Thứ Hai, ngày 07 tháng 11 năm 2016

ĐÔNG Y VÀ SA SÚT TRÍ TUỆ

ĐÔNG Y VÀ TÌNH TRẠNG SA SÚT TRÍ TUỆ NGƯỜI GIÀ


     Sa sút trí tuệ là một trong những tình trạng rối loạn tâm thần thường gặp và gây ảnh hưởng rất lớn đối với chất lượng cuộc song của người có tuổi. Đời sống ngày càng được cải thiện, tuổi thọ cũng ngày càng được nâng cao, nhưng thật đáng tiếc tỷ lệ mất trí tuổi già cũng không ngừng gia tăng. Theo thống kê của các nhà khoa học, tính đến năm 1980, tỷ lệ những người bị sa sút trí tuệ ở tuổi 65 trở lên tăng gấp 8 lần so với năm 1940. Báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới cũng cho thấy có đến 10% những người trên 65 tuổi có biểu hiện rối loạn trí lực ở các mức độ khác nhau, trong đó một nửa lâm vào tình trạng sa sút trí tuệ và cho rằng vấn đề này sẽ trở thành tai họa cho loài người trong thế kỷ thứ 21.
     Trong Đông y không coa bệnh danh “sa sút trí tuệ”, nhưng căn cứ vào các triệu chứng lâm sàng có thể thấy tình trạng này thuộc phạm vi các chứng như “ngốc bệnh”, “kiện vong”, “điên chứng”, “thiện vong”, “lão suy”…Hồng Mai, y gia trứ danh đời Tống (Trung Quốc) trong sách “Di kiên trí” đã ghi lại những biểu hiện của căn bệnh này như sau : “Mộ niên hốt bệnh vong, thế gian bách vật giai bất năng biện, dữ tân khách cố cự đối diện bất tương thức…duyệt tam niên nãi tốt”. Còn Vương Thanh Nhậm , y gia lỗi lạc đời Thanh trong sách “Y lâm cải thác” cũng đã bàn đến cơ chế bệnh sinh của căn bệnh này và cho rằng : “Linh cơ ký ức tại não bất tại tâm”, “cao niên vô ký tính giả, não tủy tiệm không” (tinh thần, trí nhớ ở não chứ không phải ở tâm, ở người già mất trí não tủy dần dần trống rỗng).
     Cho đến nay, về cơ chế bệnh sinh của căn bệnh này các nhà Đông y đều thống nhất cho rằng vị trí của bệnh là ở não nhưng có liên quan mật thiết với các tạng phủ khác như tâm, tỳ, can và đặc biệt là thận. Y thư cổ viết : “Não là bể của tủy, thận chủ cốt sinh tủy, thận khí thông với não”. Bởi vậy, giữa não và thận có mối quan hệ đặc biệt mật thiết. Trên thực nghiệm các nhà Đông y đã chứng minh các thuốc bổ thận đều có tác dụng điều tiết rõ rệt công năng của hệ trục não-tuyến yên-tuyến thượng thận. Mặt khác, trên lâm sàng hầu hết các bệnh nhân bị sa sút trí tuệ đều có biểu hiện của hội chứng thận hư theo quan niệm của Đông y. Vì vậy, thận hư là vấn đề trọng yếu và bổ thận là một trong những khâu không thể thiếu được trong phác đồ điều trị.
     Thêm nữa, y thư cổ cũng viết : “Tâm chủ thần minh”, “tâm tri tương lai thận tàng dĩ vãng”, “tỳ hư sinh đàm, đàm uất lâu ngày hóa hỏa, đàm nhiệt làm hại thần minh”. Vì vậy, vai trò của tâm và tỳ đối với đời sống tinh thần cũng có một ý nghĩa rất quan trọng. Như vậy, cái “gốc” của căn bệnh này chính là sự suy yếu của các tạng phủ, trong đó não và thận là khâu trọng yếu ; cái “ngọn” của bệnh là các chứng trạng bệnh lý do đàm trệ, huyết ứ, khí uất…gây ra. Trong Đông y, cơ chế bệnh sinh này được gọi là “bản hư tiêu thực”
     Phương pháp trị liệu của Đông y đối với căn bệnh này là hết sức phong phú, có thể chia thành 2 nhóm chính : dùng thuốc và không dùng thuốc. Nhưng tất cả đều phải tuân thủ nguyên tắc chung là lấy việc kiện tỳ, bổ thận, hoạt huyết làm căn bản, trên cơ sở đó mà gia giảm các vị thuốc hoặc huyệt vị châm cứu cho phù hợp. Nhiều tác giả chủ trương phân chia sa sút trí tuệ người già thành 6 loại hình khác nhau và sử dụng các bài thuốc cổ tương ứng để trị liệu : thể Tâm thận bất giao dùng Lục vị địa hoàng hoàn gia giảm, thể Đàm ứ tương kết dùng Thọ tinh hoàn gia giảm, thể Đàm nhiệt nhiễu tâm dùng Xương bồ uất kim thang gia giảm, thể Can thận bất túc dùng Kỷ cúc địa hoàng hoàn gia giảm, thể Tỳ thận lưỡng hư dùng Hoàn thiếu đan gia giảm và thể Tủy hải không hư dùng Hà sa đại tạo hoàn gia giảm.
     Cũng có tác giả chủ trương sử dụng một bài thuốc làm hạt nhân rồi trên cơ sở đó gia giảm tùy theo tình trạng bệnh lý cụ thể. Bài thuốc này gồm các vị : đẳng sâm, hoàng kỳ, bạch truật, xương bồ, bán hạ chế, ích trí nhân, hoài sơn, tiên linh tỳ. Nếu tỳ thận dương hư gia them phụ tử chế, can khương, thỏ ty tử, đỗ trọng ; nếu khí trệ huyết ứ gia them đào nhân, đan sâm, xuyên khung, ngô công ; nếu đàm trọc ứ trở gia thêm nam tinh, hậu phác, trần bì, viễn trí…
     Kết hợp với biện pháp dùng thuốc người ta rất chú trọng sử dụng châm cứu, bấm huyệt, tập luyện khí công dưỡng sinh và tâm lý liệu pháp để nâng cao hiệu quả trị liệu. Ngoài ra, ẩm thực liệu pháp cũng được người xưa coi trọng. Ví như, sử dụng các món ăn-bài thuốc : Hà thủ ô trắng 30g, hồng táo 10 quả, đại mạch 200g, nấu thành cháo ăn hàng ngày ; Bách hợp 30g, mộc nhĩ đen 15g nấu canh ăn ; Óc dê 1 bộ, long nhãn 15g nấu chín ăn mỗi tuần 1 lần ; Óc lợn 2 bộ, mộc nhĩ trắng 6g, mộc nhĩ đen 6g và nấm hương 6g rửa sạch thái chỉ, trứng chim cút 3 quả luộc chín bỏ vỏ, tất cả đem hấp chín ăn mỗi tuần 1 lần ; Thịt dê 125g rửa sạch thái miếng, kỷ tử 10g, đào nhân 15g, gừng tươi 3 lát, tất cả đem hầm nhừ, chế them hành hoa, gia vị vừa đủ, ăn nóng mỗi tuần 2 lần ; Trứng gà vài quả luộc chín, bóc bỏ vỏ, đem nấu với tiểu hồi hương 9g, quất bì 12g và trà xanh 15g, mỗi ngày ăn 1 quả ; Thịt gà chỗ ức 150g bỏ da chặt miếng, nhúng vào hỗn dịch gồm lòng trắng trứng, tinh bột và gia vị rồi rán vàng, đào nhân 50g ngâm nước sôi, bóc bỏ vỏ, đậu hòa lan 30g, tất cả đem nấu thành canh với tỏi, gừng tươi và một chút rượu vang, ăn hàng ngày ; Long nhãn 60g nấu với đường đỏ, sau đó đập 1 quả trứng gà vào, đun sôi vài phút là được, ăn nóng hàng ngày ; Viễn trí, thỏ ty tử, thục địa và ngũ vị tử mỗi vị 18g, thạch xương bồ 12g, xuyên khung 12g và địa cốt bì 12g, tất cả đem ngâm với 600 ml rượu trắng trong 7 ngày rồi bỏ bã, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10 ml ; Mạch môn 60g, bá tử nhân 30g, phục linh 30g, quy đầu 30g, long nhãn 30g và sinh địa 45, tất cả ngâm với 3000 ml rượu trong 7 ngày, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10 ml.


