Thứ Năm, ngày 21 tháng 5 năm 2015

Những vị thuốc làm tăng trí nhớ

NHỮNG THẢO DƯỢC GIÚP TĂNG TRÍ NHỚ


     Trong y học cổ truyền, có khá nhiều các thảo dược được sử dụng nhằm mục đích cải thiện trí nhớ và dự phòng tích cực chứng “Kiện vong” (hay quên), một căn bệnh thường gặp và đang có xu hướng gia tăng, kể cả ở lứa tuổi học đường. Các vị thuốc này được xếp chung vào nhóm dược vật có công dụng “kiện não ích trí”. Ví như :
* Hồ đào nhân : Vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ thận cố tinh, ôn phế chỉ khái, ích khí dưỡng huyết, bổ não ích trí, nhuận tràng thông tiện. Hồ đào nhân có giá trị dinh dưỡng rất cao, cứ mỗi 100g có chứa 58 - 74g chất béo, chủ yếu là các acid béo không no, 18g chất đạm, 10g chất vô cơ, nhiều loại vitamin như B1, B2, C, E...và các nguyên tố vi lượng như Ca, P, Fe, Zn, Mg...và một lượng lớn photpholipid và lysine rất cần cho cấu trúc và hoạt động của não bộ, Bởi vậy, hồ đào nhân là một trong những thực phẩm - vị thuốc rất có lợi cho việc cải thiện khả năng ghi nhớ. Cách dùng đơn giản là kiên trì ăn hàng ngày 1 - 2 trái hồ đào hoặc dùng 30g hồ đào nhân nấu cháo ăn cùng với gạo tẻ hoặc dùng hồ đào 250g, vừng đen 250g, đường đỏ 500g, hồ đào và vừng đen sao vàng, đường đỏ hòa với nước đun cô thành dạng keo rồi bỏ hồ đào và vừng đen vào cô tiếp một lát là được, đổ ra đĩa sâu lòng có thoa mỡ, để nguội rồi cắt ra thành từng miếng nhỏ, mỗi ngày ăn 2 lần, mỗi lần 3 miếng.
* Long nhãn : Vị ngọt, tính ấm, có công dụng ích tâm tỳ, bổ khí huyết, kiện não ích trí. Y thư cổ Khai bảo bản thảo cho rằng long nhãn có khả năng “quy tỳ nhi ích trí” (bổ tỳ mà có ích cho trí tuệ). Sách Bản thảo cương mục cũng viết : “Long nhãn khai vị ích tỳ, bổ hư trường trí” (long nhãn kiện tỳ vị, bồi bổ hư nhược và làm khoẻ tinh thần). Nghiên cứu hiện đại cho thấy, long nhãn có khả năng điều chỉnh hoạt động của vỏ não và cải thiện khả năng ghi nhớ. Để phòng chống tích cực chứng “kiện vong”, dân gian thường dùng long nhãn 500g, đường trắng 500g, nấu thành cao đặc, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 10 - 15 ml hoặc dùng long nhãn 15g, hồng táo 15g, gạo tẻ 50g, ba thứ đem ninh thành cháo, chế thêm một chút đường chia ăn 2 lần trong ngày hoặc dùng long nhãn 30g, gà giò 1 con nặng chừng 1kg, gà làm thịt, bỏ nội tạng rồi cho long nhãn cùng gia vị vào trong bụng, đem hầm cách thủy trong 1 giờ, ăn nóng.
* Nấm linh chi : Vị ngọt, tính bình, có công dụng dưỡng tâm an thần, ích khí bổ huyết, tư bổ cường tráng, kiện não ích trí, được mệnh danh là “tiên thảo” (cỏ tiên). Nghiên cứu lâm sàng hiện đại cho thấy, linh chi có khả năng hỗ trợ trị liệu rất tốt đối với những bệnh nhân tâm căn suy nhược (suy nhược thần kinh), thất miên (mất ngủ), kiện vong (hay quên)...do tâm tỳ hư nhược. Thường được dùng dưới dạng linh chi thô 3 - 6g hãm uống thay trà mỗi ngày 2 lần hoặc các dạng đã được bào chế như viên nang, trà tan, cao lỏng, thuốc nước theo chỉ định của thầy thuốc. Có thể dùng dưới dạng một loại trà tổng hợp gồm nấm linh chi 15g, hoàng kỳ 20g, kê huyết đằng 15g, hoàng tinh 15g, tất cả sấy khô, tán vụn, đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày, có thể hòa thêm một chút đường phèn cho dễ uống.
