Thứ Ba, ngày 30 tháng 9 năm 2014

NGHIÊN CỨU HIỆN ĐẠI VỀ BẢN CHẤT CỦA QUY KINH DƯỢC VẬT


1. Phương pháp nghiên cứu quy kinh
     Hiện nay, có hai phương pháp cơ bản nghiên cứu bản chất của quy kinh : thứ nhất là đi từ sự phân bố của dược vật (thành phần hoá học) trong cơ thể để phát hiện mối quan hệ giữa quy kinh và các bộ phận, cơ quan trong cơ thể, được gọi là Thể nội phân bố pháp ; thứ hai là đi từ tác dụng dược lý của dược vật, được gọi là Dược lý pháp.
     Phương pháp thứ nhất thường sử dụng các đồng vị phóng xạ đánh dấu mỗi thành phần hữu hiệu của dược vật, sau đó tiến hành thăm dò sự phân bố của chúng trong cơ thể, phân tích những nơi tập trung nhiều nhất, từ đó tìm ra sự tương hợp với lý luận quy kinh truyền thống. Ví như, một nghiên cứu thăm dò sự phân bố của Tetramethyl pyrazine (được đánh dấu bằng đồng vị phóng xạ) chứa trong xuyên khung trên động vật thí nghiệm, phát hiện thấy chất này tập trung nhiều nhất ở gan và túi mật, từ đó kết luận dược học cổ truyền quy nhập xuyên khung và hai kinh can và đởm là có cơ sở.
     Nhưng phương pháp này còn tồn tại hai vấn đề : (1) Đánh đồng hai khái niệm “tạng phủ” của y học cổ truyền và “cơ quan” của y học hiện đại mà trên thực thực tế còn chứa đựng nhiều điểm khác biệt, ví như tạng can của y học truyền và gan của y học hiện đại ; (2) Thông thường mà nói, dược vật có thể tập trung nhiều ở cơ quan này, nhưng đó chưa hẳn đã là cơ quan đích mà nó phát huy tác dụng dược lý. Ví như, cơ quan đích của thuốc cường tim là tim, nhưng thực tế Digitalis lại tập trung nhiều nhất ở gan.
     Phương pháp thứ hai thường phân tích dựa trên tác dụng dược lý của thuốc, rồi từ đó căn cứ vào công năng của các tạng phủ theo quan niệm của y học cổ truyền để lý giải và tìm ra mối quan hệ tương ứng. Ví như, toan táo nhân và hổ phách có tác dụng trấn tĩnh, gây ngủ, trên lâm sàng có thể dùng làm thuốc an thần, theo lý luận của y học cổ truyền trấn tĩnh và an thần có mối quan hệ chặt chẽ với tạng tâm, vậy có thể coi việc quy nạp hai vị thuốc này vào kinh tâm là có cơ sở. Hiện tại, phương pháp này được dùng nhiều nhất.
2. Mối quan hệ giữa tác dụng dược lý và quy kinh
   a) Dựa vào tác dụng dược lý của dược vật để nghiên cứu lý luận quy kinh
     Lý luận quy kinh nói riêng và các lý luận khác của y học cổ truyền nói chung đều được đúc kết từ thực tiễn phòng chống bệnh tật từ cách đây hàng ngàn năm. Căn cứ vào hiệu quả lâm sàng của dược vật kết hợp với sự lý giải về công năng các tạng phủ, cổ nhân đã khái quát thành lý luận quy kinh. Tuy nhiên, những ghi chép về quy kinh dược vật trong các sách thuốc cổ cũng có khi không giống nhau, bởi lẽ tuyệt đại đa số các tác phẩm này đều do các thầy thuốc đời xưa soạn thảo và trong quá trình đó không thể tránh khỏi những dấu ấn kinh nghiệm lâm sàng mang tính cá nhân. Hơn nữa, có những vị thuốc được di thực từ nơi khác đến nên ít nhiều có những thay đổi đáng kể, trong đó có vấn đề quy kinh. Như vậy, có thể thấy, hiệu ứng lâm sàng của dược vật chính là cơ sở của lý luận quy kinh, mà hiệu ứng lâm sàng cũng chính là khởi nguồn của tác dụng dược lý của dược vật.
   b) Tương quan giữa tác dụng dược lý và quy kinh của dược vật
     Để khảo sát vấn đề này, các nhà y học cổ truyền Trung Quốc đã tiến hành một nghiên thống kê : trong số 429 vị thuốc đã quy kinh được ghi trong sách Trung dược học, căn cứ vào tác dụng dược lý thực nghiệm hiện đại và tác dụng lâm sàng y học cổ truyền, họ chọn ra những vị thuốc có tác dụng chống kinh quyết, tả hạ, chỉ huyết, chỉ khái, trừ đàm, bình suyễn, lợi niệu và phân thành từng nhóm riêng biệt có cùng tác dụng, gọi là nhóm nghiên cứu, các vị thuốc còn lại không cùng tác dụng được gọi là nhóm đối chứng. Tiến hành thống kê tần số quy kinh của từng nhóm rồi so sánh giữa hai nhóm với nhau để phát hiện mối tương quan. Kết quả nghiên cứu cho thấy, về cơ bản, tác dụng dược lý của dược vật và sự quy kinh của cổ nhân là thống nhất với nhau. Ví như, phân tích tần số quy kinh của 22 vị thuốc thuộc nhóm có tác dụng chống kinh quyết là câu đằng, kinh giới, phòng phong, thuyền thoái, tê giác, tảo hưu, long đởm thảo, bạch hoa xà, thiên trúc hoàng, từ thạch, long cốt, linh dương giác, thiên ma, toàn yết, ngô công, cương tàm, địa long, ngưu giác, thiên nam tinh, mông thạch và hùng đởm, nhận thấy tần số quy nhập vào kinh can và tần số quy kinh cao nhất  là tương đương, biểu thị 100% đều quy nhập kinh can. Đồng thời, so sánh với tần số quy nhập kinh can của 407 vị của nhóm đối chứng(42,9%) thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P< 0,001), chứng tỏ tác dụng chống kinh quyết và sự quy nhập kinh can của dược vật có mối tương quan rõ rệt, phù hợp với quan niệm “can chủ cân”, “chư phong điệu huyền, giai thuộc vu can” của y học cổ truyền.
     Tương tự như vậy, tần số quy nhập kinh đại trường của 18 vị thuộc nhóm có tác dụng tả hạ (đại hoàng, mang tiêu, lô hội, hoả ma nhân...) đạt 100%, phù hợp với lý luận “đại trường đạo dẫn chi phủ” ; tần số quy nhập kinh can của 21 vị thuộc nhóm chỉ huyết (đại hoàng, tiên hạc thảo, bạch cập, tam thất...) đạt 85,3%, phù hợp với lý luận “can tàng huyết” ; tấn số quy nhập kinh phế của 18 vị thuộc nhóm chỉ khái (hạnh nhân, bách bộ, bối mẫu...), 23 vị thuộc nhóm trừ đàm (cát cánh, tiền hồ, viễn trí...) và 13 vị thuộc nhóm bình suyễn (ma hoàng, địa long...) cũng đạt 100%, 100% và 95 %, so sánh với nhóm đối chứng cũng có sự khác biệt rõ rệt, phù hợp với lý luận “phế chủ hô hấp, vi trữ đàm chi quan” của y học cổ truyền. Có thể thấy, học thuyết quy kinh chính là cơ sở quan trọng để nhận biết công năng của lục phủ ngũ tạng, nói rõ phương pháp quy nạp tác dụng theo bộ vị của dược vật.
     Phân tích từng vị cũng cho thấy, ví như ma hoàng quy nhập kinh phế và bàng quang, nghiên cứu dược lý hiện đại đã chứng minh : ma hoàng có tác dụng bình suyễn, phát hãn, ức chế vi rút (phù hợp với quy kinh phế) và lợi niệu (phù hợp với quy kinh bàng quang) ; thiên ma có tác dụng trấn tĩnh, giáng áp, chống co giật, mà cao huyết áp sẽ gây ra đau đầu, hoa mắt, chóng mặt...thuộc can dương thượng cang, co giật thuộc can phong nội động, như vậy thiên ma quy kinh can là phù hợp ; các vị ôn thận trợ dương như nhung hươu, dâm dương hoắc, đông trùng hạ thảo...đều có tác dụng nâng cao năng lực hoạt động của tuyến sinh dục và vỏ thượng thận, quy nhập kinh thận là phù hợp.
     Điều cần lưu ý là, nhận thức về công dụng của dược vật không ngừng phát triển thì việc quy kinh dược vật cũng không phải là bất biến. Ví như, theo cổ nhân, phan tả diệp có công dụng tả nhiệt đạo trệ nên quy nhập kinh đại trường, nhưng lâm sàng hiện đại cho thấy vị thuốc này còn có khả năng trị liệu viêm tụy cấp tính, viêm túi mật, sỏi mật, viêm loét dạ dày tá tràng nên còn có thể quy nhập thêm vào kinh can, tỳ và vị. Bằng kỹ thuật siêu âm kiểm tra túi mật ở người bình thường sau khi cho uống nước sắc râu ngô, người ta nhận thấy: túi mật giãn to ra và tăng co bóp, chứng tỏ râu ngô có tác dụng làm tăng tiết dịch mật, bởi vậy, vị thuốc này nên quy nhập thêm vào hai kinh can và đởm.