                                                                                  Hoàng Khánh Toàn 

ĐÔNG Y CHỮA UNG THƯ GAN

Bằng thuốc sắc theo nguyên tắc “biện chứng luận trị” + chế độ ăn uống và tập luyện, khoa Y học cổ truyền bệnh (YHCT) viện TƯ quân đội 108 đã kéo dài cuộc sống cho bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối không còn khả năng chữa trị
ThS Hoàng Khánh Toàn, Chủ nhiệm Khoa Y học cổ truyền Bệnh viện TƯQĐ 108 cho biết, trên thực tế có không ít bệnh nhân bị ung thư tìm đến với YHCT với 2 lý do: Thứ nhất, có thể họ bị ung thư quá nặng cộng với tuổi tác, sức khỏe không cho phép can thiêp phẫu thuật, thủ thuật, hóa trị hoặc xạ trị...; Thứ hai, là các bệnh nhân không muốn sử dụng phương pháp của y học hiện đại (YHHĐ). Vì vậy, trên thực tế lâm sàng khoa đã điều trị cho một số bệnh nhân bị ung thư và nhiều người đã có hiệu quả ở các mức độ khác nhau.
Bệnh nhân Nguyễn Văn T., 82 tuổi (Đống Đa, Hà Nội) bị ung thư phổi trái sát tim với kích thước lớn có xâm lấn. Tây y kết luận bệnh nhân không còn khả năng điều trị. Tuy nhiên, gia đình và người bệnh không muốn “buông xuôi” có nguyện vọng điều trị YHCT. Khoa đã kê đơn thuốc sắc cho bệnh nhân uống theo nguyên tắc “biện chứng luận trị” của đông y và sử dụng một số dược liệu có tác dụng hỗ trợ trị liệu ung thư như : đông trùng hạ thảo, nấm linh chi, tam thất...kết hợp với chế độ ăn, tập luyện khí công dưỡng sinh. Lẽ ra với những trường hợp như vậy, thời gian sống của người bệnh chỉ có thể tính bằng tháng, nhưng thật bất ngờ bệnh nhân này đã sống được 3,5 năm.
Tương tự, anh Phạm Mạnh H, 68 tuổi (Ba Đình, Hà Nội) có 3 khối u với kích thước đường kính từ 3 - 6cm trong gan. Tuy thể trạng bệnh nhân tốt, ăn được, không đau, chưa có hạch di căn... nhưng vì có nhiều khối u nên biện pháp phẫu thuật, tiêm cồn ...không có khả năng can thiệp. Vả lại, bệnh nhân  cũng không muốn trị liệu bằng y học hiện đại, khoa đã dùng thuốc sắc uống kết hợp với mật gấu, nấm linh chi, tam thất bột và ăn uống hợp lý và thực hành các động tác yoga có công dụng dưỡng can. Kết quả bệnh nhân đã sống được 5,5 năm và “ra đi” nhẹ nhàng.
Theo ThS Toàn, bệnh ung thư theo YHCT có tính chất “bản hư tiêu thực”. “Bản” là gốc, là sức đề kháng miễn dịch bị suy giảm, là công năng của các tạng phủ, đặc biệt là tạng can bị rối loạn. “Tiêu” là ngọn, là các hội chứng bệnh lý như khí trệ, huyết ứ, đàm trệ, thủy thũng, tỳ khí hư, can huyết hư... nên trong cấu trúc của đơn thuốc bao giờ cũng có 2 phần: Bồi bổ chính khí và giải quyết các vấn đề rối loạn trong cơ thể. Ví như, điều trị giảm đau, hạ sốt, chống viêm, chống phù nề, chống rối loạn hoạt động của các tạng phủ, trong đó hết sức trọng dụng những vị thuốc có tác dụng phòng chống “chứng nham” - chứng bệnh tương tự với căn bệnh ung thư của YHHĐ. Những vị thuốc này không chỉ do kinh nghiệm truyền lại mà còn được YHHĐ chứng minh là có tác dụng tiêu diệt hoặc ức chế tế bào ung thư như: tam thất, bạch hoa xà thiệt thảo, bán chi liên, kim ngân hoa, hải tảo, côn bố, toàn yết (bọ cạp)...
Kiên nhẫn và dùng thuốc đúng chỉ định
ThS Toàn nhấn mạnh, sự tác động của thuốc đông y với các bệnh lý nói chung và ung thư nói riêng thông thường đều mang tính chất chậm và tiệm tiến. Vì vậy, khi sử dụng YHCT điều trị đòi hỏi bệnh nhân phải kiên nhẫn, sử dụng thuốc đúng theo chỉ định của bác sĩ, tuyệt đối không được dùng những bài thuốc, vị thuốc theo ông lang, bà mế không được đào tạo một cách chính thống. Khi điều trị, bệnh nhân cần lạc quan, tin tưởng và thầy thuốc không nên ép buộc bệnh nhân theo cho đến cùng YHCT nếu bệnh nhân muốn chuyển sang điều trị Tây y.
Theo ThS Toàn, Đông y điều trị ung thư theo quan điểm biện chứng luận trị, tức là, không có bài thuốc, vị thuốc nào chung cho tất cả bệnh nhân hoặc một bệnh và ngay cả một bệnh nhân cũng không có bài thuốc chung trong suốt quá trình điều trị. Thuốc sắc phải tùy thuộc vào tính chất bệnh lý, biến chứng của bệnh, tuổi tác, kết quả thăm khám... từng đợt mà xây dựng phác đồ cho phù hợp. Quá trình điều trị tùy theo tính chất bệnh lý và sức khỏe người bệnh có thể sử dụng thuốc thành từng đợt, có thể thay đổi dạng bào chế của thuốc: thuốc sắc, cao đơn hoàn tán, xoa đắp... Có trường hợp không cần sử dụng thuốc liên tục nhưng bệnh nhân vẫn phải tuân thủ chế độ ăn uống theo đúng chỉ dẫn.
Box: “Có thể nói, cho đến nay sự khẳng định việc dùng các biện pháp YHCT có khả năng điều trị khỏi hoàn toàn căn bệnh ung thư là chưa có. Nhưng thực tế việc sử dụng YHCT để hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối hoặc kết hợp điều trị Tây y là hoàn toàn có thể. Nhiều ca bệnh có kết quả tốt. Vấn đề này rất mong các nhà y học, đặc biệt ung thư học nên chú trọng, lưu tâm nghiên cứu và đưa ra những kết luận bằng những công trình nghiên cứu nghiêm túc và khoa học”.
Ảnh: thăm khám cho bệnh nhân
                                                                           Thúy Nga
                                                                     (Báo Khoa học và Đời sống)