* Nhân sâm : Vị ngọt, tính ấm, có công dụng đại bổ nguyên khí, định tâm ích trí, là vị thuốc - thực phẩm đứng đầu trong nhóm dược liệu có công dụng bổ khí. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, nhân sâm có khả năng cải thiện chuyển hoá của tổ chức não, hưng phấn và tăng cường tính linh hoạt của hệ thần kinh, nâng cao khả năng ghi nhớ. Bởi vậy, nhân sâm cũng là một trong những thực phẩm - thuốc rất hữu ích cho việc làm tăng trí nhớ, phòng chống suy nhược thần kinh và chứng hay quên do khí huyết suy nhược. Thường được dùng dưới nhiều dạng như trà sâm, rượu sâm, viên nang, cao lỏng, món ăn - bài thuốc, ví như dùng nhân sâm 10g, hạt sen bỏ tâm, đường phèn 30g, ba thứ cho vào bát đem chưng cách thủy trong 1 giờ rồi ăn cả nước lẫn cái.
* Đông trùng hạ thảo : Vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ hư tổn, ích tinh huyết, là một trong những vị thuốc - thực phẩm nổi tiếng của y học cổ truyền, sánh ngang với nhân sâm và nhung hươu, thường được dùng để chữa chứng “kiện vong” do thận hư. Tác dụng dược lý của đông trùng hạ thảo hết sức phong phú, trong đó có tác dụng trấn tĩnh, tăng cường sức chú ý và nâng cao năng lực ghi nhớ. Có thể dùng dưới  dạng thô hoặc dạng đã bào chế  như viên nang, thuốc nước, thuốc bột...Khi dùng dưới dạng thô, người ta thường chế biến đông trùng hạ thảo thành các món ăn - bài thuốc cùng với thịt vịt, ba ba, tôm nõn, thịt lợn nạc...Ví như, dùng đông trùng hạ thảo 10g, tôm nõn 20g, gừng tươi và gia vị vừa đủ. Đông trùng hạ thảo và tôm nõn rửa sạch rồi cho vào nồi đất cùng với gừng tươi, đổ một lượng nước thích hợp, dùng lửa to cho sôi rồi đun trong 30 phút bằng lửa nhỏ, chế đủ gia vị, ăn nóng.
* Liên nhục (hạt sen) : Vị ngọt, tính bình, có công dụng bổ tỳ chỉ tả, ích thận cố tinh, dưỡng tâm an thần. Y thư cổ Thần nông bản thảo kinh viết “Liên nhục, bổ trung, dưỡng thần, ích khí lực, trừ bách bệnh, cửu phục khinh thân nãi lão” (hạt sen bổ tỳ vị, có lợi cho thần khí, trừ được trăm bệnh, dùng lâu làm nhẹ người và kéo dài tuổi thọ). Thường được dùng dưới dạng chế biến thành các món ăn - bài thuốc như mứt sen, chè hạt sen, cháo hạt sen...ví như dùng hạt sen 20g, long nhãn 20g, đường phèn 30g, ba thứ đem nấu chè ăn trong ngày hoặc dùng hạt sen 20 hạt, long nhãn 15g, bá tử nhân 9g, toan táo nhân 9g, tất cả đem ninh nhừ rồi chế thêm đường phèn, chia ăn 2 lần trong ngày.
* Kỷ tử : Vị ngọt, tính bình, có công dụng tư bổ can thận, làm sáng mắt và nhuận tràng. Dân gian thường dùng kỷ tử để phòng chống chứng “kiện vong” và tăng cường trí nhớ bằng cách lấy kỷ tử 30g, não dê 1 bộ, đem hấp cách thuỷ ăn hoặc lấy kỷ tử 10g, hoài sơn 30g, não lợn 1 bộ, hấp cách thuỷ ăn hoặc kỷ tử 20g, hồng táo 6 quả, trứng gà 2 quả, tất cả đem nấu chín, sau đó bóc bỏ vỏ trứng rồi đun thêm 15 phút nữa là được, chế thêm gia vị ăn nóng, mỗi tuần 2 lần.
* Bá tử nhân : Vị ngọt, tính bình, có công dụng dưỡng tâm an thần, kiện não ích trí, hoạt tràng thông tiện. Sách Bản thảo cương mục viết : “Bá tử nhân ích tỳ vị, dưỡng tâm khí, ích trí định thần”. Để làm tăng trí nhớ có thể dùng  lượng bằng nhau, sấy khô tán bột rồi hòa mật ong làm thành viên hoàn to bằng hạt ngô đồng, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 10 viên.
Ngoài ra, theo dinh dưỡng học cổ truyền, còn nhiều loại thảo dược khác cũng có công dụng làm tăng trí nhớ như đại táo, ngân nhĩ, mộc nhĩ, bách hợp, khiếm thực, hoàng tinh, hoàng kỳ, nấm hương, hạt dẻ, ích trí nhân...