                                                                                      Hoàng Khánh Toàn



 GIÁ TRỊ THỰC DỤNG CỦA QUY KINH DƯỢC VẬT


     Lý luận quy kinh dược vật đã gắn chặt học thuyết kinh lạc với thuốc y học cổ truyền, góp phần phát triển cơ sở lý luận của dược vật và kinh lạc, mở rộng phạm vi ứng dụng của thuốc và kinh lạc trên lâm sàng, thể hiện quy luật khách quan về tác dụng mang tính chọn lọc của dược vật đối với kinh lạc và tạng phủ. Đúng như sách Y học nguyên lưu luận đã viết : “Trị bệnh giả, tất tiên phân kinh lạc, tạng phủ chi sở tại...nhiên hậu tuyển hà kinh, hà tạng đối bệnh chi dược nhi trị chi, tự nhiên kiến hiệu hĩ...bất tri kinh lạc nhi dụng dược, tất vô tiệp hiệu”.
   2.1 Phát triển cơ sở lý luận dược vật học
     Trước khi có lý luận quy kinh, dược vật chỉ phân tứ khí, ngũ vị. Tứ khí chỉ có thể biểu thị đại thể thuộc tính âm dương của dược vật, ngũ vị chỉ có thể biểu thị đại thể công dụng và phân biệt vị khác nhau của dược vật, chứ không thể nói rõ quan hệ giữa tính năng và các tạng phủ, kinh lạc. Ví như, hoàng cầm, hoàng liên, tri mẫu, mộc thông...đều là những dược vật khổ hàn, có công năng thanh nhiệt tả hoả, nhưng để biết hoàng cầm thanh hoả ở phế và đại tràng, hoàng liên thanh hoả ở tâm và vị, tri mẫu tả hoả ở phế và thận, mộc thông tả hoả ở tâm và tiểu trường, nếu chỉ dùng lý luận tứ khí, ngũ vị thì không thể giải quyết được vấn đề mà phải dùng đến lý luận quy kinh dược vật.
   2.2 Chỉ đạo bào chế dược vật
     Bào chế thuốc là một trong những nội dung trọng yếu của dược vật học cổ truyền. Lý luận quy kinh dược vật cũng góp phần chỉ đạo và nâng cao hiệu quả của công tác bào chế. Ví như, hương phụ quy nhập kinh can, để nâng cao hiệu quả sơ can lý khí nên sao với dấm ; cam thảo quy nhập kinh tỳ, để nâng cao hiệu quả kiện tỳ, bổ trung ích khí nên sao với mật ; đỗ trọng, trạch tả và hoàng bá quy nhập kinh thận, để nâng cao hiệu quả trị liệu nên sao với muối...
   2.3 Căn cứ để lựa chọn dược vật trong trị liệu
     Vì dược vật tác động vào tạng phủ và kinh lạc có tính chọn lọc nên đó cũng là căn cứ để nâng cao hiệu quả trị liệu của dược vật. Ví như, bạch chỉ, khương hoạt, sài hồ và ngô thù du đều có tác dụng trị liệu đầu thống, nhưng bạch chỉ quy nhập kinh dương minh nên đầu thống dương minh nên chọn bạch chỉ ; khương hoạt quy nhập kinh thái dương nên đầu thông thái dương nên chọn khương hoạt ; sài hồ quy nhập kinh thiếu dương nên đầu thông thiếu dương nên chọn sài hồ ; ngô thù du quy nhập kinh quyết âm nên đầu thống quyết âm nên chọn ngô thù du. Lại như, thuốc hàn lương đều có tác dụng thanh nhiệt, nhưng do các vị thuốc quy kinh khác nhau nên khả năng thanh phế nhiệt, thanh vị nhiệt, thanh tâm nhiệt, thanh can nhiệt...cũng không giống nhau. Thạch cao quy nhập hai kinh phế và vị nên có sở trường thanh phế và vị nhiệt ; liên tử quy nhập kinh tâm nên có sở trường thanh tâm nhiệt ; long đởm thảo quy nhập kinh can nên có sở trường thanh can nhiệt...Trên thực tế lâm sàng, có thể vận dụng nguyên tắc đồng bệnh dị trị hoặc dị bệnh đồng trị nhưng khi thực hành cũng không thể bỏ qua lý luận quy kinh dược vật. Ví như, trong đồng bệnh dị trị, với chứng suyễn thuộc phế thực thì phải chọn những vị thuốc quy nhập kinh phế như ma hoàng, hạnh nhân...để tuyên phế, giáng khí, bình suyễn ; nếu thuộc thận hư thì phải chọn những vị thuốc quy nhập kinh thận như cáp giới, đông trùng hạ thảo...để bổ thận, nạp khí, bình suyễn. Với bệnh thủy thũng, nếu vì tỳ dương bất túc thì phải chọn bạch truật quy nạp kinh tỳ để kiện vận tỳ dương ; nếu vì nhiệt kết bàng quang, khí hóa bất lợi thì phải chọn trư linh quy nhập kinh bàng quang để thanh nhiệt lợi thấp ; nếu vì phế nhiệt ủng trệ, thủy đạo bất thông thì phải chọn thông thảo quy nhập kinh phế để dẫn nhiệt hạ hành. Trong dị bệnh đồng trị, với chứng thoát giang do cửu tả cửu lỵ, âm đĩnh do khí hư hạ hãm, di niệu do trung khí bất túc, băng huyết do tỳ bất thống huyết...đều phải chọn những vị thuốc quy nhập tỳ kinh như nhân sâm, hoàng kỳ, bạch linh, bạch truật, biển đậu, đại táo, thăng ma...để bổ trung ích khí, thăng dương cử hãm. 
   2.4 Chỉ đạo việc cấu tạo phương tễ
     Phương tễ do các vị thuốc hợp thành, là biểu hiện cụ thể của phép biện chứng dụng dược. Mỗi bệnh chứng của kinh lạc, tạng phủ đều phải có chủ phương, ví như Quế chi thang trong Thương hàn Thái dương bệnh, Lý trung thang trong Thái âm bệnh, Tứ nghịch tán trong phép sơ can lý khí, Lục vị địa hoàng hoàn trong phép tư âm bổ thận...Mỗi phương tễ lại có quân, thần, tá và sứ, trong đó quân dược phải có tác dụng sở tại, hay nói cách khác là phải quy nhập vào kinh lạc tạng phủ bị bệnh. Ví như, ma hoàng trong Ma hoàng thang, quế chi trong Quế chi thang đều quy nhập kinh phế và bàng quang, là chủ dược giải biểu. Lại như, Tả kim hoàn do hoàng liên và ngô thù du hợp thành, hoàng liên khổ hàn, ngô thù tân ôn, dược tính của hai vị bất đồng nhưng vì hoàng liên quy nhập hai kinh tâm và vị mà tả hỏa, giáng nghịch chỉ ẩu, ngô thù quy nhập hai kinh can và tỳ mà tán kết, hạ khí giáng nghịch nên hai vị phối hợp với nhau mà đạt hiệu quả tân khai khổ giáng, sơ can hòa vị rất tốt trong trị liệu chứng can khí uất kết, hoành phạm tỳ vị. Như vậy, nếu từ phương diện dược tính mà xét thì rất khó lý giải, nhưng vận dụng quy kinh dược vật để phân tích thì mọi việc trở nên rõ ràng.
     Trong cấu trúc phương tễ thường có những vị thuốc có tác dụng dẫn các vị thuốc khác đến vị trí bị bệnh (dẫn kinh phục sứ), được gọi là “sứ dược”. Nếu chữa bệnh ở phần trên cơ thể thì trong đơn kê phải có vị thuốc có tác dụng dẫn thuốc thượng hành. Ví như, khương hoạt quy nhập kinh thái dương, bạch chỉ quy nhập kinh dương minh, sài hồ quy nhập kinh thiếu dương...Bởi vậy, khi lập phương, các “sứ dược”, hay còn gọi là “dẫn kinh dược”, “hướng đạo dược” cũng phải là những vị thuốc được lựa chọn đầu tiên. Ví như, trong Thương hàn luận, Trương Trọng Cảnh rất thích dùng ma hoàng, thông bạch làm thuốc dẫn trong các phương tễ tân ôn giải biểu, và đó cũng là những chủ dược và vị thuốc được chọn lựa trước tiên. Về vấn đề này, Lý Đông Viên cũng có những kinh nghiệm rất quý báu.
     Ví như, với thái dương kinh chứng, trên lấy khương hoạt làm chủ, dưới dùng hoàng bá ; với dương minh kinh chứng, trên lấy bạch chỉ, thăng ma làm chủ, dưới dùng thạch cao ; với thiếu dương kinh chứng, trên lấy sài hồ làm chủ, dưới dùng thanh bì ; với thái âm kinh chứng, trên lấy cát cánh làm chủ, dưới dùng bạch thược ; với thiếu âm kinh chứng, trên lấy độc hoạt làm chủ, dưới dùng tri mẫu ; với quyết âm kinh chứng, trên lấy sài hồ hoặc xuyên khung làm chủ, dưới dùng thanh bì hoặc ngô thù du. Trong Thang dịch bản thảo, Lý Đông Viên cũng đã ghi lại nhiều kinh nghiệm dùng thuốc dẫn. Ví như, đau đầu trước hết phải dùng xuyên khung, nếu không đỡ thì thái dương dùng mạn kinh tử, dương minh dùng bạch chỉ, thiếu dương dùng sài hồ, thái âm dùng thương truật, thiếu âm dùng tế tân, quyết âm dùng ngô thù du. Trong Thanh vị tán trị liệu chảy máu chân răng, Ông lấy hoàng liên, sinh địa, đan bì để thanh vị nhiệt, lấy thăng ma làm dẫn kinh dược. Trong Phổ tế tiêu độc ẩm trị liệu chứng đại đầu ôn, Ông lấy hoàng cầm, hoàng liên khổ hàn thông giáng, lấy thăng ma, sài hồ làm dẫn kinh dược.
     Ngoài ra, trong trị liệu phong thấp tý thống ở tứ chi, trên nguyên tắc khứ phong trừ thấp, thông lợi kinh lạc, Lý Đông Viên cũng căn cứ vào vị trí kinh lạc tạng phủ bị bệnh khác nhau mà lựa chọn các dẫn dược cho phù hợp. Nếu thuộc kinh dương minh thì lấy thăng ma, bạch chỉ, cát căn để dẫn ; nếu thuộc kinh thái dương thì lấy cảo bản, khương hoạt để dẫn ; nếu thuộc kinh thiếu dương thì lấy sài hồ để dẫn ; nếu thuộc kinh thái âm thì lấy thăng ma, bạch chỉ, thông bạch để dẫn ; nếu thuộc kinh thiếu âm thì lấy tế tân, độc hoạt để dẫn ; nếu thuộc kinh quyết âm thì lấy sài hồ, thanh bì để dẫn.
   2.5 Mở rộng phạm vi trị liệu của dược vật
     Thuốc uống trong vừa trị bệnh nội tạng lại vừa có thể chữa bệnh ở thể biểu là nhờ ở công năng dẫn truyền dược vật của kinh lạc thông qua các dẫn dược. Với lý luận quy kinh dược vật, phạm vi trị liệu của không ít bài thuốc, vị thuốc đã được mở rộng. Ví như, theo y văn kinh điển, sài hồ chưa bao giờ được dùng để trị liệu chứng nhãn khẩu oa tà, nhưng hiện nay trên lâm sàng đã dùng có hiệu quả chính là dựa trên cơ sở sài hồ quy nhập kinh can, mà kinh can lại có nhánh đi từ tổ chức mạch quanh mắt xuống má rồi vòng vào trong môi. Lục vị địa hoàng hoàn là phương tễ thường dùng để tư bổ thận âm, nhưng hiện nay còn được dùng để chữa chứng đau nhức gót chân và mắt cá do thoái hoá mọc gai xương có hiệu quả là vì kinh thận bắt đầu từ mặt dưới ngón chân út đi vào lòng bàn chân, dọc dưới xương thuyền phía trong bàn chân, đi sau mắt cá trong, vòng xuống gót rồi ngược lên bắp chân.
     Lý luận quy kinh dược vật được dùng để chỉ thế mạnh của mỗi vị thuốc ở một phương diện nào đó, ngoài phương diện đó ra thuốc còn có những tác dụng trị liệu khác. Trong thời đại hiện nay, dưới ánh sáng của khoa học hiện đại, nhiều công dụng mới của thuốc được phát hiện như chống viêm, giảm đau, giải mẫn cảm, sát trùng, cải thiện miễn dịch, hạ áp, kháng ung...nên việc nghiên cứu dùng lý luận quy kinh để làm rõ mọi vấn đề là rất khó và cũng rất cần thiết.