ĐÔNG TRÙNG HẠ THẢO VÀ RỐI LOẠN TÌNH DỤC

ĐÔNG TRÙNG HẠ THẢO VÀ RỐI LOẠN TÌNH DỤC

     Thời buổi kinh tế phát triển, đời sống vật chất được nâng cao thì nhu cầu sử dụng các vị thuốc quý của đông y nhằm bồi bổ sức khoẻ và kéo dài tuổi thọ ngày càng lớn. Với cánh “mày râu” thì những dược liệu có khả năng cải thiện đời sống sinh lý, phòng chống căn bệnh “dưới bảo trên không nghe” hoặc “chưa đi chợ đã tiêu hết tiền” xem ra được trọng dùng hơn cả. Bởi thế, ngoài những vị thuốc bổ truyền thống của đông y như nhân sâm, nhung hươu, cao hổ cốt...người ta còn gắng tìm các dược liệu giàu tính “Viagra” như dâm dương hoắc, nhục thung dung, ba kích, dương hoàn...và trong đó có một thứ gần đây được chú ý nhiều đó là Đông trùng hạ thảo (ĐTHT).
     Vậy, ĐTHT là gì ? Nó có thực sự giúp ích nhiều cho đời sống tình dục hay không ? Và ngoài ra nó còn có công dụng gì khác ? Những diễn giải dưới đây sẽ giúp độc giả hiểu sâu hơn về vấn đề này.

@ Đông trùng hạ thảo là gì ?
     Đông trùng hạ thảo, còn gọi là trùng thảo, hạ thảo đông trùng hay đông trùng thảo, là một giống nấm mọc ký sinh trên con non của một loại sâu thuộc họ Cánh bướm. Nấm và sâu hợp sinh với nhau : vào mùa đông, con sâu non nằm ở dưới đất, nấm phát triển vào toàn thân con sâu để hút chất dinh dưỡng làm cho con sâu chết ; đến mùa hạ, nấm sinh cơ chất (stroma) mọc chồi khỏi mặt đất nhưng gốc vẫn dính liền vào đầu sâu. Người ta thường đào lấy tất cả xác sâu và nấm mà dùng làm thuốc. Vì mùa đông là con sâu, mùa hạ lại thành cây cỏ nên vị thuốc này có tên là ĐTHT.

@ Thành phần hoá học
     Đông trùng hạ thảo chứa 25 - 32% protid (gần đây có thông báo cho rằng tỷ lệ này đạt tới 44,26%), khi thuỷ phân cho tới 14 - 19 acid amin khác nhau như aspartic acid, glutamic acid, serine, histidine, glucine, threonine, arginine, tyrosine, alanine, triptophane, methionine, valine, phenylalanine, isoleucine, leucine, ornithine, lysine...; 8,4% chất béo ; 7 - 29% D-manitol ; các vitamin như sinh tố A, B1, B 2, B 12, C và các nguyên tố vi lượng như Na, K, Ca, Mg, Al, Mn, Cu, Zn, Bo, Fe, Tc...trong đó cao nhất là phosphorum. Ngoài ra, cón có các chất khác như uracil, adenine, adenine nucleoside, ergosterol, cholesteryl palmitate...

@ Tác dụng dược lý
     Tuy nhiều vấn đề còn phải tiếp tục làm rõ, nhưng cho đến nay các nhà khoa học đã nghiên cứu và nhận thấy ĐTHT có tác dụng dược lý khá phong phú : (1) Đối với hệ thống miễn dịch, những nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh ĐTHT có khả năng tăng cường hoạt động miễn dịch tế bào cũng như miễn dịch dịch thể. Cụ thể là có tác dụng nâng cao hoạt tính của đại thực bào và tế bào NK, điều tiết phản ứng ứng đáp của tế bào lympho B, tăng cường một cách có chọn lọc hoạt tính của tế bào T ức chế, làm tăng nồng độ các kháng thể IgG, IgM trong huyết thanh. Mặt khác, ĐTHT còn là một vị thuốc ức chế miễn dịch có tác dụng chống sự bài loại tổ chức cấy ghép khá tốt. (2) Đối với hệ thống tuần hoàn tim - não, ĐTHT có tác dụng làm giãn các mạch máu, làm tăng lưu lượng tuần hoàn não và tim thông qua cơ chế hưng phấn thụ thể M ở cơ trơn thành mạch. Mặt khác, ĐTHT còn có khả năng điều chỉnh rối loạn lipid máu : làm giảm cholesterol và   -lipoprotein, hạn chế quá trình tiến triển của tình trạng vữa xơ động mạch. (3) Đối với hệ hô hấp, ĐTHT có tác dụng bình suyễn, trừ đờm và phòng chống khí phế thũng. Điều này làm sáng tỏ quan điểm của cổ nhân cho rằng ĐTHT có khả năng "bảo phế ích thận" và "dĩ lao khái". (4) Đối với hệ thống nội tiết, trên động vật thực nghiệm ĐTHT có tác dụng làm tăng trọng lượng tuyến vỏ thượng thận và tăng quá trình tổng hợp các hocmon của tuyến này (adrenocortical hormone), đồng thời cũng có tác dụng tương tự như hocmon nam tính (androgen) và làm tăng trọng lượng của tinh hoàn cũng như các cơ quan sinh dục phụ trên động vật thực nghiệm. (5) Ngoài ra, ĐTHT còn có tác dụng chống ung thư, chống viêm nhiễm, chống quá trình lão hóa và trấn tĩnh chống co giật.

