Thứ Sáu, ngày 17 tháng 10 năm 2014

Một số vấn đề về trị liệu ung thư bằng đông dược

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ SỬ DỤNG
 ĐÔNG DƯỢC PHÒNG CHỐNG UNG THƯ


     Trong vài chục năm gần đây, vấn đề tìm hiểu, nghiên cứu và ứng dụng y học cổ truyền (YHCT) nói chung và đông dược nói riêng trong việc phòng chống căn bệnh ung thư ngày càng thu hút được sự quan tâm của y giới và toàn xã hội. Tuy nhiên vì nhiều lý do khác nhau, sự hiểu biết của không ít người về vấn đề này còn khá hạn hẹp. Dưới đây, chúng tôi xin được bàn đến một số nội dung cơ bản về vấn đề này.
1. Khái niệm ung thư trong y học cổ truyền
     Ung thư, hiểu theo nghĩa của danh từ Cancer, Carcinoma, không phải là căn bệnh của riêng thời hiện đại mà từ xa xưa nó đã từng xuất hiện trong xã hội loài người. Nói như vậy để khẳng định : nền YHCT trên thế giới nói chung và đông y dược nói riêng đã từng nghiên cứu và sử dụng nhiều biện pháp để phòng chống căn bệnh này. Trong YHCT phương đông, bệnh danh Ung thư đã có từ rất lâu đời nhưng bản chất nó được dùng để chỉ các loại mụn nhọt nói chung và sau này còn được dùng để chỉ một số bệnh lý khác như lao hạch, lao xương khớp, viêm tắc động mạch. Còn thực chất căn bệnh mà ngày nay y học hiện đại gọi là Ung thư (mượn danh từ Ung thư theo âm Hán Việt của đông y để dịch các từ Cancer, Carcinoma) lại thuộc vào phạm vi các chứng Nham, chứng Thũng lựu của YHCT.
2. Nguyên tắc phòng chống ung thư bằng đông dược
     Nguyên tắc chung là phải chỉnh thể và tam nhân chế nghi, nghĩa là phải toàn diện, tùy người mà dùng (nhân nhân chế nghi), tùy lúc mà dùng (nhân thời chế nghi) và  tùy nơi, tùy điều kiện cụ thể mà dùng (nhân địa chế nghi). Toàn diện là : phải kết hợp giữa điều trị tại chỗ và toàn thân (đa cầu duy hiệp), giữa nâng cao sức đề kháng của cơ thể với tác động trực tiếp vào các nhân tố gây bệnh (phù chính và công tà), giữa dùng thuốc uống trong và xông, xoa, bôi, đắp...bên ngoài, giữa trị liệu theo bệnh danh (tên bệnh) và bệnh cơ (cơ chế bệnh sinh, gọi là biện chứng luận trị), giữa trị liệu căn nguyên (trị bản) và trị liệu triệu chứng (trị tiêu)...
3. Những biện pháp cơ bản phòng chống ung thư bằng đông dược
     Có 4 biện pháp lớn là : phù chính bồi bản, khứ tà kháng ung, phù chính khứ tà và đối chứng trị liệu.
   * Phù chính bồi bản : Theo đông y, ung thư là một bệnh mạn tính, đa phần thuộc hư chứng, đặc biệt là khi phải sử dụng đến các biện pháp  như phẫu thuật, hóa trị liệu, xạ trị liệu...Vậy nên, trước hết và nhất thiết phải phù chính bồi bản, có nghĩa là phải chú ý nâng cao sức đề kháng của cơ thể bằng một số biện pháp trọng yếu tùy theo tình trạng bệnh lý cụ thể như bổ ích khí huyết, ích khí kiện tỳ, dưỡng âm sinh tân, tư âm bổ huyết, ôn thận tráng dương, kiện tỳ bổ thận...Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, các biện pháp này có tác dụng : nâng cao năng lực miễn dịch của cơ thể, cải thiện công năng tạo huyết của tủy xương, thúc đẩy quá trình chuyển hóa các chất, điều hòa hệ thống nội tiết, tăng cường tác dụng của thuốc kháng ung, giảm thiểu tác dụng không mong muốn của hóa xạ trị liệu...
