục. Khi thở ra, ta bắt đầu thở từ từ qua mũi theo đùng thứ tự như khi thở vào : thoạt đầu thót bụng lại, ép các xương sườn tự do vào nhau, cuối cùng hạ vai và xương đòn xuống, không khí ở phần dưới phổi đi ra trước rồi sau đến không khí phần giữa và trên phổi.
     Ngoài ra, điều quan trọng trong phép luyện thở dưỡng sinh nhằm thanh lọc cơ thể của y học phương Đông không phải chỉ là thở đầy đủ mà còn phải thở có nhịp điệu, lấy nhịp đập của tim làm cơ sở cho nhịp thở. Một lần thở sâu thường gồm hai đơn vị thở vào và thở ra. Nhưng một lần thở theo phép thở đầy đủ gồm 4 khâu : thở vào, nín thở, thở ra và nghỉ. Có nhiều quan điểm khác nhau về tỷ lệ thời gian cho từng khâu. Đa số cho rằng tỷ lệ thời gian của các khâu là 1:4:2:1, làm như vậy tương đối nặng. Đối với những người mới tập, tỷ lệ này nên là 1:2:1:1. Nếu như thở vào là 6 nhịp tim thì nín thở trong 12 nhịp tim. Và nếu kiên trì luyện tập thì khi thở vào có thể lên tới 12 nhịp tim.
     Có thể thấy, luyện thở dưỡng sinh cũng là một trong những phương cách nhằm thanh lọc cơ thể, mà cụ thể là thanh lọc thán khí và các chất khí độc hại khác sản sinh trong quá trình chuyển hóa nội sinh hoặc giả bị xâm nhập từ bên ngoài vào trong nhân thể. Không những thế, phép thở này còn giúp cho cơ thể hấp thu được một lượng tối đa dưỡng khí thiết yếu vốn luôn sẵn có xung quanh chúng ta cho mọi hoạt động của tạng phủ mà không mất bất kỳ một đồng xu nào so với việc tìm mua thuốc, thực phẩm chức năng hay các loại thực phẩm đắt đỏ để thanh lọc cơ thể.