@ Ứng dụng lâm sàng
     Trên lâm sàng, các nhà y học cổ truyền trong và ngoài nước, đặc biệt là ở Trung Quốc, đã nghiên cứu dùng ĐTHT điều trị thành công khá nhiều chứng bệnh như rối loạn lipid máu (đạt hiệu quả 76,2%), viêm phế quản mạn tính và hen phế quản, viêm thận mạn tính và suy thận (đạt hiệu quả từ 44,4 - 70%), rối loạn nhịp tim (đạt hiệu quả 74,5%), cao huyết áp, viêm mũi dị ứng, viêm gan B mạn tính (đạt hiệu quả 70%), ung thư phổi (có tác dụng hỗ trợ) và thiểu năng sinh dục (đạt hiệu quả từ 31,57 - 64,15%). Viện nghiên cứu nội tiết Thượng Hải (Trung Quốc) cũng đã dùng ĐTHT điều trị cho các bệnh nhân bị liệt dương đạt kết quả khá tốt. Một số ví dụ cụ thể như sau :
- Một nghiên cứu dùng viên nang ĐTHT, mỗi viên 0,25g, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 5 viên, dùng liên tục trong 3 tháng để trị liệu 8 ca viêm gan mạn tính, đạt hiệu quả 75%.
- Một nghiên cứu dùng bột ĐTHT, uống mỗi ngày 6g, chia 2 lần sáng và chiều, liên tục trong 30 ngày để trị liệu 18 ca suy thận mạn tính, kết quả 50 % số ca công năng thận chuyển biến tốt, 38,9% tình trạng thiếu máu được cải thiện, 65% công năng miễn dịch tế bào được nâng cao.
- Một nghiên cứu dùng viên nang ĐTHT, mỗi viên 0,25g, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 4 viên, dùng liên tục trong 30 ngày để trị liệu 16 ca cao huyết áp, đạt hiệu quả 62,5 %.
-  Một nghiên cứu dùng bột ĐTHT, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1g để trị liệu 273 ca có rối loạn lipid máu, đạt hiệu quả 74,7 % (giảm cholesterol và triglycerid, tăng HDL-C).
- Một nghiên cứu dùng viên nang ĐTHT uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 3 viên, mỗi liệu trình là 20 ngày, dùng liên tục 2 liệu trình để trị liệu 109 ca viêm phế quản mạn tính, kết quả đạt khá tốt.
- Một nghiên cứu dùng viên nang ĐTHT, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1g, liên tục trong 40 ngày để trị liệu 197 ca suy giảm công năng tình dục, đạt hiệu quả 64,15%.
- Một nghiên cứu dùng viên nang ĐTHT 0,25g, mỗi ngày uông 3 lần, mỗi lần 2 viên, dùng liên tục trong 2 tuần để trị liệu 57 ca rối loạn nhịp tim, đạt hiệu quả 65%.
- Một nghiên cứu dùng ĐTHT 15 - 30g đem hầm với thịt vịt để trị liệu chứng hư suyễn, đạt hiệu quả khá tốt.
     Như vậy, có thể thấy ĐTHT quả thực là một trong những vị thuốc đông y có khả năng cải thiện đời sống tình dục trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua tác dụng nâng đỡ và bồi dưỡng cơ thể. Điều này đã được y học cổ truyền biết đến từ rất sớm. Theo các sách thuốc cổ, ĐTHT vị ngọt, tính ấm, vào hai đường kinh Thận và Phế, có công năng dưỡng phế, bổ thận, ích tinh, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như phế hư khái suyễn, thận suy dương nuy (liệt dương), di tinh, lưng gối đau mỏi

@ Một vài cách dùng ĐTHT thông dụng
     Khó có thể kể hết các phương thuốc đông y có sử dụng ĐTHT, nhưng để cải thiện và phòng chống các bệnh lý rối loạn tình dục có thể lựa chọn một số cách dùng thông dụng sau đây :
* Rượu trùng thảo nhân sâm :  ĐTHT và nhân sâm lượng bằng nhau ngâm trong rượu tốt, sau chừng 10 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 1 ly nhỏ. Công dụng : bổ thận tráng dương, dùng rất tốt cho những người bị suy nhược cơ thể, giảm sút ham muốn tình dục, liệt dương
* Rượu lộc nhung trùng thảo :  nhung hươu 20g, ĐTHT 90g, hai thứ đem ngâm trong 1500 ml rượu tốt trong 10 ngày, uống mỗi ngày 20 - 30 ml. Công dụng : ôn thận tráng dương, ích tinh dưỡng huyết, thường dùng cho người bị suy nhược cơ thể, thiếu máu, liệt dương, suy giảm tình dục
* Rượu kỷ tử trùng thảo :  kỷ tử 30g, ĐTHT 30g, hai thứ đem ngâm với 500 ml rượu trắng, sau 10 ngày thì dùng được, mỗi ngày uống 2 - 3 lần, mỗi lần 15 ml. Công dụng : bổ ích can thận, ích khí sinh tinh, thường dùng cho người bị liệt dương, xuất tinh sớm
* Trà trùng thảo nhân sâm :  ĐTHT 5g, nhân sâm 3 - 5g, hai thứ đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chứng 10 phút thì dùng được, uông thay trà trong ngày. Công dụng : bổ khí tráng dương, ích thận sinh tinh, dùng rất tốt cho những người bị suy giảm ham muốn tình dục, liệt dương, xuất tinh sớm, muộn con
* Canh đông trùng hùng áp :  ĐTHT 10g, vịt đực 1 con, rượu trắng, gừng tươi, hạt tiêu và gia vị vừa đủ. Vịt làm thịt rồi bỏ ĐTHT vào trong bụng, đem hầm thật nhừ, khi được chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày, mỗi tuần dùng 1 lần. Công dụng : bổ phế thận, ích nguyên khí, thường dùng cho những người bị suy nhược cớ thể, mới ốm dậy, hay mộng tinh, di tinh, hoạt tinh, liệt dương, xuất tinh sớm