                                                                                   Hoàng Khánh Toàn



Quy kinh dược vật

PHƯƠNG PHÁP QUY KINH DƯỢC VẬT


     Quy kinh dược vật là một trong những bộ phận trọng yếu của lý luận dược tính của thuốc y học cổ truyền. Có thể coi đó là một học thuyết nghiên cứu về tác dụng mang tính chọn lọc của thuốc đối với các kinh lạc để nhằm quy nạp tính năng dược vật. Tuy nhiên, nhận thức về quy kinh không phải chỉ giản đơn là xem xét dược vật quy nhập vào đường kinh nào mà còn bao gồm cả các tạng phủ, cơ quan trong một chỉnh thể thống nhất. Ví như ma hoàng có công năng sơ điều bì mao tấu lý, phát tán biểu tà, lại có khả năng tuyên phế bình suyễn, khai thông tỵ khiếu, tác dụng mang tính chỉnh thể đối với phế hệ nên quy nhập vào kinh phế. Thực chất của quy kinh bao gồm hai phương diện quy thuộc (định vị) và chiều hướng (định hướng). Kinh lạc là chỗ dựa để phân biệt bộ vị bệnh tật sở tại lại vừa là con đường dược vật quy tụ tới.
     Quy kinh dược vật là sự tổng kết kinh nghiệm dùng thuốc của cổ nhân từ hàng ngàn đời nay, chủ yếu có ba phương pháp : quy kinh theo lý luận ngũ hành, quy kinh theo đặc điểm của dược vật và quy kinh theo thực tiễn lâm sàng.

   1.1 Quy kinh theo lý luận ngũ hành
     Rất nhiều dược vật được quy kinh thông qua ngũ sắc, ngũ vị, ngũ hành sở thuộc của bản thân dược vật. Thiên Cửu châm luận sách Linh khu viết : “Ngũ vị sở nhập, toan nhập can, tân nhập phế, khổ nhập tâm, cam nhập tỳ, hàm nhập thận”. Ví như, thanh bì sắc xanh, toan táo nhân vị chua, ngũ hành đều thuộc mộc, quy nhập hai kinh can và đởm ; xích tiểu đậu sắc đỏ, khổ sâm vị đắng, ngũ hành đều thuộc hoả, quy nhập hai kinh tâm và tiểu trường ; sinh khương sắc vàng, cam thảo vị ngọt, ngũ hành đều thuộc thổ, quy nhập hai kinh tỳ và vị ; hạnh nhân sắc trắng, mộc hương vị cay, ngũ hành đều thuộc kim, quy nhập hai kinh phế và đại trường ; khương hoạt sắc đen, tri mẫu sao muối vị mặn, ngũ hành đều thuộc thuỷ, quy nhập hai kinh thận và bàng quang...
     Đương nhiên, quy kinh theo lý luận ngũ hành không phải là tuyệt đối. Ví như, ma hoàng sắc vàng nhưng không nhập kinh tỳ mà lại lấy vị cay để quy thuộc kinh phế ; bạch chỉ sắc trắng không nhập kinh phế mà lại lấy vị ngọt để quy nhập kinh tỳ ; bạch cập vị đắng không nhập kinh tâm mà lại lấy sắc trắng để quy nhập kinh phế ; lonh đởm thảo vị đắng không nhập kinh tâm mà lại lấy công năng tả hoả ở can đởm để quy nhập kinh can và đởm...Thiên Tạng khí pháp thời luận sách Tố vấn viết : “Can khổ cấp, cấp thực cam dĩ hoãn chi”, “can dục tán, cấp thực tân dĩ tán chi”. Theo ngũ hành phân thuộc, vị ngọt chủ yếu nhập tỳ, nhưng vì dược vật vị ngọt có tác dụng hoãn giải các cơn co giật nên chứng can kinh cũng có thể dùng thuốc vị ngọt để hoãn giải ; vị cay chủ yếu nhập phế nhưng vì dược vật vị cay lại có tác dụng phát tán nên chứng can khí uất trệ cũng có thể dùng thuốc vị cay để tân tán. Như vậy, dược vật nhập kinh can không chỉ bó hẹp ở những loại có vị chua mà nhiều loại vị ngọt và cay cũng có thể quy nhập kinh can. Thiên Chí chân yếu đại luận sách Tố vấn đã viết : “Toan tiên nhập can, khổ tiên nhập tâm, cam tiên nhập tỳ, tân tiên nhập phế, hàm tiên nhập thận”. Trước tiên, đầu tiên, chủ yếu quy nhập vào kinh này nhưng không có nghĩa là loại trừ sự quy nhập các kinh khác.