   * Khứ tà kháng ung : Theo đông y, ung thư tuyệt đại đa số là có biểu hiện “bản hư tiêu thực”, có nghĩa là sức đề kháng thì suy nhược trong khi các nhân tố bệnh lý thì đang phát huy mạnh mẽ sức tàn phá. “Tà” ở đây được hiểu là các nguyên nhân gây bệnh, các tế bào ung thư và các rối loạn bệnh lý toàn thân hoặc tại chỗ do chúng gây nên. Bởi vậy, trong trị liệu, không những phải phù chính bồi bản mà còn phải chú ý khứ tà kháng ung, có nghĩa là phải tác động trực tiếp vào các nhân tố gây bệnh bằng nhiều biện pháp như : thanh nhiệt giải độc, hóa đàm trừ thấp, công hạ trục thủy, nhuyễn kiên tán kết, tiêu thũng chỉ thống, sơ can lý khí, hoạt huyết hóa ứ...Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, các biện pháp này có tác dụng trực tiếp tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của tế bào ung thư, làm giảm các triệu chứng như giảm đau, chống viêm, kháng khuẩn, hạ sốt, giải độc, chống phù nề, cầm máu, chống ngưng tập tiểu cầu, ngăn ngừa di căn...
   * Phù chính khứ tà : Thực chất đây là biện pháp mang tính kết hợp giữa hai biện pháp đã nêu ở trên nhưng đặt ra để nhấn mạnh sự phối hợp linh hoạt và biện chứng giữa chúng. Phù chính là để tăng cường thể chất, nâng cao năng lực chống đỡ bệnh tật của cơ thể, từ đó mà góp phần tiêu trừ bệnh tà. Khứ tà là sử dụng các biện pháp tác động trực tiếp vào nguyên nhân gây bệnh, phòng ngừa và xử lý các biến chứng, ngăn chặn quá trình phát triển của bệnh, giúp cho cơ thể dần dần phục hồi sức đề kháng. Phù chính khứ tà là căn cứ vào thực tế tranh đấu giữa “chính” và “tà”, vào tình hình biến hóa thịnh suy của quá trình bệnh lý khách quan mà phân rõ tiêu (ngọn) và bản (gốc), hư và thực, chủ và thứ, trước và sau...để từ đó vận dụng các biện pháp trị liệu cho phù hợp. Nhìn chung, ung thư giai đoạn đầu thường lấy khứ tà làm chủ, phù chính là phụ ; giai đoạn giữa kết hợp vừa khứ tà vừa phù chính (công bổ kiêm thi) ; giai đoạn muộn lấy phù chính là chủ, khứ tà là phụ.
   * Đối chứng trị liệu : Trong quá trình phát triển của bệnh ung thư có thể xuất hiện nhiều triệu chứng khác nhau như : phát sốt, xuất huyết, đau nhức, suy nhược...Bởi vậy, bên cạnh việc tuân thủ nguyên tắc trị liệu cơ bản như đã nêu ở trên, giống như y học hiện đại, YHCT cũng sử dụng những biện pháp mang tính chất điều trị triệu chứng, có nghĩa là những bệnh lý ung thư do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng khi xuất hiện những triệu chứng giống nhau thì cách xử lý cũng tương tự nhau. Tuy nhiên, theo quan điểm của YHCT, ngay cả khi điều trị triệu chứng cũng cần phải phân biệt từng thể loại cụ thể để lựa chọn các vị thuốc, bài thuốc cho phù hợp. Ví như, cùng là triệu chứng phát sốt nhưng có thể do ngoại cảm tà nhiệt, do thấp nhiệt uất kết, do âm hư hỏa vượng...thì cách xử lý cũng không giống nhau.