                                                                                   Hoàng Khánh Toàn


Thứ Hai, ngày 19 tháng 9 năm 2016

Dược thiện hỗ trợ chữa ung thư cổ tử cung

DƯỢC THIỆN HỖ TRỢ TRỊ LIỆU UNG THƯ CỔ TỬ CUNG


     Ung thư cổ tử cung là một trong những bệnh lý ác tính thường gặp nhất ở phụ nữ. Bệnh lý này đã được đông y đề cập đến rất sớm trong phạm vi các chứng bệnh như “băng lậu”, “ngũ sắc đới”…với nguyên nhân chủ yếu là do rối loạn tình chí (thất tình), can khí uất trệ, hai mạch Xung, Nhâm tổn thương, suy giảm công năng các tạng phủ khiến chính khí (sức đề kháng miễn dịch) sút kém kết hợp với tà khí (các yếu tố gây bệnh từ bên ngoài) xâm nhập vào trong cơ thể mà phát sinh thành bệnh. Về trị liệu, ngoài việc sử dụng thuốc uống trong, thuốc xông ngâm bôi rửa bên ngoài, châm cứu, xoa bóp…, cổ nhân còn sử dụng các món ăn-bài thuốc (dược thiện) có công dụng phòng và hỗ trợ điều trị rất độc đáo. Bài viết này xin được giới thiệu một số món dược thiện điển hình.
- Thịt lợn nạc 50g, rau kim châm 30g, đương quy 30g, nấu thành canh ăn hàng ngày. Dùng thích hợp cho trường hợp suy nhược cơ thể, thường xuất huyết âm đạo.
- Bào ngư 50g, sơn tra tươi 10g ninh nhừ, uống nước canh, ăn bào ngư. Dùng thích hợ cho trường hợp có viêm và xuất huyết âm đạo.
- Hoàng kỳ 50g, đương quy 15g sắc kỹ lấy nước rồi đem ninh với 100g gạo tẻ thành cháo, chia ăn 2 lần trong ngày. Công dụng : bổ khí dưỡng huyết, dùng cho trường hợp cơ thể suy sụp, nhất là sau khi phẫu thuật hoặc xạ trị.
- Gà ác 1 con làm thịt, đem hầm nhừ ăn thường xuyên. Dùng hỗ trợ trị liệu cho các thể ung thư cổ tử cung, đặc biệt là khi có xuất huyết âm đạo. Nếu hầm cùng nhân sâm hoặc đẳng thì càng tốt.
- Thịt dê 500g rửa sạch, thái miếng đem hầm với đương quy 50g, gừng tươi 3g bằng lửa nhỏ, dùng làm canh ăn hàng ngày. Dùng cho các trường hợp ung thư cổ tử cung thể hàn thể có biểu hiện sợ lạnh, nhạt miệng, đại tiện lỏng, thiếu máu.
- Cá mực chế biến dưới các dạng hấp, xào, nường, chiên…ăn thường xuyên, dùng cho trường hợp có biểu hiện xích bạch đới (khí hư màu trắng, hồng đỏ).
- Nhựa cây đào 100g nấu nước uống thường xuyên, dùng rất tốt cho trường hợp có thiếu máu và xuất huyết âm đạo.
- Rau cần nước nấu canh ăn thường xuyên, rất tốt cho trường hợp có xuất huyết âm đạo.
- Dấm gạo một ít pha thêm đường đỏ hoặc đường trắng và vài giọt nước cốt gừng tươi uống hàng ngày, dùng cho trường hợp có đau bụng, sản dịch nhiều.
- Thịt rắn 250 nấu canh ăn, nếu có thêm một ít thịt gà thái chỉ thì càng tốt. Công dụng : bồi bổ sức khỏe, cải thiện công năng miễn dịch.
- Cà chua 2 quả thái lát, tỏi 2 nhánh băm vụn, trộn hai thứ ăn thường xuyên, dùng để phòng và hỗ trợ trị liệu các loại ung thư cổ tử cung.
- Dưa chuột 500g, rau mùi 100g, tỏi ½ củ, tất cả rửa sạch, thái nhỏ, trộn đều ăn hàng ngày, dùng cho các trường hợp sau phẫu thuật hoặc chiếu xạ.
- Thổ phục linh 50g, thương truật 10g, ngưu tất 10g, hoàng bá, sắc kỹ lấy nước ninh với 100g gạo tẻ thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày. Đồng thời lấy nước sắc này xông rửa tại chỗ hàng ngày. Dùng cho trường hợp ra nhiều dịch hôi hám trong giai đoạn cuối.
- Tiên hạc thảo 100g, sinh địa 50g sắc kỹ lấy nước ninh với một ít gạo tẻ thành cháo, ăn hàng ngày, dùng cho trường hợp ung thư cổ tử cung chiếu xạ, tiểu tiện ra máu.
- Ô mai 50g, can khương 10g, hoàng liên 5g, mộc hương 3g, sắc kỹ lấy nước, pha thêm một chút đường trắng, uống thường xuyên, dùng cho trường hợp chiếu xạ gây đau bụng, đi lỏng…
- Xích thạch chi 100g, vũ dư lương 50g sắc kỹ lấy nước ninh với gạo tẻ thành cháo ăn thường xuyên, dùng cho trường hợp phải chiếu xạ gây đi ngoài ra máu nhiều.
- Sinh địa 30g, lá tre 10g, mộc thông 5g, sinh cam thảo 5g sắc kỹ lấy nước nấu với gạo tẻ thành cháo, ăn thường xuyên, dùng cho trường hợp phải chiếu xạ gây đi tiểu ra máu nhiểu.