   1.2 Quy kinh theo đặc điểm dược vật
     Để quy kinh dược vật cổ nhân còn dựa vào những đặc điểm của chính những dược vật đó. Ví như, liên kiều có hình dáng giống như tạng tâm nên quy nhập vào kinh tâm ; đăng tâm thảo thể chất nhẹ nổi nên quy nhập vào hai kinh tâm và phế ở thượng tiêu ; từ thạch trầm nặng nên quy vào hai kinh can và thận ở hạ tiêu. Đương nhiên phương pháp quy kinh này cũng không phải là tuyệt đối, ví như biển đậu hình dáng rất giống tạng thận nhưng lại quy nhập vào kinh tỳ ; tô tử thể chất trầm nặng nhưng lại quy nhập vào kinh phế ở thượng tiêu.

   1.3 Quy kinh theo thực tiễn lâm sàng
     Đây là phương pháp quy kinh thường dùng nhất và khoa học nhất, khắc phục được những bất cập của hai phương pháp quy kinh nên trên. Ví như, hạnh nhân, cát cánh có công năng chỉ khái bình suyễn nên quy nhập vào kinh phế ; sài hồ, thanh bì có công năng sơ can lý khí nên quy nhập vào kinh can ; sinh khương và bán hạ có công năng giáng nghịch chỉ ẩu nên quy nhập vào kinh vị ; chu sa và táo nhân có công năng an thần định chí nên quy nhập vào kinh tâm ; ma hoàng và quế chi có công năng phát biểu ở thái dương nên quy nhập vào kinh thái dương ; thạch cao và tri mẫu có công năng thanh nhiệt ở dương kinh nên quy nhập vào kinh dương minh...Đó là phương thức quy kinh trực tiếp căn cứ vào công năng của dược vật. Bổ cốt chi có công năng trị liệu chứng cửu tiết do tỳ dương bất túc và mệnh môn hoả suy, bệnh tuy ở đại tràng nhưng bệnh nguyên ở tỳ và thận nên quy nhập vào kinh tỳ và thận ; phúc bồn tử có công năng trị liệu chứng di niệu do thận khí bất túc, bệnh tại bàng quang  nhưng bệnh nguyên tại thận nên quy vào kinh thận...Đó là phương thức quy kinh gián tiếp căn cứ vào công năng của dược vật. Tục đoạn có công năng tiếp cốt liên cân, cân cốt là do can và thận làm chủ nên quy nhập vào hai kinh can và thận ; thuốc khu trùng phần lớn quy vào kinh tỳ, vì tỳ chủ thấp, bệnh trùng đa phần do thấp sinh, vả lại “chư thống dương sang, giai thuộc vu tâm”. Đó là phương pháp quy kinh dựa vào tương quan tác dụng của dược vật. Ngoài ra, còn có phương pháp quy kinh dựa vào định hướng chọn lọc đặc thù của dược vật đối với mỗi kinh kạc, tạng phủ.

                                                                                  Hoàng Khánh Toàn


Magiê, chất khoáng cần thiết

MAGIÊ, KHOÁNG CHẤT CẦN THIẾT CHO CƠ THỂ

     Khi nói đến các khoáng chất đa lượng trong cơ thể, chúng ta thường chỉ đề cập nhiều đến các chất như Canxi, Kali, Natri, Phospho mà ít bàn đến một khoáng chất không kém phần quan trọng đối với cơ thể là Magiê (Mg). Sự có mặt của Mg trong cơ thể sống lần đầu tiên được mô tả năm 1858, những chức năng quan trọng của khoáng chất này đối với cơ thể con người được tìm ra sau năm 1950 và ngày nay Mg được coi là một trong những khoáng chất cơ bản trong nhân thể.
1. Phân bố
     Khi sinh ra, con người có khoảng 0,5g Mg, chúng được truyền từ mẹ sang con chủ yếu trong giai đoạn sau của thai kyfNam trưởng thành chứa khoảng 40g Mg, 60% trong số đó ở trong xương. Trong huyết tương có khoảng 1% lượng Mg của cơ thể, chỉ đứng sau Natri. Một nửa trong số Mg này ở dưới dạng ion tự do, 1/3 gắn với albumin, phần còn lại tham gia vào nhiều thành phần khác. Trong các mô mềm, Mg tập trung nhiều ở trong tế bào hơn ngoài tế bào.
2. Chức năng
     Magiê có vai trò sống còn trong hàng trăm các phản ứng sinh hóa trong cơ thể. Trong đó có những giai đoạn chủ chốt của việc tích trữ và sử dụng năng lượng, chuyển hóa đường, béo, đạm và acid nucleic. Ở gian bào, Mg đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn truyền xung động thần kinh và co cơ. Thiếu nó sẽ bị đau đầu, co cứng cơ, rối loạn các hoạt động cơ. Vì lý do này, từ rất lâu người ta đã dùng magnesium chữa chứng đau đầu, an thần, chống các stress. Ngày nay, magnesium còn được dùng chống đau bụng kinh, điều hoà kinh nguyệt, chống táo bón...
     Tác dụng này của Mg đối lập với Canxi (Ca), Ca kích thích cơ cơ, Mg làm giãn cơ. Tác dụng đối lập của Mg và Ca còn được thể hiện trong hấp thu và bài tiết : nếu một trong các ion này được hấp thu hoặc tăng tiết thì ion kia sẽ bị giảm hấp thu hoặc bài tiết với một tỷ lệ tương ứng.
     Magiê cần thiết cho việc bài tiết hormone tuyến cận giáp và hoạt động của nó trên thận, xương và ruột non. Chúng còn tham gia vào các phản ứng chuyển đổi vitamin D thành dạng hoạt động sinh học. Sự có mặt của Mg cần thiết cho sự chuyển hóa của Ca, p, Na, K và một số vitamin nhóm B. Vì lẽ này mà Mg giúp cho hệ xương, răng khoẻ mạnh và ngăn không cho calcium lắng đọng thành sỏi thận, sỏi
 Mật, gai cột sống.
3. Hấp thu và chuyển hóa
     Magiê được hấp thu tại ruột non với sự phối hợp của một chất vận chuyển đặc hiệu.Khoảng 35-40% lượng Mg trong chế dộ ăn được hấp thu, tỷ lệ hấp thu cao hơn  với khẩu phần chứa ít Mg và ngược lại. Hiệu quả hấp thu bị giảm khi có mặt của Ca, Alcohol, phosphate và chất béo, ngược lại hấp thu được tăng cường khi có mặt của vitamin D. Thận có vai trò quan trọng trong điều hòa Mg : tăng tái hấp thu khi Mg khẩu phần ăn thấp, tăng bài tiết khi khẩu phần nhiều Mg. Mg bị mất nhiều qua thận khi tiêu thụ Alcochol và thuốc lợi tiểu.
4. Thiếu hụt
     Thiếu hụt do khẩu phần ăn rất hiếm do chức năng tự điều hòa của thận. Bệnh thiếu hụt Mg có thể xuất hiện do đói ăn kéo dài, nôn kéo dài, chấn thương ngoại khoa, Ca trong khẩu phần ăn quá cao, bệnh tiêu chảy do thức ăn đi qua đường tiêu hóa quá nhanh.
     Hội chứng của mức Mg trong huyết tương thấp là dễ bị kích thích, căng thẳng thần kinh, co giật , chuột rút, kết quả của tăng kích thích thần kinh, tăng co bóp cơ. Một trong những dạng thiếu Mg được biết rõ là dạng giật cứng do Mg thấp, dấu hiệu này thường xuất hiện khi chế độ ăn kém Mg kèm theo những điều kiện tăng bài tiết và kém hấp thu Mg.
     Một trong những hậu quả của thiếu hụt Mg ít được chú ý là tăng Ca trong các mô mềm, tăng tạo sỏi thận. Thiếu Mg còn gây giãn mạch, làm xuất hiện các vết rạn đỏ trên mặt da. Gần đây, việc nghiên cứu và phân tích Mg chính xác hơn cho thấy giảm Mg huyết có thể liên quan đến một số trường hợp đột tử.
5. Đối tượng cần bổ sung Mg
     Những đối tượng sau đây được khuyến cáo bổ sung: người nghiện rượu bia; người hoạt động cần nhiều năng lượng (vận động viên, làm việc chân tay nặng); người đang dùng viên ngừa thai chứa estrogen; người bị bệnh tiểu đường týp II, tăng huyết áp; người lớn tuổi (trong đó có người mãn kinh) bị bệnh tim mạch. Những người có bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp tim mạch khi dùng thức ăn giàu Mg hay thuốc chứa Mg cần tham khảo ý kiến thầy thuốc.
6. Nguồn thực phẩm cung cấp Mg
     Magiê có mặt ở hầu hết các loại thực phẩm. Rau quả là nguồn nhiều Mg nhất. Mgiê còn là thành phần tạo clorophyl, màu xanh đậm của lá cây tham gia vào việc thu năng lượng mặt trời trong quá trình quang hợp. Rau lá xanh là nguồn cung cấp Mg chủ yếu cho cơ thể. Khoảng 80% Mg ở hạt ngũ cốc bị mất đi trong xay xát. Nước uống có thể chứa 1-16ppm tùy thuộc vào nước mềm hoặc nước cứng, chúng cung cấp khoảng 1/5 lượng Mg tiêu thụ hàng ngày. Nước biển có hàm lượng Mg cao (1300ppm) nhưng thường kèm theo Na.
     Theo tài liệu dinh dưỡng học của Trung Quốc, những thực phẩm có hàm lượng Mg cao (mg/100g thực phẩm) là : dương đào 99,4, măng khô 33, cùi nhãn tươi 98, chuối tiêu 45, chuối lá 36, dứa 45,2, hạt dẻ 41,9, rau chân vịt 34,3, rau dền xanh 87,7, rau dền đỏ 60,5, hoa hồi 45,2, rau cần (lá) 45,4, củ từ 33,1, ngồng cải trắng 36,1, gạo tẻ 63, gạo nếp 45,5, bột mì loại 1 51,1, bánh bao không nhân 48,2, đại mạch 68,3, kê vàng 55,9, kê thường 93,1, ngô vàng 60, ngô trắng 93,4, bột ngô 75,2, hạt cao lương đỏ 53,8, bột cao lương đỏ 94, đậu tương 173, vỏ đậu xanh 184,4, đậu đen 157,3, đậu đỏ nhỏ 126,7, đậu xanh 147,8, đậu đũa 193,8, đậu hà lan 125,4, kỷ tử 92, đậu rán 155,8, đậu phụ khô 118,3, óc đậu 174,9, giá đậu tương 56, khoai lang khô 80,6, bột khoai lang 79,1, ớt khô 220, rau kim châm 49, dưa cải ớt 56, nấm khô 140, nấm đông cô 120, tảo biển 460, cá diếc 31, tương đậu 78,4, tương vừng 320,5, xì dầu loại I 49,5, xì dầu loại II 87,7.