                                                                                                 Hoàng Khánh Toàn



Âm lãnh

ĐÔNG Y TRỊ LIỆU CHỨNG ÂM LÃNH Ở NAM GIỚI


     Âm lãnh là một chứng bệnh không hiếm gặp ở cả hai giới, biểu hiện bằng tình trạng bộ phận sinh dục có cảm giác lạnh lẽo, kèm theo bụng dưới lạnh đau, suy giảm ham muốn tình dục, nam giới thường bị liệt dương ở các mức độ nặng nhẹ khác nhau. Theo đông y, nguyên nhân chủ yếu của chứng bệnh này là do thận dương hư nhược, hàn tà ngưng trệ ở can mạch hoặc thấp nhiệt lưu trú ở can kinh gây nên.
     Để trị liệu chứng bệnh này, nguyên tắc cơ bản là phải “biện chứng luận trị” nghĩa là căn cứ vào chứng trạng cụ thể, tiến hành phân thể bệnh rồi lựa chọn các bài thuốc, vị thuốc cho phù hợp. Ví như : với thể Thận dương hư nhược (còn gọi là thận dương bất túc) thì phải ôn thận tráng dương, thường dùng bài thuốc Phù mệnh sinh hỏa đan gia giảm gồm các vị thuốc như nhung hươu, ba kích, phụ tử chế, nhục quế, nhục thung dung, đỗ trọng, thục địa, sơn thù du, ngũ vị tử, nhân sâm, hoàng kỳ, bạch truật ; với thể Hàn ngưng can mạch phải bổ thận noãn can, ôn kinh tán hàn, thường dùng bài thuốc Noãn can tiễn phối hợp với bài Tiêu quế thang gồm các vị thuốc như nhục quế, xuyên tiêu, ngô thù du, tiểu hồi hương, trầm hương, ô dược, thanh bì, sài hồ ; với thể Can kinh thấp nhiệt phải thanh nhiệt lợi thấp, thường dùng bài thuốc Long đởm tả can thang gồm các vị thuốc như long đởm thảo, chi tử, hoàng cầm, sài hồ, xa tiền tử, mộc thông, trạch tả, đương quy, sinh địa.
     Ngoài ra, có thể sử dụng các đông dược thành phẩm như Kim quỹ thận khí hoàn (mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên), Hữu quy phương (mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên) và các bài thuốc kinh nghiệm dân gian như : (1) Can khương 30g, mẫu lệ 30g, hai thứ sấy khô tán thành bột rồi trộn với rượu trắng đã hâm nóng thành dạng hồ nước rồi thoa vào bộ hạ ; (2) Tiểu hồi hương 30g, đại hồi hương 30g, xuyên tiêu 15g, ba thứ sấy khô tán bột, trộn với hành củ lượng vừa đủ đã giã nát và sao nóng, gói vào khăn mỏng rồi chườm vào bụng dưới và hạ bộ ; (3) Xuyên tiêu và ngải diệp lượng bằng nhau, đem sắc rồi xông và ngâm rửa hạ bộ kết hợp với dùng phong phòng đốt cháy thành than, tán bột, xoa vào dương vật hàng đêm trước khi đi ngủ.
     Về xoa bóp, trước hết, dùng bàn tay hoặc ba ngón trỏ, giữa và nhẫn khép lại xát bụng dưới theo đường trục giữa từ trên xuống dưới và ngược lại mỗi phút 120 lần. Tiếp đó, dùng hai ô mô cái hoặc hai gốc bàn tay xát dọc hai bên thăn cột sống thắt lưng, mỗi phút 120 đến 160 lần. Cuối cùng, dùng một bàn tay xát dọc xương cùng cụt với tốc độ 120 lần trong 1 phút. Quy trình này tiến hành mỗi ngày 2 lần vào buổi tối trước khi đi ngủ và buổi sáng khi thức dậy.
     Về ăn uống, nên trọng dụng các đồ ăn thức uống có công dụng bổ thận trợ dương như thịt dê, thịt chó, thịt chim sẻ, trứng chim cút, bồ dục heo, ngẩu pín, đuôi bò, tinh hoàn động vât, tôm, hải mã, rau hẹ, long nhãn, hạt tiêu, tiểu hồi, đông trùng hạ thảo, tắc kè...
     Để phòng bệnh, trong sinh hoạt hàng ngày hết sức tránh bị cảm lạnh, nhà ở phải ấm áp và thoáng khí, hạn chế ăn thức ăn tanh lạnh, trong sinh hoạt tình dục tránh bị nhiễm lạnh, tuyệt đối không tắm lạnh ngay sau khi động phòng, nên vệ sinh bộ phận sinh dục bằng nước ấm.