                                                                               ThS Hoàng Khánh Toàn

Thứ Hai, ngày 12 tháng 9 năm 2016

Rượu nhung hươu

RƯỢU NHUNG HƯƠU TĂNG CƯỜNG PHONG ĐỘ


      Mùa xuân là mùa thu hoạch nhung hươu, một trong những vị thuốc quý giá của y dược học cổ truyền. Nhung hươu có nhiều công dụng khác nhau, riêng với nam giới ở tuổi trưởng thành dược liệu này có khả năng tăng cường khả năng sinh lý, giúp cho cánh mày râu giữ được phong độ của “phái mạnh”.
     Có nhiều cách sử dụng nhung hươu để đạt được mục đích này, tuy nhiên người ta thường thích dùng dưới dạng ngâm rượu đơn thuần hoặc phối hợp cùng với các dược liệu có công năng bổ dưỡng khác. Xin được giới thiệu 2 trong nhiều công thức rượu nhung hươu “tăng cường phong độ”

Công thức 1:
     Nhung hươu 40g, hoài sơn 120g, rượu trắng 1000 ml. Nhung hươu cạo sạch lông, thái lát mỏng ; hoài sơn sao vàng, tán vụn, hai thứ trộn đều, cho vào túi vải buộc kín miệng rồi đem ngâm với rượu, sau 7 ngày là có thể dùng được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần một chén nhỏ (chừng 20 ml), nếu uống lâu dài thì nên giảm dần xuống còn một nửa. Khi uống hết rượu, lấy bã sấy khô, tán thành bột mịn vê thành viên uống Cũng có y thư cổ khuyên rằng : nên ngâm trong 49 ngày rồi hãy dùng, khi ngâm nên chọn giờ Dậu (buổi chiều từ 5 đến 7 giờ), khi mở nên chọn giờ Thìn (buổi chiều từ 7 đến 9 giờ)
     Công dụng : bổ thận tráng dương, tăng cường sinh lực, thường được dùng trong các trường hợp thận dương kém, sinh dục kém, yếu sinh lý, liệt dương, di tinh, hoạt tinh, xuất tinh sớm, lưng đau gối mỏi, tay chân lạnh lẽo, tiểu tiện nhiều lần, da mặt sạm. Theo cổ nhân, đây là một trong những loại rượu bổ thận tráng dương, hồi xuân bất lão thượng hạng, có tên gọi là “Lộc nhung tửu” được ghi trong y thư cổ nổi tiếng “Phổ tế phương”

Công thức 2 :
     Nhung hươu 60g, kỷ tử 120g, rượu trắng 2000 ml. Nhung hươu cạo sạch lông, thái lát mỏng rồi đem ngâm với rượu cùng kỷ tử, sau 10 ngày là dùng được, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 chén nhỏ (chừng 20 ml). Khi uống hết rượu, lấy bã sấy khô, tán thành bột mịn vê thành viên uống.
     Công dụng : tráng dương tư âm, bổ can thận, thường được dùng cho các trường hợp mắc chứng bất lực, suy giảm ham muốn và khoái cảm tình dục, muộn con do chất lượng và số lượng tinh trùng không đảm bảo. Trong phương, nhung hươu bổ thận dương, ích tinh huyết, cường gân cốt ; kỷ tử tư bổ can thận, minh mục nhuận phế.

                                                                                                  Hoàng Khánh Toàn

     

Rượu ngâm cây thuốc phiện

RƯỢU NGÂM CÂY THUỐC PHIỆN CÓ THỰC SỰ BỔ DƯƠNG ?


     Mấy năm gần đây, không ít người trong cánh “mày râu” đua nhau tìm mua và sử dụng loại rượu được ngâm với rễ hoặc cả cây thuốc phiện với kỳ vọng tăng cường năng lực trong chuyện “chăn gối”. Nguồn cung cấp loại rượu này hầu hết là từ những người dân một số xã vùng cao của huyện Trạm Tấu (Yên Bái) như: Bản Mù, Bản Công, Xà Hồ, Túc Đán, Làng Nhì và Tà Si Láng và một số khu vực giáp ranh với huyện Phù Yên, Bắc Yên (Sơn La). Dân nhậu Yên Bái vẫn nói đùa rằng đây là rượu… một ba tám! Nguyên do có tên gọi này bởi một số địa phương có Ban chỉ đạo 138 về phòng chống tái trồng cây thuốc phiện.
     Trên thực tế, từ lâu người dân vùng cao vẫn có thói quen uống loại rượu ngâm rễ cây thuốc phiện, nhưng chỉ vài năm trở lại đây mới rộ lên phong trào uống loại rượu này. Hồi cuối năm 2008, đầu năm 2009, rễ cây thuốc phiện tươi (hoặc khô) vẫn được những người dân tộc bày bán công khai, với giá từ 150 đến trên 200 ngàn đồng/kg rễ cây khô. Những bình rượu ngâm rễ cây thuốc phiện có giá từ 200 đến 500 ngàn, nếu bình nào có quả thuốc phiện khô (đã chích nhựa) có thể lên 800 đến 1,2 triệu đồng tuỳ theo dung tích từ 2 - 3 lít. Vậy, câu hỏi được đặt ra là, rượu ngâm cây thuốc phiện có thực sự bổ dương ? Dùng loại rượu này có lợi hay có hại ?
     Theo dược học cổ truyền, cây thuốc phiện vị chua sáp, tính bình, có độc, vào được ba đường kinh Phế, Thận và Đại tràng, có công dụng liễm phế, chỉ khái (giảm ho), sáp tràng, chỉ thống (giảm đau) thường được dùng để chữa các chứng bệnh như ho kinh niên, đi lỏng và kiết lỵ lâu ngày, thoát giang (sa trực tràng), đại tiện ra máu, hoạt tinh, tiểu tiện nhiều lần, bạch đới (khí hư màu trắng) và các chứng đau. Thuốc phiện được xếp vào nhóm thuốc bệnh có tác dụng thu sáp, chỉ khái, bình suyễn chứ không phải là thuốc bổ khí huyết hay bổ âm dương và càng không phải là thuốc có công năng tăng cường sinh lý cho đàn ông.
     Theo nghiên cứu hiện đại, trong cây thuốc phiện, đặc biệt là quả, có chứa mocphin, codein, nacotin, naxein, acid meconic, acid tactric, acid citric và một ít papaverin, có tác dụng giảm đau, an thần, giảm ho, làm giãn mạch máu, gây co thắt cơ trơn đường mật, co đồng tử, dễ gây nghiện và táo bón. Thuốc phiện hoàn toàn không có ảnh hưởng trực tiếp đến nội tiết tố và cơ quan sinh dục.
     Trên thực tế, từ lâu thuốc phiện đã được dùng để làm thuốc giảm đau và an thần, nhưng là loại dược vật nguy hiểm, dễ ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh gây nghiện.  Thuốc phiện cũng là một loại cây nằm trong danh mục cây thuốc chữa bệnh. Nhưng ngay trong việc dùng cho mục đích chữa bệnh cũng phải bào chế hết sức cẩn trọng mới có thể dùng chứ không thể dùng trực tiếp từ cây tươi và khi dùng phải đúng chỉ định với liều lượng nghiêm ngặt. Vậy nên những lời quảng cáo, đồn thổi về công dụng bổ thận tráng dương, tăng cường sinh lý của loại rượu ngâm rễ hoặc cây thuốc phiện là hoàn toàn không đúng và không có tính khoa học, thậm chí còn hết sức nguy hiểm. Vụ việc 6 bợm nhậu ở xã Bản Mù, Trạm Tấu, Yên Bái đã phải vào viện cấp cứu do ngộ độc rượu ngâm rễ cây thuốc phiện ở Bệnh viện Y học cổ truyền Yên Bái là một ví dụ điển hình. Thêm nữa, nếu uống nhiều loại rượu này thì khi thử cũng dương tính với ma tuý và đây cũng là một hình thức cổ súy cho việc tái trồng cây thuốc phiện, điều mà hiện tại chúng ta đang nghiêm cấm.
                                                                                               Hoàng Khánh Toàn