                                                                                   Hoàng Khánh Toàn

Hoa chữa chứng đau đầu

HOA CHỮA CHỨNG ĐAU ĐẦU


     Đau đầu là một chứng trạng thường gặp trong nhiều bệnh lý khác nhau, đặc biệt là các bệnh thuộc hệ thần kinh trung ương. Trong y học cổ truyền, đau đầu được gọi là “đầu thống” gây nên bởi ngoại cảm hoặc nội thương tạp bệnh và được phân ra thành nhiều thể bệnh như :
- Thể Phong hàn : đầu căng đau, phát sốt, sợ lạnh, tắc mũi, chảy nước mũi, không khát, tiểu tiện trong dài, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù khẩn.
- Thể Phong nhiệt : đầu và mắt đau chướng, phát sốt, sợ gió, miệng khát họng đau, tiểu tiện vàng, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch phù sác.
- Thể Phong thấp : đầu đau nặng như đeo đá, chân tay mỏi nặng, ngực bụng đầy chướng, tiểu tiện bất lợi, đại tiện lỏng, rêu lưỡi trắng dính, mạch nhu
- Thể Can dương thượng cang : thường đau nửa đầu, đau chướng giật, dễ cáu giận, giác ngủ bất an, chóng mặt, đau hai bên sườn, mặt đỏ, miệng đắng, mạch huyền hữu lực.
- Thể Đàm trọc : đầu đau nặng, có cảm giác u ám, chóng mặt, ngực bụng đầy chướng, buồn nôn hoặc nôn ra đờm rãi, rêu lưỡi trắng dính, mạch huyền hoạt.
- Thể Khí hư : đầu đau âm ỉ, tăng lên khi suy nghĩ nhiều, thường vào buổi sáng, toàn thân mệt mỏi như mất sức, ăn kém, có cảm giác khó thở, sợ lạnh, chất lưỡi nhợt, mạch tế vô lực.
- Thể Huyết hư : đầu đau triền mien, môi mặt nhợt nhạt, hồi hộp trống ngực, nhịp tim nhanh, mắt mờ, tức ngực trái, chất lưỡi nhợt, mạch hư sáp.
- Thể Thận hư : đầu đau có cảm giác như trống rỗng, có tiếng ve kêu trong não, hoa mắt chóng mặt, tai ù, tai điếc, đầu gối yếu mỏi, lưng đau, di tinh, liệt dương ở nam, khí hư nhiều ở nữ, chất lưỡi hồng hoặc nhợt, mạch tế vi vô lực.
     Về điều trị, trên nguyên tắc toàn diện và biện chứng, sử dụng các biện pháp không dùng thuốc và dùng thuốc, trong đó có một liệu pháp rất độc đáo là lựa chọn các loại hoa đơn  thuần hoặc phối hợp với các vị thuốc làm phương thang để trị liệu. Dưới đây, xin được dẫn ra một số ví dụ điển hình :
+ Cúc hoa trắng 100g, rượu trắng 1000 ml. Cúc hoa loại bỏ tạp chất, cho vào túi vải buộc kín miệng rồi đem ngâm trong bình rượu trắng, sau 7 ngày thì dùng được, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 15-20 ml. Công dụng : thanh can minh mục, sơ phong giải độc, dùng thích hợp cho trường hợp đau đầu kinh niên, hay tái phát, hoa mắt, mờ mát, bụng ngực bồn chồn không yên.
+ Cúc hoa dại (dã cúc hoa) 10g, lá dâu 10g, đạm đậu xị 15g, ba vị tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : sơ phong tán nhiệt, thanh can giải độc, dùng tốt cho đau đầu thể Phong nhiệt.
+ Cúc hoa 10g, thục địa 15g, kỷ tử 15g, ba vị tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : bổ thận dưỡng can, bổ huyết tán phong . Dùng thích hợp cho đau đầu thể Can dương thượng cang.
+ Cúc hoa 10g, long tỉnh trà (một loại trà của Trung Quốc, nếu không có dùng trà khô thường dùng thay thế) 3g, hãm uống thay trà trong ngày. Công dụng : sơ tán phong nhiệt, thanh can minh mục, dùng tốt cho đau đầu thể Can dương thượng cang.
+ Hạnh nhân 6g, cúc hoa 6g. Hạnh nhân bỏ vỏ và đầu nhọn giã nát rồi đêm hãm với nước sôi cùng cúc hoa trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : khứ phong thanh nhiệt, dùng cho đau đầu thể Phong nhiệt.
+ Cúc hoa 30g, lá dâu phơi sương 30g, vừng đen 30g, các vị tán vụn, hãm với nước sôi uống thay trà trong ngày. Công dụng : khứ phong thanh nhiệt, bồi bổ can thận, dùng cho đau đầu thể Phong nhiệt và Can dương thượng cang.
+ Hoa hồng 4-5 bông, hoa đậu răng ngựa 12g, hãm uống thay trà trong ngày. Công dụng : lý khí hoạt huyết, bình can khứ phong, thích hợp cho đau đầu thể Can dương thượng cang.
+ Cúc hoa 9g, bạch chỉ 9g, hãm với nước sôi, uống thay trà trong ngày. Công dụng : khứ phong thắng thấp, chỉ thống, dùng thích hợp cho đau đầu thể Phong thấp.
+ Cúc hoa 100g, kỷ tử 50g, rượu vàng 500 ml, mật ong lượng vừa đủ. Đem cúc hoa và kỷ tử ngâm rượu vàng trong 15 n gày rồi chắt ra, hòa thêm mật ong, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 3-5 thì cà phê. Công dụng : bổ âm thanh nhiệt, sơ phong chỉ thống, dùng thích hợp cho đau đầu thể Can dương thượng cang.
+ Hoa đỗ quyên tươi lượng vừa đủ, giã nát, đắp vào phía sau gáy hoặc vị trí đau trong 3 giờ, mỗi ngày 1 lần. Công dụng : khứ phong, trừ thấp, chỉ thống, thích hợp với đau đầu thể Phong nhiệt hoặc Phong thấp.
+ Mã tiên thảo (cỏ roi ngựa) 20g, thiên nhật hông hoa (hoa cúc bách nhật) 10g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Công dụng : thanh nhiệt, tán ứ, chỉ thống, dùng cho đau đầu thể Phong nhiệt.
+ Hoa thủy tiên 5g, cúc hoa 15g, hãm uống thay trà trong ngày. Công dụng : sơ phong thanh nhiệt, trừ thấp tiêu thũng, dùng cho đau đầu thể Phong nhiệt.
+ Thanh tương hoa (dã kê quan hoa hay hoa cúc dại) 150g, sấy khô, tán bột, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 10g với nước ấm. Công dụng : thanh can lương huyết, minh mục chỉ thống, dùng cho đau đầu thể Phong nhiệt và Can dương thượng cang. Hoặc dùng hoa mào gà dại 5g và cúc hoa 5g hãm uống hàng ngày.
+ Kim ngân hoa 20g, cúc hoa 20g, sơn tra 15g, lá dâu 15g, các vị tán vụn, hãm với nước sôi, uống thay trà trong ngày. Công dụng : bình can tiềm dương, lý khí chỉ thống, hạ áp, dùng cho đau đầu thể can dương thượng cang dẫn đến cao huyết áp, rối loạn tiền đình.
+ Ngọc lan hoa trắng 8 cái, hoa nhài 10 cái, lá hoa sen 20g. Tất cả rửa sạch cho vào ấm đổ 550ml nước, sắc còn 250ml, chia làm 3 lần uống trong ngày.
+ Hoa hồng 4-5 bông, hoa đậu răng ngựa 12g, hãm uống thay trà trong ngày. Công dụng : nhu can tỉnh tỳ, lương huyết giáng áp, dùng cho thể Can dương thượng cang.
+ Bạch cúc 9g, hoa nhài 3g, rau má 10g, cúc bách nhật 5g, sắc uống mỗi ngày 1 thang, chia 3 lần trong ngày.
    + Lấy 1-2 bông hoa hướng dương, thêm đường phèn vừa đủ đem nấu nước uống. Hoặc lấy 60g hoa hướng dương đem nấu nước để uống hoặc lấy nước nấu đem hòa với 2 cái lòng đỏ trứng gà để uống.
    + Hoa nhài và hoa cúc mỗi vị 6g, hãm uống thay trà trong ngày.
     + Hoa cúc bách nhật 9g, mã tiền thảo 12g, sắc uống. Hoặc hoa cúc bách nhật 6g, câu đằng 6g, cương tàm 6g, cúc hoa 10g, sắc uống, dùng cho đau đầu thể Phong nhiệt hóa hỏa.
    + Hoa cốc tinh thảo tán nhỏ trộn với hồ dán vào nơi đau hoặc dùng hoa cốc tinh thảo, địa long, nhũ hương tán nhỏ rồi đốt lấy khói hun vào lỗ mũi bên nhức đầu.
+ Tân di hoa 3,6g, lá tía tô 12g, hãm với nước sôi uống thay trà trong ngày, dùng cho đau đầu do cảm mạo (thể Phong hàn, Phong nhiệt và Phong thấp).
+ Hoa thược dược tươi 4 bông, thịt lợn ba chỉ 300g, cà rốt 30g, dưa chuột 30g, tương cà chua 25g, xì dầu 20 ml, rượu vàng 15 ml, đường trắng 15g, giấm ăn, muối gia vị, hạt tiêu vừa đủ. Hoa thược dược chần qua nước sôi ; cà rốt và dưa chuột rửa sạch, thái miếng ; thịt ba chỉ rửa sạch thái miếng dầy 4 mm, cho vào nồi, ướp với đường, muối, rượu, xì dầu, gia vị  và một ít nước, đun sôi trên bếp trong 2 giờ. Tiếp đó, chắt nước thịt ra nồi khác, bỏ dưa chuột, cà rốt, tương cà chua, gia vị vào đun chín rồi đổ thịt vào, rắc hoa thược dược lên trên, đun thêm một lát là được, múc ra đĩa, rắc hạt tiêu, ăn nóng. Công dụng : Dưỡng huyết nhu can, noãn trung chỉ thống, dùng cho đau đầu thể Huyết hư, Khí hư.
+ Hoa hòe non 200g, đậu phụ 250g, gừng tươi thái chỉ, hành hoa, rau mùi, giám ăn, nước canh gà và gia vị vừa đủ. Hòe hoa rửa sạch, để ráo nước ; rau mùi rửa sạch, cắt đoạn, đậu phụ thái miếng. Đặt nồi lên bếp, đổ dầu thực vật vào đun nóng già, cho gừng và hành hoa vào đảo nhanh tay rồi đổ nước canh gà vào cùng với đậu phụ, đun lửa to, vớt bỏ bọt rồi vặn nhỏ lửa đun trong 5-7 phút, tiếp đó cho hoa hòe cùng gia vị vào, đun thêm vài dạo là được, ăn nóng. Công dụng : thanh can giáng hỏa, lương huyết chỉ huyết, dùng cho đau đàu thể Can dương thượng cang.