                                                                                    Hoàng Khánh Toàn 

Thứ Tư, ngày 13 tháng 8 năm 2014

Rau cần nước chữa bệnh

CHỮA BỆNH BẰNG RAU CẦN NƯỚC


     Rau cần nước, còn gọi là cần cơm, cần ống, hương cần, hồ cần…, có tên khoa học là Oenanthe javanica (Blume), là một trong những loại rau thông dụng ở nước ta. Về thành phần hóa học, rau cần có chứa tinh dầu, acid hữu cơ, caroten, vitamin P, C, đạm, đường, canxi, phôtpho, sắt…Nghiên cứu dược lý cho thấy, loại rau này có tác dụng giảm ho, chống viêm, long đờm, kháng nấm, hạ huyết áp, giảm đường và mỡ máu. Theo dược học cổ truyền, rau cần nước tính mát, vị ngọt, hơi cay, có công dụng bình can thanh nhiệt, lương huyết, trừ phong lợi thấp, lợi đại tiểu tràng, lợi tiểu tiêu thũng, giảm đau và cầm máu, thường được dùng để chữa nhiều chứng bệnh khác nhau như :
* Huyết áp cao : (1) Rau cần nước tươi 200g, mã dâu linh 15g, tiểu kế 25g, tiểu kế 15g, sắc với 500 ml nước, cô còn một nửa, bỏ bã, cô tiếp còn 100 ml, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 10 ml. (2) Rau cần tươi rửa sạch luộc sôi trong 1-2 phút, vớt ra cắt đoạn trộn với gia vị, dầu vừng và giấm làm thức ăn, nước luộc đem ngâm chân trong 15-20 phút. (3) Rau cần 500g luộc chín lấy nước cho thêm đường vừa đủ uống thay trà trong ngày. (4) Rau cần tươi 250g, rửa sạch, ép lấy nước uống hàng ngày.
* Huyết áp cao, tăng cholesterol máu : (1) Rau cần nước tươi bỏ rễ, rửa sạch bằng nước đun sôi để nguội, giã nát ép lấy nước, chế thêm mật ong hoặc mật mía, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 40 ml. (2) Rau cần 10 cây, rửa sạch giã nát, đem sắc với 10 quả đại táo lấy nước uống, mỗi ngày 2 lần. (3) Rau cần cả rễ 120g rửa sạch, cắt nhỏ, đem nấu với gạo tẻ thành cháo ăn thường xuyên.
* Đái tháo đường : Rau cần nước 500g, rửa sạch, vò nát, ép lấy nước, chia uống 2 lần trong ngày. Có thể dùng nước sôi chần qua rồi vớt ra thái khúc trộn gia vị ăn thường xuyên.
* Mất ngủ : Rễ rau cần 90g, toan táo nhân 9g, sắc uống hàng ngày.
* Đau đầu : Rễ rau cần lượng vừa đủ, rửa sạch vò nát, đem tráng với trứng gà ăn thường xuyên.
* Đau bụng sau khi đẻ : Rau cần nước 60g, nấu chín chế thêm đường đỏ và một chút rượu mùi, uống lúc đói bụng.
* Viêm phế quản : Rễ rau cần 100g, vỏ quýt 9g, di đường 30g. Cho di đường vào nồi thắng rồi cho các vị thuốc đã sấy khô sao hơi cháy vào sắc với nước uống trong ngày.
* Ho lâu ngày : Râu cần nước để cả rễ 500g, rửa sạch vò nát, ép lấy nước, cho thêm một chút muối, đem hấp cách thủy, rồi uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần một chén, dùng liên tục vài ngày.
* Viêm gan mạn tính, tiểu tiện ra máu : Rau cần nước tươi 200g rửa sạch, vò nát, ép lấy nước, chế thêm 50 ml mật ong, chia uống 2 lần trong ngày, dùng liên tục trong nhiều ngày.
* Trẻ em nôn và đi lỏng : Râu cần tươi lượng vừa đủ, sắc lấy nước, chế thêm đường, chia uống vài lần trong ngày.
* Trẻ em sốt cao : Rau cần tươi 25g, đại mạch nha 25g, xa tiền tử 10g, sắc lấy nước uống. Rễ rau cần 100g, vỏ quýt 9g, di đường 30g. Cho di đường vào nồi thắng rồi cho các vị thuốc đã sấy khô sao vàng vào sắc với nước uống trong ngày.
* Kinh nguyệt sớm : Rau cần tươi 100g (rau khô thì khoảng 30g), sắc uống liên tục trong 1-2 tháng.
* Viêm khớp do phong thấp : Rau cần tươi lương vừa đủ rửa sạch ép lấy nước, chế thêm đường, đun sôi uống thay trà.
* Mụn nhọt do nhiệt độc : Râu cần nước tươi 50-100g, bồ công anh và bại tương thảo lượng vừa đủ, rửa sạch giã nát, đắp vào tổn thương.
* Viêm tuyến vú : Râu cần nước tươi giã nát, trộn với dầu cải hoặc dầu vừng, đắp vào tổn thương.
* Đái ra máu, đái buốt : Râu cần nước để cả rễ 100-200g, rửa sạch, giã nát vắt lấy nước uống