Chủ Nhật, ngày 04 tháng 9 năm 2016

DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ NÃO

CÁC BIỆN PHÁP DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ NÃO


     Đột quỵ não (stroke) hoặc cơn tai biến mạch máu não (cerebrovascular accident) do mất đột ngột lưu lượng máu tới não (chảy máu não hoặc tắc mạch não) dẫn đến giảm, mất chức năng hoặc chết các tế bào não, là nguyên nhân gây liệt, rối loạn ngôn ngữ, mất cảm giác, trí nhớ, hôn mê và có khả năng gây tử vong.
Đột quỵ là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ hai trên thế giới sau ung thư, đứng hàng đầu về tàn phế ở người trưởng thành. Hàng năm ở Mỹ có khoảng 700.000 -750.000 bệnh nhân mới và tái phát, chi phí 30 tỷ USD cho điều trị nội trú và phục hồi chức năng. Tại Pháp, 12% tử vong ở người già do nguyên nhân đột quỵ não, đứng hàng đầu trong các nguyên nhân tử vong. Tỷ lệ mới mắc đột quỵ ở Mỹ là 135/100.000 dân, ở Pháp là 145/100.000 dân. Tỷ lệ đột quỵ tính toàn châu Âu, số người bị đột quỵ lần đầu tiên trong khoảng 141-219/100.000 dân. Ở châu Á, theo Hiệp hội thần kinh các nước Đông nam Á, tỷ lệ mới mắc đột quỵ não là : Nhật bản từ 340 - 523/100.000 dân; Trung quốc 219/100.000 dân; Israel 140/100.000 dân; Ấn độ 13/100.000 dân; Mông cổ 8/100.000 dân; Srilanca 29/100.000 dân; Việt nam 161/100.000 dân (Lê Đức Hinh, (1998). Dự kiến đến năm 2020, đột quỵ não là một trong bốn bệnh hàng đầu dẫn đến tử vong . Ở Việt nam, tỷ lệ mắc bệnh đột quỵ não đang gia tăng ở mức đáng lo ngại ở cả hai giới và các lứa tuổi. Nguy cơ xẩy ra đột quỵ gia tăng theo tuổi, tăng gấp đôi cứ mỗi 10 năm sau 55 tuổi, xấp xỉ 28% đột quỵ xẩy ra dưới 65 tuổi. Nguyên nhân chủ yếu của đột quỵ não là tăng huyết áp.
     Đột quỵ não gồm hai thể bệnh chính: chảy máu não và thiếu máu não cục bộ. Theo thống kê, đột quỵ thiếu máu não chiếm khoảng 80 - 85%, đột quỵ chảy máu não chiếm từ 10 - 15%. Quan niệm đột quỵ não chỉ là cách kết thúc cuộc đời của người già nay đã lỗi thời. Từ những năm của thập kỷ 80 trở lại đây, tỷ lệ tử vong ở các nước phát triển đã giảm nhờ chẩn đoán sớm và với các phương tiện hồi sức tích cực, tổ chức thành các đơn vị đột quỵ não cũng như các trung tâm đột quỵ não đã điều trị có hiệu quả bệnh. Mặt khác nhờ hiểu biết cơ chế bệnh sinh, có các biện pháp chống yếu tố nguy cơ trong cộng đồng có hiệu quả nhất là điều trị bệnh tăng huyết áp, nên tỷ lệ mới mắc ở các nước phát triển đã giảm đáng kể ở Anh, và các nước Bắc Âu. Từ các số liệu của Tổ chức Y tế thế giới, đã đưa ra nhận xét : đột quỵ não là bệnh hoàn toàn có thể dự phòng có kết quả bằng các biện pháp mang tính tổng hợp.
     Các biện pháp dự phòng đột quỵ não nhằm ba mục đích : phòng ngừa bị bệnh, dự phòng tái phát và điều trị củng cố. Nội dung chính bao gồm :  
- Khai thông sớm các trường hợp hẹp động mạch cảnh trong bằng các biện pháp phẫu thuật hoặc can thiệp từ bên ngoài
- Giảm dần các yếu tố nguy cơ nguyên nhân mạch máu (tăng huyết áp, tăng cholesterol, kiểm soát tốt bệnh đái tháo đường, bỏ hút thuốc lá) để ngăn chặn sự tạo thành các mảng vữa xơ động mạch