                                                                                      Hoàng Khánh Toàn





Thứ Năm, ngày 25 tháng 9 năm 2014

Chất khoáng vi lượng

VAI TRÒ CỦA CHẤT KHOÁNG VI LƯỢNG

 

     Nguyên tố vi lượng còn được gọi là “ánh sáng của cuộc sống”. Mỗi thành viên trong dòng họ nguyên tố vi lượng đều có chức năng và tác dụng riêng của mình. Ví dụ crôm có tác dụng cải thiện, phòng ngừa và chữa trị bệnh xơ cứng động mạch vành, làm giảm chất cholesterol, còn iốt thì có tác dụng rõ rệt đối với hệ thống tuần hoàn và hoạt động cơ bắp…Danh sách các vi khoáng quan trọng trong cơ thể gồm : sắt, kẽm, đồng, iod, selen, mangan, molybden, cobal, crom
1. Sắt (Fe)
     Sắt có vai trò rất cần thiết đối với mọi cơ thể sống, ngoại trừ một số vi khuẩn. Nó chủ yếu liên kết ổn định bên trong các protein kim loại, vì trong dạng tự do nó sinh ra các gốc tự do nói chung là độc với các tế bào. Nói rằng sắt tự do không có nghĩa là nó tự do di chuyển trong các chất lỏng trong cơ thể. Sắt liên kết chặt chẽ với mọi phân tử sinh học vì thế nó sẽ gắn với các màng tế bào, acid nucleic, protein…
     Sắt là yếu tố vi lượng cổ xưa nhất được nghiên cứu. Mặc dù hiện diện trong cơ thể với một lượng rất nhỏ nhưng nó rất cần thiết cho sự sống: (1) Chức năng hô hấp: tạo nên hemoglobin để vận chuyển ôxy từ phổi về tất cả các cơ quan. (2) Tham dự vào quá trình tạo thành myoglobin, sắc tố hô hấp của cơ cũng như tạo thành đặc tính dự trữ oxy của cơ. (3) Sắt bị oxy hóa và khử dễ dàng, nó tham gia vào cấu tạo của nhiều enzyme. Đặc biệt trong chuỗi hô hấp, sắt đóng vai trò vận chuyển điện tích. (4) Tạo tế bào hồng cầu.
     Thức ăn chứa nhiều sắt và dễ hấp thu là các loại như : gan, tiết, tim, bầu dục, các loại thịt màu đỏ. Thức ăn giàu sắt nhưng khó hấp thu hơn như lòng đỏ trứng, cá, tôm, cua, sò, hến, vừng, bột mỳ, rau xanh, các loại đậu, mộc nhĩ đen, men…
2. Kẽm (Zn)
     Có khoảng 100 loại enzyme cần có Kẽm để hình thành các phản ứng hóa học trong tế bào. Trong cơ thể có khoảng 2-3 gam Kẽm, hiện diện trong hầu hết các loại tế bào và các bộ phận của cơ thể, nhưng nhiều nhất tại gan, thận, lá lách, xương, ngọc hành, tinh hoàn, da, tóc móng. Mất đi 1 lượng nhỏ Kẽm có thể làm đàn ông sụt cân, giảm khả năng tình dục và có thể mắc bệnh vô sinh. Đàn ông khỏe mạnh mỗi lần xuất tinh chứa khoảng 1 mg chất này. Phụ nữ có thai thiếu Kẽm sẽ giảm trọng lượng trẻ sơ sinh, thậm chí có thể bị lưu thai. Thiếu chất Kẽm đưa đến chậm lớn, bộ phận sinh dục teo nhỏ, dễ bị các bệnh ngoài da, giảm khả năng đề kháng, …
     Một số người có vị giác hay khứu giác bất thường do thiếu Kẽm, điều này giải thích tại sao một số các loại thuốc chống kém ăn, điều trị biếng ăn có thành phần chứa Kẽm. Kẽm cần thiết cho thị lực, còn giúp cơ thể chống lại bệnh tật. Kích thích tổng hợp protein, giúp tế bào hấp thu chất đạm để tổng hợp tế báo mới, tăng liền sẹo. Bạch cầu cần có Kẽm để chống lại nhiễm trùng và ung thư. Ở đàn ông, kẽm rất quan trọng trong việc sản xuất tinh dịch. Tới 5 mg kẽm bị mất đi trong quá trình xuất tinh. Thiếu hụt kẽm ở đàn ông có thể dẫn tới giảm lượng tinh trùng và tần xuất tình dục. Sự xuất tinh thường xuyên có thể dẫn tới thiếu hụt kẽm. Nhu cầu về Kẽm hàng ngày khoảng 10 -15 mg.
     Nguồn thức ăn nhiều Kẽm là từ động vật như sò, hàu, thịt bò, cừu, gà và lợn nạc, sữa, trứng, cá, tôm, cua,  mầm lúa mì, hạt bí ngô, ca cao và sô cô la, các loại hạt (nhất là hạt điều), nấm, đậu, hoa anh đào, hạnh nhân, táo, lá chè xanh …
3. Iod
     Là một vi chất có mặt trong cơ thể với một lượng rất nhỏ, khoảng 0,00004% trọng lượng cơ thể (15-23 mg), trong đó 75% tập trung ở tuyến giáp để tổng hợp hormone giáp trạng. Chức năng quan trọng nhất của iod là tham gia tạo hormone tuyến giáp T3 và T4. Hormon này có vai trò quan trọng trong việc điều hòa phát triển cơ thể. Nó kích thích quá trình chuyển hóa tới 30%, tăng sử dụng oxy và làm tăng nhịp tim. Hoạt động của hormone tuyến giáp là tối cần thiết cho sự phát triển bình thường của não. Ngoài ra nó còn có vai trò quan trọng trong việc chuyển beta-caroten thành vitamin A, tổng hợp protein, hấp thu chất bột đường trong ruột non, điều hòa lượng cholesterol trong máu và tham gia vào quá trình sinh sản.
     Nguồn thức ăn có nhiều kẽm như các món hải sản, cá biển, tôm biển, các động vật nhuyễn thể, các loại rau tảo biển…đặc biệt hiện nay là vai trò của muối iod.
4. Đồng (Cu)
     Là nguyên tố vi lượng rất cần thiết cho các loài động thực vật bậc cao, nó được tìm thấy trong 1 số loại enzyme. Đồng hấp thu vào máu tại dạ dày và phần trên của ruột non. Khoảng 90% Đồng trong máu kết hợp với chất đạm Ceruloplasmin và được vận chuyển vào trong tế bào dưới hình thức thẩm thấu và một phần nhỏ dưới hình thức vận chuyển mang theo chất đạmĐồng được vận chuyển chủ yếu trong máu bởi protein trong huyết tương gọi là ceruloplasmin. Đồng được hấp thụ trong ruột non và được vận chuyển tới gan bằng liên kết với albumin.
     Đồng cần thiết cho cơ thể nhưng chỉ với liều rất nhỏ, dư thừa đồng thường hay gặp hơn thiếu và rất nguy hiểm. Đồng có vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa Sắt và Lipid, có tác dụng bảo trì cơ tim, cần cho hoạt động của hệ thần kinh và hệ miễn dịch, góp phần bảo trì màng tế bào hồng cầu, góp phần tạo xương và biến năng Cholesterol thành vô hại. Trong cơ thể người có khoảng từ 80mg đến 99,4 mg Đồng. Hiện diện trong bắp thịt, da, tủy xương, xương, gan và não bộ. Trẻ em mới sinh có khoảng 15-17 mg Đồng.