                                                                                           Hoàng Khánh Toàn

Ăn gì chống nóng

ĂN UỐNG GÌ ĐỂ CHỐNG NÓNG VÀ DỰ PHÒNG BỆNH TẬT MÙA HẠ ?


     Mùa hạ là mùa dương khí vượng nhất trong năm, thời tiết nóng bức và ẩm thấp. Quá trình trao đổi chất trong cơ thể con người diễn ra mạnh mẽ, dương khí phát ra ngoài, âm khí tiềm phục ở trong. Các lỗ chân lông giãn rộng, mồ hôi tiết ra nhiều để điều hoà thân nhiệt nhưng cũng vì thế mà tà khí dễ xâm nhập vào trong. Hệ thống mao mạch ngoại vi cũng giãn ra, khí huyết lưu thông nhanh và mạnh hơn. Công năng của tỳ vị có xu hướng suy giảm vì nóng bức uống nhiều làm cho dịch vị bị pha loãng, quá trình tiêu hoá và hấp thu thức ăn dễ bị rối loạn. Bởi vậy, cổ nhân khuyên rằng : mùa hạ nên ăn những thức ăn thanh đạm, hạn chế đồ béo bổ, chiên xào, sống lạnh để giảm bớt gánh nặng cho tỳ vị.
     Tiết trời nóng ẩm cũng là điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật phát triển mạnh làm cho thực phẩm dễ ôi thiu, biến chất, trong khi đó vì uống nhiều nước dịch dạ dày bị pha loãng nên khả năng sát trùng giảm thấp càng làm cho nguy cơ ngộ độc thức ăn tăng cao. Bởi vậy, để dự phòng “bệnh tòng nhập khẩu” cần chú ý giữ gìn vệ sinh ăn uống, không dùng thực phẩm ôi thiu, không uống nước lã, nước bẩn, rau quả tươi phải được rửa thật sạch...Vậy, về mùa hạ nên ăn gì để chống nóng và dự phòng bệnh tật ?
     Thứ nhất, nên chú trọng dùng nhiều đồ ăn thức uống có tác dụng thanh nhiệt giải thử, lợi niệu trừ thấp : về thực vật như dưa hấu, dưa chuột, dưa gang, dưa bở, dưa lê, cam, quýt, chuối tiêu, trám, mướp đắng, mướp, bầu, bí đao, củ cải, súp lơ, rau đay, mùng tơi, rau dền, củ đậu, mã thầy, ngó sen, cà chua, đậu xanh, đậu đen, bạch biển đậu, xích tiểu đậu, cháo ngũ đậu, cháo ý dĩ, cháo đậu xanh, cháo biển đậu, cháo lá sen, trà nhân trần, trà hoa cúc, trà nụ hoặc lá vối, trà actiso, trà khổ qua...; về động vật như thịt vịt, cua, ốc, hến, trai, sò, ngao, hàu... Nên tránh hoặc hạn chế dùng các thực phẩm có tính nhiệt như thịt dê. thịt chó, thịt hoẵng, thịt chim sẻ, long nhãn, vải, hẹ, hành tây, hạt tiêu, nhục quế, gừng, đại hồi, lạc rang, rượu trắng...Những ngày quá nóng bức có thể dùng một chút nước ướp lạnh hoặc nước đá để giúp cơ thể giải nhiệt nhưng không được dùng nhiều để tránh làm thương tổn tỳ vị, tạo điều kiện cho thấp tà gây bệnh bên trong. Khi mồ hôi ra nhiều phải chú ý bổ sung đủ lượng nước đã mất bằng đường ăn uống bằng cách trọng dụng những đồ ăn thức uống có công dụng thanh nhiệt dưỡng âm, sinh tân chỉ khát như thạch đen, chè đậu đen, trà mạch môn, nước ép quả lê, nước ép ngó sen, nước ép mã thầy, nước mơ, nước mận, nước dâu, nước mía, trà bát bảo, trà sắn dây...
     Ngoài việc thanh nhiệt giải thử và dưỡng âm, ăn uống trong mùa hạ nóng bức còn phải hết sức chú ý tránh làm thương tổn tỳ vị. Vậy nên, các thực phẩm có công dụng phương hương tỉnh tỳ, kiện tỳ hoá thấp, giải thử, trực tiếp hoặc gián tiếp giữ gìn và nâng cao năng lực hoạt động của tỳ vị cũng nên được trọng dụng. Ví như các loại cháo chế từ đậu xanh, đậu cô - ve, bạch biển đậu, ý dĩ, hạt sen, củ mài...; các loại trà hoắc hương, trà nụ vối, trà hương nhu, trà lá sen, trà actiso, trà nhân trần...Nên chú ý dùng thêm các đồ ăn thức uống có vị chua ngọt, cay thơm để nhằm mục đích khai vị, kích thích cảm giác thèm ăn như các loại canh chua chế từ quả sấu, me, khế, quả dọc, tai chua, quả chay, chua me đất hoa vàng...và các loại nước cam, nước chanh, nước mơ, nước sấu...Tuy nhiên, cần chú ý không nên dùng quá nhiều đường tinh luyện khi pha chế các loại nước giải khát.
     Cuối cùng, trong ăn uống mùa hạ, đông y còn có một quan điểm hết sức độc đáo, đó là “xuân hạ dưỡng dương”. Mùa hạ nóng nực tuy phải dùng nhiều đồ ăn thức uống có tác dụng thanh nhiệt giải thử nhưng vẫn cần lấy ôn ấm làm chính để trợ giúp khí dương. Bởi vì, các nhà dưỡng sinh đông y cho rằng mùa hạ tuy dương khí vượng thịnh bên ngoài nhưng khí âm lại tiềm ẩn bên trong cơ thể, vậy nên “trời tuy nóng chớ tham mát, dưa tuy ngon chớ ăn nhiều”. Nếu không biết giữ gìn dương khí trong mùa hạ thì mùa đông sẽ mắc nhiều bệnh tật, phải biết thuận ứng thiên thời để bồi bổ dương khí, trừ khử âm hàn có như vậy mới gọi là phòng bệnh triệt để. Bởi vậy, trong mùa hạ việc chọn dùng một số đồ ăn thức uống có tính ôn bổ cũng là rất cần thiết, đặc biệt đối với những người có bệnh mạn tính và thể chất vốn suy nhược do dương khí kém. Ví như, các loại nấm (nấm rơm, nấm mỡ, nấm hương, nấm kim châm...), hoài sơn, hạt sen, tổ yến, phấn hoa, sữa ong chúa, trà linh chi, đông trùng hạ thảo hầm thịt vịt, ba ba hầm chuối đậu...