4. Những phương thức cụ thể sử dụng đông dược trị liệu ung thư
     Tùy theo đường dùng có thể chia thành 2 nhóm : uống trong và dùng ngoài (xông, xoa. bôi, đắp...). Hiện nay, bằng công nghệ hiện đại, đông dược trị liệu ung thư còn được sử dụng theo đường tiêm truyền. Tùy theo dạng bào chế có thể chia thành 2 nhóm : dạng cổ truyền như thuốc sắc, cao, đơn, hoàn, tán.. và dạng hiện đại như viên nang, viên nén, siro, trà tan, thuốc tiêm, dịch truyền...Tùy theo nguyên tắc trị liệu có thể chia ra 2 nhóm : theo biện chứng luận trị có thể dùng cổ phương hoặc tân phương mà gia giảm cho phù hợp với từng thể bệnh, giai đoạn bênh và theo biện bệnh luận trị có thể dùng tân phương, kinh nghiệm dân gian hoặc các chế phẩm được bào chế theo lối cổ truyền hay hiện đại cho tất cả các thể bệnh khác nhau. Tùy theo lý luận chỉ đạo có thể chia ra 2 nhóm : dùng hỗn hợp rất nhiều chất có trong một hay nhiều dược liệu mang tính tổng thể theo quan niệm của y dược học cổ truyền hoặc dùng một hoặc vài hoạt chất đã được tinh chế, chiết xuất giống như tân dược theo quan niệm của của y dược học hiện đại (trên thực tế phương thức này không còn mang bản sắc của y học cổ truyền nữa)
5. Những vị thuốc có công dụng trị liệu ung thư
     Ở Trung Quốc, khá nhiều vị thuốc đã được khảo sát nghiên cứu tác dụng trị liệu ung thư. Tùy theo công năng dược tính có thể phân ra 13 loại : tả hỏa kháng ung, thanh nhiệt kháng ung, lợi thấp kháng ung, hóa thấp kháng ung, tán hàn kháng ung, lý khí kháng ung, hoạt huyết khứ ứ kháng ung, hóa đàm kháng ung, tiêu thực kháng ung, ích khí kháng ung, bổ dương kháng ung, dưỡng huyết kháng ung, và dưỡng âm kháng ung. Cụ thể là các vị : nhóm tả hỏa kháng ung có đại thanh diệp, hoàng liên, hoàng bá, hoàng cầm, đại hoàng, long đởm thảo, chi tử, khổ sâm, sơn đậu căn, xạ can, huyền minh phấn, mật gấu, bạc đầu ông, tần bì, bạch tiên bì, xuyên tâm liên, hổ trượng ; nhóm thanh nhiệt kháng ung có kim ngân hoa, liên kiều, thiên hoa phấn, đạm trúc diệp, hạ khô thảo, bồ công anh, tử hoa địa đinh, tử thảo, bán chi liên, thất diệp nhất chi hoa, ngư tinh thảo, bạch hoa xà thiệt thảo, xa tiền thảo, nhân trần cao, sài hồ, bản lam căn, ngưu hoàng, linh dương giác, trân châu ; nhóm lợi thấp có bạch linh, trư linh, cù mạch, thổ phục linh, trạch tả, lô căn, thông thảo, bạch mao căn, kim tiền thảo, tỳ giải, biển sức, mộc thông, đông lăng tử, ý dĩ nhân ; nhóm hóa thấp kháng ung có trạch lan, hoắc hương, khương hoạt, độc hoạt, hậu phác, mộc qua, tần cửu, thảo quả, sa nhân, thương truật ; nhóm ôn trung tán hàn có phụ tử, can khương, nhục quế, ngô thù du, tế tân, bạch chỉ ; nhóm lý khí kháng ung có thanh bì, trần bì, chỉ xác, mộc hương, hương phụ, xuyên luyện tử ; nhóm hoạt huyết khứ ứ kháng ung có xuyên khung, hồng hoa, nhũ hương, diên hồ sách, khương hoàng, nga truật, một dược, tam thất, uất kim, tam lăng, đan sâm, ích mẫu thảo, đào nhân, thủy điệt, thổ miết trùng, ngũ linh chi, ngưu tất, xích thược, mẫu đan bì ; nhóm hóa đàm kháng ung có bán hạ chế, thiên nam tinh, bạch giới tử, tử tô tử, cát cánh, tiền hồ, bạch tiền, qua lâu, triết bối mẫu, hải tảo, côn bố, hạnh nhân, bách bộ, tử uyển, khoản đông hoa, tang bạch bì ; nhóm tiêu thực kháng ung có sơn tra, thần khúc, mạch nha, cốc nha, lai phục tử, kê nội kim ; nhóm bổ khí kháng ung có nhân sâm, tây dương sâm, đẳng sâm, thái tử sâm, hoàng kỳ, bạch truật, cam thảo, sơn dược, đại táo ; nhóm bổ dương kháng ung có nhung hươu, ba kích thiên, nhục thung dung, đỗ trọng, bổ cốt chi, đông trùng hạ thảo, cáo giới ; nhóm dưỡng huyết kháng ung có đương quy, bạch thược, thục địa, hà tủ ô, a giao, long nhãn, kỷ tử, hắc chi ma ; nhóm dưỡng âm kháng ung có sa sâm, nam sa sâm, ngọc trúc, mạch môn, tang thần, bách hợp, huyền sâm, can thục địa, nữ trinh tử, quy bản, miết giáp.