     Nguồn thực phẩm giàu đồng là đậu nành, quả hồng, gan, thận, thịt lợn, vừng, gạo xay, tôm, ốc, nghêu sò, nước hoa quả, đường đỏ.
5. Selen (Se)
     Cũng là một nguyên tố vi lượng quan trọng trong cơ thể con người mặc dù với một hàm lượng rất nhỏ. Se có trong enzym glutathion peroxydase có vai trò loại bỏ gốc tự do, bảo vệ màng tế bào và ADN. Enzym này có nhiều ở gan để hóa giải chất độc, ở cơ tim để bảo vệ các tế bào có cường độ hoạt động lớn. Se cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hô hấp vì liên quan đến sinh tổng hợp Coenzym-Q. Tuy chỉ cần với số lượng rất nhỏ nhưng nếu thiếu hụt Se trong dinh dưỡng có nguy cơ dẫn đến hàng loạt bệnh tật nguy hiểm như ung thư, bệnh tim mạch và lão hóa sớm. Hiện nay nhiều thuốc phối hợp vitamin và khoáng chất có bổ sung Se có tác dụng chống lão hóa, kéo dài tuổi thanh xuân là do đặc điểm sinh học nói trên của Se. Tuy nhiên cũng như các nguyên tố vi lượng khác, tác dụng sinh học của Se phụ thuộc vào liều lượng. Nếu dùng liều cao quá mức cho phép, Se có thể gây độc cho cơ thể.
     Thực phẩm giàu selen là đậu nành, tiểu mạch, ngô, thịt gà, trứng gà, thịt lợn, thịt bò, rau cải, bí đỏ, tỏi, các loại hải sản.
6. Mangan (Mn)
     Góp phần quan trọng vào sự vững chắc của xương. Phụ nữ lớn tuổi bị loãng xương có lượng Mangan trong máu thấp hơn so với phụ nữ cùng tuổi không bị loãng xương. Mangan còn có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát lượng insulin trong cơ thể, hoạt hóa một vài enzyme và có thể can thiệp vào sự ức chế trong một vài tế bào. Ngoài ra, còn có vai trò trong quá trình tổng hợp ure và trung hòa các anion superoxyd của gốc tự do, trong trung tâm năng lượng của tế bào cũng như trong ty lạp thể. Nghiên cứu trên súc vật cho thấy, nếu khi mang thai mà thiếu Mangan thì đẻ con ra sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển không đều của bộ xương , thần kinh bị mắc chứng bệnh không phối hợp cử động điều hòa được, một bên màng nhĩ trong tai bị hóa xương, biến đổi di truyền màu, da lợt màu, lá lách teo nhỏ.
Các loại thực phẩm giàu Mangan bao gồm: gạo xay, đậu nành, đậu phụ, tiểu mạch, vừng, rau cải xanh, lá chè xanh, trái cây, trà, gan bò, thịt, trứng, sữa…
7. Các chất khoáng vi lượng khác
     Đó là Coban có vai trò là thành phần trung tâm của vitamin cobalamin hoặc vitamin B12, có trong sôcôla, tôm, cua, 1 số quả khô và hạt có dầu ; Molypden có vai trò cần thiết trong quá trình cố định đạm của cơ thể, do vai trò của nó đối với các enzyme và giúp biến đổi Xanthin thành acid uric và đào thải ra nước tiểu thành urê ; Niken có tác dụng kích thích hệ gan-tụy, rất có ích cho người tiểu đường. Giúp làm tăng hấp thu Sắt. Niken có thể thay thế cho các yếu tố vi lượng trong việc đảm bảo hoạt tính của nhiều enzyme ; Bo giúp điều hòa các kích thích tố gây nên bệnh loãng xương, giúp làm giảm loãng xương và phòng ngừa loãng xương, do Bo có khả năng làm giảm sự bài tiết Canxi và Magné ra nước tiểu ; Asen có vai trò diệt khuẩn và lưu thông máu ; Brom giúp trấn tĩnh, điều tiết tác dụng và hoạt động của thần kinh trung ương ; Selen giữ vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất của tim và hoạt động của võng mạc ; Flour có tác dụng làm chắc răng và bền men răng, giúp vết thương mau lành, ngăn ngừa thiếu máu ; Crom có liên quan đến sự hạ đường huyết, làm cho bệnh nhân chóng mặt, cồn cào, loạn nhịp tim ; Bạc có khả năng tiêu diệt nhiều loại vi khuẩn.
                                                                                     Hoàng Khánh Toàn


Kẽm, những điều cần biết

KẼM, NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT

 

     Kẽm được biết đến như một khoáng chất vi lượng cần thiết trong khoảng 40 năm trở lại đây. Kẽm tồn tại trong các loại thức ăn dạng Zn2+, được phân bố rộng rãi trong cơ thể sau khi được hấp thu. Tầm quan trọng của kẽm đối với cơ thể động vật lần đầu tiên được Todd đề cập tới từ năm 1934. Cho đến nay, nhiều chức năng quan trọng của kẽm đã được phát hiện.

1. Chức năng sinh học của kẽm như thế nào ?

     Kẽm tham gia vào thành phần của trên 300 enzym kim loại, hơn 200 phản ứng sinh hóa xác định phụ thuộc vào kẽm. Do đó kém can thiệp vào nhiều chuyển hóa glucid, protein và acid nucleic. Kẽm rất cần thiết cho quá trình tổng hợp của gen, cho sự sao chép AND. Thiếu kẽm sẽ ảnh hưởng lên tất cả những gì có liên quan đến hoạt động nhân đôi của tế bào, sinh sản, tăng trưởng, liền sẹo và tính miễn dịch. Kẽm còn can thiệp vào khả năng thể hiện của gen và quá trình tổng hợp của protein, cũng như trong chuyển hóa của acid béo không no tạo ra màng tế bào.

     Kẽm cần thiết cho cấu tạo thành phần hoạt động của hormon sinh dục nam, testosterone và đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp, cấu trúc, bài tiết nhiều hormone khác như insulin, hormone tăng trưởng, thymulin…Đặc biệt, ngoài đặc tính can thiệp vào cấu trúc và hoạt hóa coenzyme của nhiều phân tử, kẽm còn tham gia vào hoạt động và sức khỏe của cơ thể. Kẽm là một chất bảo vệ chống oxy hóa và sự tấn công của các gốc tự do. Nó còn chống lại các tác dụng của một số chất độc, kim loại nặng và các chất ô nhiễm khác.