                                                                                   Hoàng Khánh Toàn
                                                           

   


Hàn nhiệt thể chất

THẾ NÀO LÀ NGƯỜI CÓ THỂ CHẤT HÀN VÀ NHIỆT ?


     Theo quan điểm của triết học, tâm lý học và y học cổ truyền phương Đông, việc phân định thể chất của con người là hàn tính hay nhiệt tính có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bởi lẽ, chỉ có trên cơ sở hiểu rõ thể chất của mình là hàn hay nhiệt, người ta mới có thể lựa chọn môi trường sống, thay đổi điều kiện sinh hoạt và ăn uống, thực hiện các biện pháp dự phòng tích cực bệnh tật...một cách hợp lý và có hiệu quả. Ví như, người có thể chất thiên hàn thì trong khẩu phần ăn nên trọng dụng các đồ ăn thức uống có tính ấm nóng, dùng ít hoặc kiêng kị các thứ có tính lạnh ; người có thể chất rất nhiệt thì không nên lạm dụng nhung hươu, cao hổ
     Trên thực tế, thể chất hàn nhiệt của mỗi người thường không giống nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như di truyền, điều kiện sinh hoạt, làm việc, ăn uống..., được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu về sinh lý, bệnh lý và tâm lý. Nhưng, tựu trung lại cũng không nằm ngoài 7 loại hình chính là thể hàn, thể rất hàn, thể nhiệt, thể rất nhiệt, thể bình hoà, thể thiên hàn và thể thiên nhiệt. Để phân định các loại hình này, người xưa thường chỉ căn cứ vào các dữ liệu thu được sau khi tiến hành Vọng (nhìn), Văn (nghe, ngửi), Vấn (hỏi) và Thiết (sờ, bắt mạch). Nhưng hiện nay, các nhà y học cổ truyền hiện đại đã xây dựng các chỉ tiêu cơ bản để phân định không chỉ dựa trên cơ sở lý luận của y học cổ truyền, bao gồm học thuyết âm dươngcân bằng, quan niệm chỉnh thể và nguyên tắc biện chứng thi trị mà còn tham chiếu thêm một số chỉ tiêu về sinh lý, sinh hoá, tâm lý của y học hiện đại. Tổng cộng có 22 chỉ tiêu cơ bản là thể hình, tính cách, cảm giác hàn nhiệt, cảm giác khát, tình trạng ăn uống, sắc mặt, mạch, lưỡi, đại tiện, tiểu tiện, trạng thái tinh thần, thể lực, mồ hôi, tiếng nói, khả năng tình dục, huyết áp, số lượng bạch cầu, số lượng hồng cầu, số lượng tiểu cầu, huyết sắc tố, mỡ máu và đường máu. Dựa trên những chỉ tiêu này, 7 loại hình có nội dung cơ bản như sau :
   * Thể hàn :  Thể hình hơi gầy, tính cách hướng nội, sợ lạnh, không khát và không muốn uống, ăn được, sắc mặt trắng, mạch trầm trì (sâu và chậm), rêu lưỡi trắng nhạt, đại tiện nát, tiểu tiện trong dài, tinh thần kém hưng phấn, dễ mỏi mệt, ít mồ hôi, ít nói, khả năng tình dục kém, huyết áp hơi thấp, số lượng bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu hơi thấp, nồng độ huyết sắc tố, mỡ máu và đường máu cũng hơi thấp.
   * Thể rất hàn :  Người rất gầy, tính cách hướng nội rất rõ, sợ lạnh nhiều, thích uống nước ấm nóng, ăn kém, sắc mặt vàng nhợt, mạch tế nhược (nhỏ và yếu), lưỡi trắng nhợt và ướt, đại tiện lỏng, tiểu tiện trong dài nhưng đi nhiều lần, tinh thần uỷ mị, thể lực kém, rất ít mồ hôi hoặc vã mồ hôi trộm, tiếng nói nhỏ yếu, khả năng tình dục rất kém, huyết áp thấp hoặc rất thấp, số lượng bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu tương đối thấp, lượng huyết sắc tố, mỡ máu và đường máu cũng tương đối thấp.
   * Thể nhiệt :  Thể hình có xu hướng béo, tính cách hướng ngoại, sợ nóng, hay khát và thích  uống nước mát, ăn ngon miệng, sắc mặt hồng nhuận, mạch hoạt sác (nổi và nhanh), lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, đại tiện phân khô cứng, tiểu tiện vàng, tinh thần dễ hưng phấn, thể lực khoẻ, nhiều mồ hôi, nói nhiều, khả năng tình dục mạnh mẽ, huyết áp có xu hướng cao hoặc hơi cao, số lượng bạch cầu, tiểu cầu và hồng cầu hơi cao, lượng huyết sắc tố, mỡ màu và đường máu cũng hơi cao.
   * Thể rất nhiệt :  Người béo tốt, tính cách hướng ngoại rõ rệt, rất sợ và rất kém chịu nóng, hay khát và rất thích uống nước thật lạnh, ăn rất ngon miệng, sắc mặt đỏ, mạch hồng sác (rất nổi và nhanh), lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng hoặc đen, đại tiện táo kết, tiểu tiện sẻn đỏ, tinh thần rất hưng phấn, thể lực cường tráng, dễ vã mồ hôi (tự hãn), tiếng nói khoẻ, khả năng tình dục rất khoẻ và có lúc thái quá, huyết áp hơi cao, số lượng bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu tương đối cao, lượng huyết sắc tố, mỡ máu và đường máu cũng tương đối cao.
   * Thể bình hoà :  Thể hình bình thường, tính cách bình hoà và cân bằng, cảm giác hàn nhiệt bình thường, cảm giác khát bình thường, ăn được, sắc mặt hơi hồng, mạch hoà hoãn, chất lưỡi hơi hồng, rêu lưỡi trắng mỏng, đại tiện bình thường, tiểu tiện bình thường, trạng thái tinh thần bình thường, thể lực bình thường, mồ hôi bình thường, khả năng tình dục vừa phải, huyết áp bình thường, số lượng bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu bình thường, lượng huyết sắc tố, mỡ máu và đường máu cũng trong phạm vi bình thường.
   * Thể thiên hàn :  Người hơi gầy, tích cách có xu hướng hướng nội, hơi sợ lạnh, không thích uống nhiều nước, ăn hơi kém, sắc mặt không tươi, mạch hơI trầm, lưỡi nhợt hơi bệu, rêu lưỡi trắng mỏng, đại tiện có lúc lỏng nát, tiểu tiện trong và có lúc đi nhiều lần, tinh thần có lúc kém hưng phấn, thể lực hơi kém, mồ hôi tương đối ít, ít nói, khả năng tình dục hơi kém, huyết áp có xu hướng thấp, số lượng bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu bình thường hoặc tương đối thấp, lượng huyết sắc tố, mỡ máu và đường máu cũng bình thường hoặc tương đối thấp.
   * Thể thiên nhiệt :  Người hơi béo, tính cách có xu hướng hướng ngoại, hơi sợ nóng, thích uống nước, ăn khá ngon miệng, sắc mặt hơi hồng, mạch hơi hoạt, lưỡi hơi đỏ, rêu lưỡi vàng, đại tiện có lúc khô cứng, tiểu tiện ít và có lúc vàng, tinh thần có lúc hưng phấn, thể lực khá, nhiều mồ hôi, nói nhiều, khả năng tình dục có xu hướng mạnh mẽ, huyết áp hơi cao, số lượng bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu bình thường hoặc tương đối cao, lượng huyết sắc tố, mỡ máu và đường máu cũng bình thường hoặc tương đối cao.
     Việc xác định chắc chắn một loại hình nào đó được dựa trên cách tính điểm, mỗi chỉ tiêu nếu có như vậy thì được tính là 1 điểm, nếu không có thì được tính là 0 điểm. Tổng số điểm tối đa của mỗi loại hình là 22 điểm, nhưng tổng số điểm chỉ cần từ 15 điểm (cũng tức là có đủ 15 chỉ tiêu) trở lên là đủ để được xác định chắc chắn, từ 10 - 14 thì nghi ngờ. Đây là một phương pháp xác định thể chất hàn hay nhiệt khá đơn giản trên người bình thường, rất tiện ích cho việc vận dụng các kiến thức trong ăn uống, sinh hoạt và phòng chống tật bệnh theo quan điểm của y học cổ truyền.