                                                                                         Hoàng Khánh Toàn

rau hẹ khởi dương

 RAU HẸ KHỞI DƯƠNG


Ca dao có câu: “Gió đông lạnh buốt tái tê, thanh hao lá hẹ tràn trề cỗ xuân”, trong thời tiết nắng ấm có pha chút lành lạnh đầu xuân, rau hẹ phát triển tươi tốt trong vườn. Thứ rau này là thực phẩm của cả bốn mùa, nhưng ăn vào mùa xuân là tốt nhất. Tục ngữ đã nói: “Ăn hẹ xuân thì thơm, ăn hẹ hè thì thối”. Mùa xuân thời tiết nóng lạnh bất thường cơ thể cần phải bảo dưỡng dương khí, mà rau hẹ lại có tính ôn nên rất thích hợp trong việc ôn bổ dương khí, bởi vậy hẹ còn được gọi là “rau khởi dương”. Rau hẹ khá giàu chất dinh dưỡng bao gồm đường, đạm, mỡ, caroten, vitamin B, C, chất xơ, canxi, photpho, sắt…, đặc biệt còn chứa nhiều hoạt chất có tính kháng khuẩn, tiêu viêm. Người ta ước tính, trong mỗi 100g rau hẹ có chứa 2,1g protein, 0,6g lipid, 3,2g carbonhydrat, 48mg Canxi, 46 mg photpho, 1,7g sắt, 3,21mg carotene, 0,03mg vitamin B1, 0,09mg vitamin B2, 0,9mg vitamin B3, 39mg vitamin C. Rau hẹ mềm mại, có mùi thơm đặc biệt, vị lại hơi cay nên rất dễ ăn, được dùng làm gia vị đồng thời làm rau ăn. Từ xa xưa, trong thành phần nhân bánh bao, vằn thắn, sủi cảo…không thể thiếu rau hẹ.
Theo y học cổ truyền, rau hẹ vị ngọt cay, tính ấm, có công dụng ôn trung bổ hư, điều hoà phủ tạng, bổ thận ích dương. Với chứng dương hư thận yếu, liệt dương, di mộng tinh, lưng đau gối mỏi có thể lấy 250g lá hẹ, 60g nhân hồ đào, dùng dầu vừng xào chín, ăn trong ngày, dùng liên tục trong một tháng sẽ có công hiệu rất tốt. Với chứng tỳ vị hư hàn gây đi lỏng có thể lấy 100g gạo nấu thành cháo loãng rồi cho 60g lá hẹ tươi rửa sạch thái nhỏ vào quấy đều, ăn nóng mỗi ngày một thang, dùng 6 thang liên tục có thể đạt được mục đích kiện tỳ chỉ tả. Với chứng bệnh ung thư thực quản, ung thư dạ dày, viêm loét dạ dày hành tá tràng thuộc thể tỳ vị hư hàn có thể lấy 250g lá hẹ tươi, sinh khương 30g rửa sạch, giã nát, ép lấy nước, hòa với 250 ml sữa tươi, đun sôi rồi uống từ từ. Với cơn đau cấp vùng thượng vị (vị quản thống) dùng 500g lá hẹ tươi, rửa sạch ép lấy nước, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 50 ml. Với những trường hợp nôn ra máu, khái huyết, chảy máu cam, đái ra máu…dùng 500g lá hẹ tươi rửa sạch, ép lấy nước, cô đặc rồi trộn với bột sinh địa làm hoàn, mỗi viên 3g, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 2 viên. Với chứng ho trẻ em lấy lá hẹ 15g, hoa đu đủ đực 15g, hạt chanh 20 hạt, cho vào bát sạch, giã nát, đem hấp chín với 10 ml nước và một chút đường, để nguội, cho trẻ uống 3 lần trong ngày hoặc lấy lá hẹ 15g phối hợp với 10 lá dâu non, cách làm tương tự như trên. Với chứng ợ chua, dùng nước ép lá hẹ 60 ml hòa với 250 ml sữa bò và 15 ml nước gừng tươi, đun sôi, uống nóng. Với trẻ em bị giun kim, ra mồ hôi trộm lấy 30g lá hẹ ép lấy nước uống hoặc dùng làm rau ăn trong ngày. Với nam giới thận hư, di mộng tinh, phụ nữ bạch đới dùng hạt hẹ ngâm giấm, rang khô, tán bột, trộn với mật làm hoàn to bằng hạt đậu xanh, mỗi ngày uống 5g với rượu ấm vào lúc đói. Để tăng khả năng sinh dục của nam giới dùng lá hẹ 200g, con ngài tằm đực khô 1000g, dâm dương hoắc 600g, kỷ tử 200g, kim anh tử 500g, ngưu tất 300g, ba kích 500g, thục địa 400g, sơn thù 300g, đường kính 4000g, tất cả đem ngâm trong 20 lít rượu, sau 30 ngày thì dùng dược, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10-15 ml.
 Nghiên cứu hiện đại cho thấy, rau hẹ có nhiều chất xơ nên có tác dụng kích thích tiêu hóa, thúc đẩy nhu động ruột, phòng chống bệnh táo bón và sâu răng. Chất xơ trong loại rau này còn có khả năng cân bằng các nhóm vi khuẩn đường ruột, giảm thiểu tác động của các chất gây ung thư niêm mạc ruột, dự phòng tích cực bệnh ung thư đại tràng. Ngoài ra, rau hẹ còn có tác dụng hỗ trợ trị liệu cao huyết áp và các bệnh cơ tim. Tuy nhiên, rau hẹ khó tiêu nên mỗi lần không ăn quá nhiều. Ngoài ra, những người có thể chất âm hư nội nhiệt, hay bị mụn nhọt và mắc các bệnh về mắt thì nên kiêng ăn rau hẹ. Người xưa khuyên không dùng loại rau này ăn cùng với mật ong và  thịt bò.