2. Biểu hiện của tình trạng thiếu kẽm ra sao ?

     Có thể nhân thấy dấu hiệu thiếu kẽm như móng tay dễ gãy hoặc chậm mọc và có những vết trắng, da khô (biến đổi chuyển hóa acid béo) là một dấu hiệu gián tiếp. Những dấu hiệu bên ngoài thường được biểu hiện là gia tăng tính tổn thương với nhiễm khuẩn, ở trẻ em thì lười ăn, chậm phát triển thể lực, ở đàn ông giảm khả năng sinh sản, ở phụ nữ có thai gia tăng biến chứng của thai nghén, giảm trọng lượng trẻ sơ sinh, thậm chí có thể bị lưu thai, nguy cơ sinh non tăng gấp 3 lần, khả năng biến dạng của hệ thần kinh và kém phát triển tinh thần ở trẻ là rất cao, ở người già, thiếu kẽm góp phần gây mất cân bằng đồng hóa với các tác nhân của lão hóa như gốc tự do và chất độc, tăng khản năng loãng xương và teo cơ.. Những dấu hiệu khác thiếu kẽm là giảm sự ngon miệng, giảm vị giác, chậm liền sẹo, chậm mọc tóc và móng, tóc dễ rụng, khả năng miễn dịch suy giảm…

3. Nguồn cung cấp kẽm từ đâu ?

     Kẽm có nhiều trong các loại thực phẩm nguồn gốc động vật. Thực phẩm có nguồn gốc thực vật thường chưa ít kẽm và có giá trị sinh học thấp do khó được hấp thu. Nguồn thức ăn nhiều kẽm là từ động vật như sò, hàu, thịt bò, cừu, gà và lợn nạc, sữa, trứng, cá, tôm, cua,  mầm lúa mì, hạt bí ngô, ca cao và sô cô la, các loại hạt (nhất là hạt điều), nấm, đậu, hoa anh đào, hạnh nhân, táo, lá chè xanh …Có tác giả đã xếp danh sách của mười loại thực phẩm giàu kẽm nhất với hàm lượng kẽm (mg)/100g thực phẩm là : hải sản (hàu đã nấu chín) 78,6, thịt bò và thịt cừu (thịt nạc đã nấu chín) 12,3, mầm lúa mì 16,7, hạt bí ngô và hạt bí 10,3, ca cao và sô cô la (bột ca cao) 6,2, các loại hạt 5,6, thịt lợn và thịt gà (thịt lợn nạc vai đã nấu chín) 5,0, nấm 0,9, rau bi-na 0,8, đậu 0,5.
      Một thống kê khác về thực phẩm giàu kẽm được thể hiện trong bảng dưới đây :
Tên thực phẩm
Kẽm (mg)
Tên thực phẩm
Kẽm (mg)
 1. Sò
13.4
 10. Ổi
2.4
 2. Củ cải
11.0
 11. Nếp
2.2
 3. Cùi dừa già
5.0
 12. Thịt bò
2.2
 4. Đậu Hà Lan (hạt)
4.0
 13. Khoai lang
2.0
 5. Đậu nành
3.8
 14. Đậu phộng
1.9
 6. Lòng đỏ trứng gà
3.7
 15. Gạo
1.5
 7. Thịt cừu
2.9
 16. Kê
1.5
 8. Bột mì
2.5
 17. Thịt gà ta
1.5
 9. Thịt heo nạc
2.5
 18. Rau om
1.48
(Hàm lượng Kẽm trong 100g thực phẩm ăn được)
     Theo Viện Dinh dưỡng Quốc gia, hàm lượng kẽm trong 100g thực phẩm ăn được nhiều nhất được tính theo thứ tự là : 1. Sò: 13,40mg; 2. Củ cải: 11,00mg; 3. Cùi dừa già: 5mg; 4. Đậu Hà Lan (hạt): 4mg; 5. Đậu tương 3,8mg; 6. Lòng đỏ trứng gà: 3,7mg; 7. Thịt cừu: 2,9mg; 8. Bột mì: 2.5mg; 9. Thịt lợn nạc: 2,5mg; 10. Ổi: 2,4mg; 11. Gạo nếp giã: 2,3mg; 12. Thịt bò: 2,2mg; 13. Khoai lang: 2mg; 14. Gạo tẻ giã: 1,9mg; 15. Lạc hạt: 1,9mg; 16. Kê: 1,5mg; 17. Thịt gà ta: 1,5mg; 18. Rau ngổ: 1,48mg.
     Một số nguồn thực phẩm tối ưu bao gồm : hàu sống, 6 con to vừa = 76,7 mg kẽm ; cua bể nấu chín, 84g = 6,5 mg kẽm ; thịt bò thăn, nạc, nướng, 112g = 6,33 mg kẽm ; hạt bí ngô sống, 1/4 cốc = 2,57 mg kẽm ; tôm, hấp/luộc, 112g = 1,77 mg kẽm ; nấm Crimini (loại nấm cúp màu nâu), chưa qua chế biến, 140g = 1,56 mg kẽm ; rau bina, luộc, 1 chén = 1,37 mg kẽm
4. Những đối tượng nào cần bổ sung kẽm ?
     Bởi vì lượng kẽm hấp thu hàng ngày là cần thiết để duy trì mức độ khỏe mạnh trong cơ thể nên một số người có biểu hiện  hoặc có nguy cơ thiếu hụt kẽm thì rất cần phaỉ bổ sung khoáng chất vi lượng này. Các đối tượng có nguy cơ thiếu kẽm là : (1) Người ăn chay, phần lớn kẽm từ thực phẩm xuất phát từ các sản phẩm thịt. Kết quả là, những người ăn chay (đặc biệt là người ăn chay trường) sẽ cần nhiều hơn 50% kẽm trong chế độ ăn uống của họ so với người không ăn chay. (2) Những người bị rối loạn tiêu hóa, mắc bệnh viêm ruột loét miệng, viêm ruột kết, bệnh thận mạn tính hoặc hội chứng ruột ngắn sẽ có một khoảng thời gian khó khăn hơn để hấp thụ và giữ lại kẽm từ thực phẩm mà họ ăn. (3) Phụ nữ mang thai và cho con bú, để đáp ứng đủ nhu cầu kẽm của bào thai, phụ nữ mang thai, đặc biệt là những người có lượng kẽm dự trữ thấp khi mới có bầu thì mỗi ngày sẽ cần thêm nhiều kẽm hơn những người khác. (4) Trẻ đã lớn nhưng vẫn bú sữa mẹ, cho đến khi được bảy tháng tuổi, trẻ có thể nhận được đủ lượng kẽm hàng ngày từ sữa mẹ. Sau đó, nhu cầu hàng ngày tăng 50% và một mình sữa mẹ sẽ không đáp ứng đủ nữa.(5) Người bị bệnh hồng huyết cầu hình lưỡi liềm, nghiên cứu gần đây cho thấy 60-70% của những người bị bệnh hồng huyết cầu hình lưỡi liền có mức độ kẽm thấp hơn (điều này đặc biệt đúng đối với trẻ em), bởi vì cơ thể hấp thụ nó khó khăn hơn. (6) Người nghiện rượu, một nửa số người nghiện rượu có nồng độ kẽm thấp vì họ không thể hấp thụ các chất dinh dưỡng (do tổn thương đường ruột từ việc uống rượu quá nhiều hoặc vì kẽm bị tiết ra nhiều hơn qua nước tiểu của họ
     Đàn ông ở tuổi trưởng thành cũng là đối tượng rất cần cung cấp kẽm, bởi lẽ kẽm rất quan trọng trong việc sản xuất tinh dịch. Tới 5 mg kẽm bị mất đi trong quá trình xuất tinh. Thiếu hụt kẽm ở đàn ông có thể dẫn tới giảm lượng tinh trùng và tần xuất tình dục. Sự xuất tinh thường xuyên có thể dẫn tới thiếu hụt kẽm. Mất đi 1 lượng nhỏ kẽm có thể làm đàn ông sụt cân, giảm khả năng tình dục và có thể mắc bệnh vô sinh.
5. Phòng ngừa thiếu kẽm ra sao ?
     Chọn  thức ăn giàu kẽm như hàu, gan, thịt đỏ, trứng, ngũ cốc thô, các loại đậu, các loại rau, củ, trái cây… nhưng cần ăn cân đối thức ăn thực vật và động vật. Cũng có thể chọn dùng các thực phẩm có bổ sung kẽm, một số chế phẩm chứa vitamin muối khoáng có hàm lượng kẽm khá đầy đủ. Khắc phục thiếu kẽm, nên bổ sung kẽm cho  trẻ biếng ăn chậm lớn, người có thai và cho con bú (tất nhiên cần xác định mức độ thiếu kẽm). Bổ sung các thuốc có chứa kẽm (gluconat kẽm hay sulfat kẽm). Uống sau ăn 30 phút. Thời gian bổ sung là 2-3 tháng. Chữa các bệnh gây thiếu kẽm trước khi bổ sung (ví dụ bệnh rối loạn đường tiêu hóa). Khi dùng kẽm nên dùng thêm vitamin A, B6,C và phospho vì các chất này làm tăng sự hấp thu kẽm. Nếu dùng cả sắt và kẽm thì dùng cách xa nhau, dùng kẽm trước, vì sắt sẽ cản trở sự hấp thu kẽm. Tránh bổ sung thừa vì dùng nhiều kẽm có thể làm giảm khả năng miễn dịch. Không được dùng mỗi ngày quá 150mg.
                                                                                  Hoàng Khánh Toàn