                                                                                       Hoàng Khánh Toàn

Trà dược chống béo phì

TRÀ DƯỢC PHÒNG CHỐNG THỪA CÂN VÀ BÉO PHÌ


     Trong những năm gần đây, thừa cân và béo phì đang có xu hướng gia tăng và trở thành một trong những mối lo ngại của toàn thể xã hội nói chung và những nhà dinh dưỡng họ nói riêng. Nguyên nhân thì nhiều, biện pháp phòng chống cũng không ít nhưng xem ra tình hình chưa được cải thiện là bao. Nghĩ cho cùng, việc thay đổi lề thói sinh hoạt và thực thi một chế độ ăn hợp lý và khôn ngoan vẫn là biện pháp quan trọng nhất. Song, một khi cơ thể không may đã phì ra đến mức dẫu có ăn uống kham khổ vẫn không làm thay đổi được tình hình thì vấn đề dùng thuốc âu cũng là một việc làm cần thiết. Tuy nhiên, chọn dùng thuốc gì và cách thức sử dụng như thế nào cho có hiệu quả lại phòng tránh được các tác dụng phụ không mong muốn luôn là câu hỏi khó tìm lời đáp thoả đáng.
     Trong phạm vi bài viết này, xin được giới thiệu với độc giả một số loại trà dược giảm béo cổ truyền, mà theo suy nghĩ của chúng tôi, chúng vừa tiện lợi và dễ dùng lại vừa an toàn và có hiệu quả ở các mức độ khác nhau, tuỳ thuộc vào việc lựa chọn thể bệnh sao cho phù hợp.
@ Thể Tỳ hư đàm trệ
     Người béo nhưng dễ mệt, mình mẩy nặng nề, thích nằm ngại vận động, ngực tức, bụng đầy, chậm tiêu, ngủ nhiều nhưng giấc ngủ không sâu, đại tiện nát hoặc lỏng, chỉ số huyết áp trong phạm vi bình thường hoặc thấp.
     Bài 1 : Bạch truật 10g, thương truật 10g, trạch tả 10g, bạch linh 10g, sa tiền 10g, trư linh 10g, phòng kỷ 10g, trà diệp 10g. Các vị sấy khô tán vụn chia đều làm 7 phần, mỗi ngày lấy 1 phần hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút có thể dùng được, uống thay trà trong ngày.
     Bài 2 : Trà diệp 7g, sơn tra 7g, trạch tả 7g, lai phục tử (hạt cải củ) 7g, mạch nha 7g, thần khúc 7g, hạ khô thảo 7g, trần bì 7g, khiên ngưu tử 7g, thảo quyết minh 7g, bạch linh 7g, xích tiểu đậu 7g, hoắc hương 7g. Các vị sấy khô tán vụn, chia làm 7 phần, mỗi ngày lấy 1 phần hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút có thể dùng được, uống thay trà trong ngày.
     Bài 3 : Nhân sâm 6g, bạch truật 9g, bạch linh 9g, chích thảo 3g, bán hạ chế 6 g, trần bì 6g. Các vị sấy khô tán vụn , hãm với nước sôi trong bình kín, sau 10 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
@ Thể Khí trệ huyết ứ
      Người béo, ngực sườn hay đau tức, thần kinh dễ căng thẳng, thường có thiểu năng tuần hoàn não, thiểu năng động mạch vành tim, rối loạn lipid máu, phụ nữ kinh nguyệt không đều, thống kinh, bế kinh.
     Bài 1 : Uất kim 10g, vỏ bí đao 20g, hoa hồng 6g. Các vị sấy khô tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút có thể dùng được, uống thay trà trong ngày. Có thể pha thêm một chút đường đỏ cho dễ uống.
     Bài 2 : Hà thủ ô chế  25g, đan sâm 25g, trạch tả 10g. Các vị sấy khô tán bột, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
     Bài 3 : Hoa hồng 2g, hoa nhài 2g, xuyên khung 6g, lá sen 10g, thảo quyết minh 10g, trạch tả 10g. Các vị sấy khô tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
@ Thể Can thân âm hư
     Người béo, đầu choáng mắt hoa, tai ù, lưng đau, gối mỏi, lòng bàn tay bàn chân nóng, có thể có cơn bốc hoả, huyết áp cao, đại tiện táo, tay chân hay tê bì, ngủ kém hay mê mộng.
     Bài 1 : Đan sâm 20g, hà thủ ô 10g, cát căn 10g, hoàng tinh 10g, tang ký sinh 10g, cúc hoa 10g. Các vị sấy khô tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 – 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
     Bài 2 : Trà diệp 10g, hà thủ ô 10g, hạ khô thảo 10g, sơn tra 10g, trạch tả 10g, thạch quyết minh 10g, lai phục tử 10g. Các vị sấy khô tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
     Bài 3 : Đan sâm 15g, hà thủ ô 12g, kỷ tử 12g, thảo quyết minh 15g, trạch tả 12g. Các vị sấy khô tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
@ Thể Tỳ vị thực nhiệt
     Người béo khoẻ mạnh, ăn rất ngon miệng, luôn có cảm giác thèm ăn, sắc mặt hồng nhuận, miệng hay khát, đại tiện táo kết.
     Bài 1 : Trà diệp 20g, đại hoàng 20g, chỉ thực 20g, hâuk phác 20g, cam thảo 20g. Các vị sấy khô tán vụn, chia làm 7 phần, mỗi ngày lấy 1 phần hãm với nước sôi trong 15 phút, uống thay trà trong ngày.
     Bài 2 : Sinh địa 20g, sơn tra 20g, thảo quyết minh 15g, trạch tả 12g, chỉ xác 10g, vừng đen 12g. Các vị sấy khô tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
     Ngoài ra, còn có thể dùng các loại trà độc vị như trà sơn tra, trà trạch tả, trà hải tảo, trà linh chi, trà kỷ tử và đặc biệt là trà hà diệp chế từ lá sen khô 15 – 20g, hãm uống thay trà trong ngày, Trong y thư cổ Chứng trị yếu quyết, người xưa còn ghi lại kinh nghiệm dùng lá sen đốt tồn tính rồi nghiền thành bột, uống với nước cơm mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 6 g để làm thuốc giảm béo. Để có được hiệu quả rõ rệt, các loại trà giảm béo cổ truyền đều nên dùng kéo dài, ít nhất cũng phải từ 2 – 3 tháng. Các loại trà chế từ dược liệu có tính công phạt mạnh như đại hoàng, phan tả diệp…khi dùng nhất thiết phải có sự hướng dẫn tỷ mỉ và theo dõi chặt chẽ của các thầy thuốc chuyên khoa.