- Điều trị chống kết tập tiểu cầu để ngăn chặn sự tạo thành mảng vữa xơ động mạch mới và các biến chứng huyết khối vữa xơ động mạch do đứt vỡ các mảng này.
     Các biện pháp cụ thể bao gồm :
+ Chống tăng huyết áp để làm giảm các biến chứng về tim mạch, thận và tỷ lệ tử vong. Tích cực sử dụng các biện pháp phòng chống thừa cân và béo phì, ăn nhạt, thường xuyên tập luyện thể dục thể thao. Sử dụng thuốc hạ huyết áp đều đặn và đúng cách theo hướng dẫn của thầy thuốc.
+ Cai thuốc lá triệt để vì hút thuốc làm nguy cơ gây vữa xơ động mạch và bệnh mạch vành tăng gấp đôi, nhất là ở những người hút trên 40 điếu mỗi ngày. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng : nguy cơ đột quỵ não sẽ dứt hẳn sau một vài năm ngừng hút thuốc lá.
+ Điều chỉnh rối loạn lipid máu, trong đó đặc biệt làm giảm cholesterol. Cơ chế sinh bệnh vữa xơ động mạch chưa được hiểu biết hoàn toàn, nhưng tổn thương và hậu quả rối loạn chức năng của các tế bào nội mạc mạch máu là rất sớm. Có nhiều nghiên cứu lớn đã chỉ ra rằng tăng cholesterol là một yết tố nguy cơ độc lập của đột quỵ não.
+ Thực hiện chế độ ăn muối và kali hợp lý. Ăn mặn làm tăng huyết áp. Đối với các nước nhiệt đới, chỉ nên giảm muối vừa phải do mất muối qua mồ hôi. Chế độ ăn ít kali làm tăng nguy cơ đột quỵ do tăng huyết áp. Nên bổ sung kali bằng ăn thêm hoa quả và rau tươi. Mức độ ăn kiêng được khuyến cáo chung là không quá 2,4g natri mỗi ngày (tương đương 6g muối ăn natriclorua). Những bệnh nhân tăng huyết áp nếu giảm bớt lượng muối ăn khoảng 40mg/ngày thì sẽ giảm được nguy cơ tăng huyết áp hoặc biến chứng tim mạch.
+ Cai rượu, người ta thấy việc sử dụng rượu mức trung bình có thể cải thiện sức khỏe một cách thật sự. Tuy nhiên một số người nghiện rượu thường gặp phải những biến chứng nặng do lạm dụng rượu. Nghiện rượu nặng (sử dụng nhiều hơn 60g/ngày) tăng nguy cơ đột quỵ. Sử dụng mức độ trung bình (12-24g/ngày) giảm nguy cơ đột quỵ. Sử dụng rượu ít hơn 12g/ngày thì nguy cơ thấp nhất. “10g rượu tương đương với 330ml bia hoặc 100ml rượu vang hoặc 30ml rượu mạnh.
+ Tập thể dục để làm giảm thấp các yết tố nguy cơ của bệnh tim mạch. Những người đàn ông thường xuyên hoạt động đủ mạnh để ướt đẫm mồ hôi là đã giảm 20% nguy cơ đột quỵ. Tập thể dục mức độ trung bình, chẳng hạn như đi bộ nhanh, đạp xe đạp hoặc bơi lội ít nhất 30 phút/lần/ngày, 5 ngày/tuần là hữu ích. Tập thể dục đều đặn có thể góp phần cải thiện đường máu, giảm tỷ lệ kháng insulin, giảm cân, cải thiện một số thông số lipid, hạn chế tiến triển tổn thương xữa xơ động mạch và cải thiện huyết áp. Tập thể dục có tác dụng làm giảm HA tâm thu, giảm béo phì. Thể dục làm giảm tỷ lệ nhồi máu cơ tim do đó cũng làn giảm tỷ lệ đột quỵ não.
+ Chống béo phì, nhất là  béo bụng vì đó là nguy cơ lớn nhất của đột quỵ. Về yếu tố nguy cơ của đột quỵ, nghiên cứu sức khỏe dinh dưỡng đã xác định rằng gia tăng chỉ số khối cơ thể = [trọng lượng (kg)] chia cho [chiều cao (m)]2, nếu > 27kg/m2 và tăng cân nặng sau 18 tuổi làm tăng yếu tố nguy cơ của nhồi máu não.
+ Chống bệnh đái tháo đường để làm giảm nguy cơ đột quỵ não. Nghiên cứu ở Framinham đã xác định rằng nguy cơ đột quỵ cao hơn trong những bệnh nhân đái tháo đường so với những bệnh nhân không đái tháo đường. Khi một bệnh nhân đái tháo đường bị đột quỵ thì hậu quả hiểm nghèo hơn nhiều so với bệnh nhân không bị đái tháo đường. Lý do của hậu quả này là do bệnh nhân bị đái tháo có vòng tuần hoàn nghèo nàn.
+ Phát hiện và điều trị sớm các bệnh lý về tim như Rối loạn nhịp (đặc biệt là rung nhĩ), tổn thương van tim, các tổn thương cơ tim đặc biệt là nhồi máu mới, nhồi mấu cũ và bệnh lý cơ tim.
+ Sử dụng các thuốc dự phòng theo hướng dẫn của thầy thuốc, bao gồm :
    (1) Các thuốc tây y như : Các thuốc chống đông và thuốc chống kết tập tiểu cầu do ức chế sự tổng hợp thromboxan A2 của tiểu cầu (chất làm dính các tiểu cầu với nhau và với thành mạch) đồng thời giúp ổn định màng tế bào làm ADP không giải phóng ra được khỏi màng tế bào để tham gia vào quá trình kết dính tiểu cầu nên đã được dùng phổ biến trong thời kỳ cấp để ngăn chặn huyết khối tiến triển và tái phát. Chúng có lợi ích dự phòng lâu dài cho nhiều nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ đột quỵ bao gồm rung nhĩ, tình trạng tăng đông. Tuy vậy, các thuốc này không làm tiêu có ý nghĩa cục máu đông và không thể tái lập nhanh tưới máu não trong giai đoạn cấp. Các thuốc chống kết tập tiểu cầu chủ yếu là Aspirin, Dypiridamol, Aggrenox, Clopidogrel…
   (2) Các thuốc đông y như Hoa đà tái tạo hoàn, là phương thuốc bí truyền dân gian Trung quốc được nghiên cứu sản xuất dưới dạng viên hoàn, liều dùng 8 gam/1 lần x 2 lần/24h, một đợt điều trị 30 ngày, có thể uống 3 đợt liên tục và không có tai biến. Thuốc có tác dụng khu phong khai khiếu, hoạt huyết hoá ứ, tiêu sưng tán kết. Thuốc đã được nghiên cứu thực nghiệm trên động vật (thỏ, chó, mèo, chuột) nhận thấy thuốc làm tăng lưu lượng động mạch cảnh gốc và động mạch cảnh trong, làm tăng cường tính co bóp của cơ tim. Thuốc cũng đã được nghiên cứu thử nghiệm trên lâm sàng ở nhiều bệnh viện của Trung Quốc để điều trị cho các bệnh nhân sau đột quỵ não (cả đột quỵ chảy máu và đột quỵ thiếu máu não) và đã được xác định có sự cải thiện rõ lưu lượng máu não của bệnh nhân, giảm độ quánh máu, giảm chỉ số kết tập tiểu cầu, cải thiện khả năng biến dạng hồng cầu, dự phòng tích cực đột quỵ tái phát ; Luotai, là Panax notogingseng saponin (dạng bột pha tiêm, viên nén, dung dịch tiêm) của Trung Quốc dùng để dự phòng và điều trị đột quỵ thiếu máu cục bộ não cấp và bán cấp do có tác dụng làm bền vững thành mạch máu, cải thiện vi tuần hoàn, tác động vào quá trình đông máu, giảm đau và chống viêm. Ngoài ra còn nhiều loại đông dược thành phẩm khác như Hoạt huyết dường não, viên Kỷ cúc địa hoàng hoàn, viên Tứ vật đào hồng…

                                                                                            Hoàng Khánh Toàn