                                                             Hoàng Khánh Toàn


Thứ Ba, ngày 29 tháng 7 năm 2014

Ngâm chân chữa mất ngủ

NGÂM CHÂN CHỮA CHỨNG MẤT NGỦ



     Thời hiện đại, khi nhịp sống và làm việc quá nhanh và căng thẳng thì mất ngủ là chuyện không hiếm gặp. Khi lâm vào tình trạng này, thông thường người ta hay lấy các thuốc trấn tĩnh, an thần của y học hiện đại làm cứu cánh. Nhưng, không hiếm khi, các thuốc này cũng tỏ ra bất lực, đó là chưa kể đến những tác dụng không mong muốn mà chúng đem lại. Lúc này, nhiều khi, những biện pháp giàu tính tự nhiên của y học cổ truyền như xoa bóp, bấm huyệt, tập luyện khí công dưỡng sinh…lại tỏ ra có vai trò khá hữu hiệu, trong đó không thể không kể đến phương pháp ngâm chân trước ngủ mà đông y gọi là Dược dục liệu pháp. Có thể dẫn ra một số công thức cụ thể như sau :

* Công thức 1 :  Nước ấm tự nhiên 1 chậu, ngâm cả hai chân trong 20 phút, mỗi ngày 1 - 2 lần nhưng nhất thiết phải có 1 lần trước khi ngủ tối, đúng như cổ nhân đã nói : “ Sau ăn 300 bước, trước ngủ một chậu ngâm”. Tuỳ theo điều kiện thời tiết và tính mẫn cảm của từng người, nhiệt độ nước ngâm vào khoảng từ 38 - 43°C.
* Công thức 2 :  Ngô thù du 20g, dấm gạo lượng vừa đủ. Sắc kỹ ngô thù du lấy nước bỏ bã rồi hoà thêm dấm gạo, ngâm cả hai chân trong 30 phút, mỗi ngày 1 lần trước khi ngủ tối. Theo y học cổ truyền, công thức này có tác dụng làm cho hai tạng Tâm và Thận giao hoà được với nhau, từ đó làm cho giấc ngủ có chất lượng hơn.
* Công thức 3 :  Từ thạch 20g, chích ngũ gia 20g, phục thần 15g, ngũ vị tử 10g. Trước tiên, sắc từ thạch trong 30 phút rồi cho các vị thuốc khác vào sắc tiếp 30 phút nữa là được, bỏ bã lấy nước ngâm chân trong 20 phút, mỗi tối 1 lần kết hợp với việc dùng nước thuốc xoa nhiều lần lên vùng trán và thái dương.
* Công thức 4 :  Từ thạch 20g, sinh long cốt 15g, cúc hoa 15g, hoàng cầm 12g, dạ giao đằng 20g. Tất cả các vị đem sắc lấy nước ngâm chân mỗi tối trước khi đi ngủ trong 30 phút. Công thức này rất thích hợp cho những người bị mất ngủ kèm theo đau đầu, hay có cơn bốc hoả, trong ngực bụng cồn cào, bức bối không yên…
* Công thức 5 :  Đan sâm 20g, bạch truật 15g, hoàng liên 12g, viễn chí 10g, toan táo nhân 15g, trân châu mẫu 10g. Tất cả các vị thuốc đem sắc kỹ lấy nước ngâm chân trong 30 phút, mỗi ngày 1 lần trước khi ngủ tối.

     Để làm tăng công dụng tĩnh tâm an thần, trong khi ngâm chân nên kết hợp với thư giãn, toàn thân thả lỏng, thở đều, nhẹ và sâu. Sau đó, có thể dùng các ngón tay day ấn vùng thái dương, miết vùng trán và xoa xát vùng gáy trong vài phút. Đương nhiên, việc điều chỉnh chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chủ động điều tiết đời sống tình cảm, hạn chế đến mức thấp nhất các yếu tố làm căng thẳng thần kinh...là không thể thiếu được.