                                                                                 Hoàng Khánh Toàn


Mach đông lô căn trà

MẠCH ĐÔNG LÔ CĂN ẨM, TRÀ DƯỢC THANH NHIỆT ĐỘC ĐÁO


     Mùa hạ, tiết trời nóng bức, nhu cầu bổ sung nước cho cơ thể là rất lớn. Uống đủ nước tinh khiết đã là tốt, nhưng giá như có được một thứ đồ giải khát nào đó vừa đảm bảo cung cấp nước và muối vô cơ, lại vừa có tác dụng điều hoà công năng các tạng phủ, làm mát và bổ dưỡng cơ thể thì thật là tốt biết bao ! Trà dược thanh nhiệt giải thử của y học cổ truyền là một trong những loại đồ uống có khả năng như vậy.
     Trong kho tàng kinh nghiệm dân gian và các sách thuốc đời xưa, chủng loại trà dược này là hết sức phong phú. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải biết lựa chọn những công thức đơn giản, dễ kiếm, dễ chế mà vẫn đảm bảo thu được hiệu quả như mong muốn. Bài viết này xin được giới thiệu một trong những ví dụ điển hình để độc giả tham khảo, đó là loại trà có tên gọi là Mạch đông lô căn ẩm.
@ Thành phần và cách dùng
     Mạch đông 120g, lô căn 150g. Hai thứ rửa sạch, thái vụn, phơi hoặc sấy khô, trộn đều rồi đựng trong lọ kín để dùng dần. Mỗi lần lấy 30g hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút là có thể dùng được, uống thay trà trong ngày. Có thể chế thêm một chút đường phèn cho dễ uống.
@ Công dụng
     Thanh nhiệt giải thử, dưỡng âm sinh tân, chỉ khát trừ phiền, dùng thích hợp trong mùa hè thu khi thời tiết nóng bức, mất nhiều mồ hôi, cơ thể mỏi mệt, họng khô miệng khát, đầu nặng mắt hoa, ngực bụng bồn chồn rạo rực không yên, dự phòng tích cực tình trạng say nắng, say nóng và các bệnh lý viêm nhiễm đường hô hấp, viêm đường tiết niệu, viêm da...
@ Bàn luận
     Loại trà dược này thực chất có nguồn gốc từ bài thuốc cổ Mạch đông lô căn thang do Tôn Tư Mạo, y gia trứ danh đời Đường (Trung Quốc), người từng được hậu thế tôn vinh là "dược vương" sáng chế, có công dụng thanh lương tiêu thử, thường được dùng để phòng chống tình trạng mất nhiều mồ hôi và các chứng bệnh trong mùa hè. Trên cơ sở phương thang này, các y gia đời sau đã phát triển và cấu tạo ra nhiều bài thuốc khác có công năng tương tự, ví như Ngô Cúc Thông, y gia thuộc trường phái Ôn bệnh đời Thanh, đã chế ra phương thang Ngũ chấp ẩm được ghi trong sách Ôn bệnh điều biện, gồm nước ép của năm loại củ quả và dược liệu là lê, mã thầy, rễ lau, mạch đông và ngó sen.
     Mạch đông có nhiều tên gọi như mạch môn đông, giai tiền thảo, lan tiên...và vì "kỳ diệp như phỉ, lăng đông bất điêu" (lá giống như lá hẹ, mùa đông vẫn xanh tốt) nên còn được gọi là nhẫn đông thảo, bất tử thảo. Theo sách Thập châu ký ghi lại : trong một lần đi săn, Tần Thuỷ Hoàng bất chợt nhìn thấy một con chim cắp một loại cỏ có lá giống như lá hẹ, hoa màu tím nhạt, liền sai người mang đến hỏi Quỷ Cốc Tử vốn là người "trên thông thiên văn, dưới tường địa lý" lại rất tinh thông về y thuật xem là loại cây gì vậy ? Quỷ Cốc Tử liếc nhìn, cười mà rằng : "Thử nãi Đông hải doanh châu thượng đắc bất tử chi dược. Nhân tử hậu tam thiên, dụng thử thảo cái kỳ thân, đương thời tức hoạt, nhất châu thảo tựu khả cứu hoạt nhất nhân" (loại cỏ này là một vị thuốc bất tử mọc ở Đông hải, người chết trong ba ngày đầu mà dùng thuốc này đắp lên người thì tức thời sống lại, mỗi cây có thể cứu sống một người). Tần Thuỷ Hoàng nghe vậy mừng lắm, liền bắt hàng ngàn nô lệ dùng thuyền đi suốt ngày đêm đến Đông hải để tìm cây thuốc, những mong có được một thứ thần dược để thoả mãn khát vọng trường sinh bất lão của mình. Đương nhiên, người đi thì chẳng thể quay về và thứ cỏ tiên dược của Tần Thuỷ Hoàng cũng chỉ là mộng tưởng !
     Thực ra, mạch đông không thể là vị thuốc thần diệu như Quỷ Cốc Tử nói, nhưng sự thật thứ cây có rễ củ rất mềm, chứa nhiều nước, tính mát, vị ngọt này lại có công dụng khá đặc biệt : nhuận phế dưỡng âm, ích vị sinh tân, thanh tâm trừ phiền, thanh nhiệt giảm ho. Sách  Bản thảo tân biên đã viết : "Mạch môn đông, tả phế trung chi phục hoả, thanh vị trung chi nhiệt tà, bổ tâm khí chi lao thương, chỉ huyết gia chi ẩu thổ, ích tinh cường âm, giải phiền chỉ khát, mỹ nhan sắc, duyệt cơ phu, thoái hư nhiệt, giải phế táo, định khái thấu" (mạch đông có tác dụng làm hết hoả tà ẩn nấp trong phế, thanh trừ nhiệt tà trong vị, bổ tâm khí, cầm máu, chống nôn, ích tinh dưỡng âm, giải khát trừ phiền, làm cho da khoẻ và đẹp, có lợi cho nhan sắc, trừ hư nhiệt, chữa phế táo và giảm ho). Thậm chí, ngay đến Tô Đông Pha, thi nhân trứ danh đời Bắc Tống (Trung Quốc) cũng đã tự chế và tự dùng cho mình một phương thuốc có tên là "Tô Thức mạch môn đông thang" và viết thơ ca tụng vị thuốc này : "Nhất chẩm thanh phong trị vạn tiền, vô nhân khẳng mãi bắc song miên, khai tâm noãn vị môn đông ẩm, tri thị Đông Pha thủ tự tiên".
     Theo dược học hiện đại, mạch đông có chứa nhiều tinh dầu, glucoside và nhiều chất khác, trong đó đặc biệt có tới 28 nguyên tố vi lượng rất cần cho cơ thể. Kết quả nghiên cứu dược lý cho thấy : mạch đông có tác dụng kháng khuẩn, trấn tĩnh và chống co giật, tăng cường khả năng chịu đựng của cơ thể trong điều kiện thiếu ôxy, cải thiện sức co bóp cơ tim, bảo hộ tế bào cơ tim, nâng cao năng lực miễn dịch của cơ thể, điều hoà đường huyết và làm tăng sự vận chuyển thức ăn trong đường tiêu hoá.
     Lô căn là rễ của cây lau, còn được gọi là vĩ căn, thuận giang long, lô đông căn, lô sài căn, lô thông...tính lạnh, vị ngọt, có công dụng thanh nhiệt sinh tân, trừ phiền chỉ ẩu, thường được dùng để chữa các chứng bệnh có sốt gây mất nước phiền khát, nôn do vị nhiệt, viêm hầu họng, viêm loét môi miệng, viêm quanh răng, viêm đường tiết niệu, hoàng đản, sỏi mật và các chứng viêm nhiệt khác. Theo kinh nghiệm của người xưa, trong mùa hè thu, dịch chiết lô căn có khả năng bổ sung lượng nước đã mất qua đường mồ hôi đồng thời còn kích thích tiêu hoá, tạo ra cảm giác thèm ăn. Nhà dược học vĩ đại Lý Thời Trân đã viết : “Ích thực gia xan, tu tiên lô phác” (muốn lợi cho tiêu hoá nên dùng lô căn, hậu phác). Nghiên cứu hiện đại cho thấy, lô căn có tác dụng giải nhiệt, trấn tĩnh và giảm đau. Theo kinh nghiệm của cổ nhân, lô căn thường được phối hợp với mạch đông hoặc ngọc trúc để làm tăng tác dụng thanh nhiệt sinh tân.


                                                                                      Hoàng Khánh Toàn


Đông y đơn giản chữa say nắng

ĐÔNG Y ĐƠN GIẢN CHỮA SAY NẮNG, SAY NÓNG


     Tiết trời nóng bức, nhiệt độ và độ ẩm quá cao là điều kiện rất thuận lợi để phát sinh tình trạng say nắng, say nóng, đặc biệt đối với những người phải làm việc ở chỗ nóng (say nóng) hoặc chịu sự tác động trực tiếp của ánh nắng mặt trời (say nắng) quá lâu mà điều kiện bảo hộ lao động lại thiếu thốn hoặc không thích hợp.
     Say nắng, say nóng được thường thể hiện ở hai mức độ : Nhẹ thì đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, tức ngực, lợm giọng, buồn nôn, khát nước, da nóng, không có mồ hôi, toàn thân mệt mỏi rã rời hoặc có biểu hiện bồn chồn, vật vã ; Nặng thì ngoài các triệu chứng trên còn có thêm sắc mặt nhợt nhạt, vã mồ hôi, chân lạnh, thậm chí xuất hiện hôn mê bất tỉnh, co giật tứ chi.
     Trong y học cổ truyền, say nắng say nóng được gọi là chứng Trúng thử với cơ chế sinh bệnh là do : trên cơ sở chính khí hư suy (giảm sức đề kháng), hai nhân tố gây bệnh là thử nhiệt hoặc thử thấp xâm nhập vào cơ thể, uất lại và nung đốt làm hao tổn âm dịch mà tạo thành bệnh. Nếu nặng thì thanh khiếu bị che phủ, kinh khí bế tắc gây nên hôn mê, nếu tân dịch bị hao tổn quá nhiều thì phát sinh chứng hư thoát. Về mặt trị liệu, khi gặp tình trạng này phải hết sức nhanh chóng tiến hành các biện pháp sau đây :
   - Khẩn trương đưa người bệnh đến chỗ râm mát, thoáng gió, cởi bỏ và nới rộng quần áo, cho uống một ít nước muối nhạt hoặc nước chín mát, dùng khăn thấm ướt nước lạnh hoặc rượu trắng lau các hốc tự nhiên như hõm nách, bẹn...
   - Nếu nặng, bất tỉnh nhân sự thì lập tức dùng ngón tay cái lần lượt bấm mạnh huyệt Nhân trung và Thập tuyên. Vị trí huyệt Nhân trung : ở điểm nối 1/3 trên với 2/3 dưới của rãnh nhân trung, giữa đáy rãnh. Vị trí huyệt Thập tuyên : ở đỉnh cao nhất giữa 10 đầu ngón tay. Bấm các huyệt này có tác dụng khai khiếu (làm thức tỉnh) và tiết nhiệt (thải nhiệt, giải nhiệt). Sách Châm cứu khổng huyệt cập kỳ liệu pháp tiện lãm đã viết : "Thập tuyên là kỳ huyệt...dùng kim tam lăng hoặc kim lớn châm ra máu chủ trị tất cả các chứng mất thần cấp tính".
   - Dùng gốc bàn tay day lòng bàn tay, lòng bàn chân và chỗ hõm giữa thắt lưng của người bệnh (có thể dùng một chút rượu trắng để xoa) sao cho tại chỗ nóng lên là được. Trong tư thế bệnh nhân nằm sấp, xác định và day mạnh huyệt Đại chuỳ nằm ở ngay dưới chỗ lồi lớn của ụ xương cổ thứ 7. Sau đó Huyệt này có tác dụng thanh nhiệt và thông dương khí. Kinh nghiệm của cổ nhân thường phối hợp kích thích Thập tuyên với Đại chuỳ để trị sốt cao và chống say nắng.
   - Nếu bệnh nhân đã tỉnh nhưng còn mệt thì dùng tay xoa, day và vê các ngón chân của người bệnh. Điều này rất có lợi vì như vậy tác động đến các huyệt vị như Ẩn bạch, Chí âm, Hành gian, Thái xung, Đại đôn, Lệ đoài, Túc khiếu âm. Kế đó, dùng ngón tay cái nhẹ nhàng day huyệt Thái dương và dọc theo hai lông mày với một lực vừa phải.
     Ngoài ra, theo kinh nghiệm dân gian, người ta còn có thể chọn dùng một trong các biện pháp kích thích hồi tỉnh như : dùng lá hẹ tươi hoặc nga bất thực thảo tươi hoặc gừng tươi hoặc tỏi tươi, rửa sạch, giã nát, ép lấy nước để nhỏ vào lỗ mũi ; dùng trầm hương và đàn hương đốt khói xông hai lỗ mũi...Khi bệnh nhân tỉnh, có thể cho uống nước sắc lá sen, lá hoắc hương và lá hương nhu tươi. Chú ý : dù người bệnh đã tỉnh hẳn vẫn không nên cho trở lại làm việc trong điều kiện nắng nóng ngay mà phải được nghỉ ngơi trong một thời gian thích đáng.


                                                                            Hoàng Khánh Toàn