     Ngài ra còn có các vị như nấm linh chi, ngân nhĩ, nấm hương, thủy xương bồ, lô hội, tây đậu căn, hoàng dược tử, mật quạ, măng tre, tiên hạc thảo, dã ngải, tử thụ, khương đăng mộc, trường xuân hoa, tước mai đằng, thũng tiết phong, bạch anh, đại toán, tục tràng thảo, giảo cổ lam, thiềm thừ, ban miêu, bích trượng, ngô công, chướng lang, thach thượng bá, trư nha tạo, phấn hoa, diệp lục tố, tín ngôn, củ cải, cà rốt...cũng đã được khảo sát nghiên cứu và cho thấy có công dụng kháng ung ở các mức độ khác nhau.
6. Tình hình nghiên cứu đông dược trị liệu ung thư ở Việt Nam
     Ở nước ta, việc tìm hiểu và nghiên cứu công dụng trị liệu ung thư của các dược liệu đã được đề cập từ khá lâu. Nhiều vị thuốc đã được khảo sát và kết luận như dừa cạn, thông đỏ, nấm lim xanh, xạ đen, giảo cổ lam, tinh nghệ, hoàn ngọc, trinh nữ hoàng cung, sâu chít...Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, công việc này tỏ ra vẫn rời rạc, thiếu phương hướng chỉ đạo chung, tính hiệu quả chưa cao, chưa chú ý đến việc giữ gìn bản sắc của y học cổ truyền, thậm chí một số công trình còn chưa đảm bảo tính chuẩn xác và khoa học mặc dù tiềm năng dược liệu có công dụng kháng ung của chúng ta là hết sức phong phú. Đó là chưa kể đến việc nghiên cứu công dụng kháng ung của nhiều bài thuốc cổ phương, tân phương và các bài thuốc gia truyền hầu như vẫn còn bị bỏ ngỏ.
     Một công trình nghiên cứu do các nhà khoa học Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia Tp.Hồ Chí Minh) và các nhà khoa học Nhật Bản thực hiện đã chứng minh được rằng cây thuốc Việt Nam hoàn toàn có khả năng ức chế tế bào ung thư...
Theo TS Trần Lê Quan, khi tiến hành nghiên cứu cây thuốc Việt Nam, nhóm nghiên cứu đã chọn thu thập những mẫu cây thuốc được sử dụng trong dân gian làm thuốc bổ, trị những bệnh viêm nhiễm...ở khu vực Bảy Núi (tỉnh An Giang) và tỉnh Lâm Đồng. Từ 77 cây thuốc Việt Nam được thu thập để nghiên cứu, nhóm đã điều chế được 231 loại dịch chiết và cao, sau đó thử nghiệm để tìm giá trị đích thực của từng loại. Bước đầu là tiến hành thử nghiệm hoạt tính ức chế tế bào ung thư trên dòng tế bào ung thư biểu mô liên kết di căn của người mang ký hiệu HT-1080. Nhưng chưa dừng lại, để xác định tính chọn lọc, các dịch trích lại được tiếp tục thử nghiệm với năm dòng tế bào khác: tế bào ung thư cổ tử cung người mang tên Hela, tế bào ung thư phổi người A549, tế bào ung thư ruột kết chuột 26-L5, tế bào ung thư phổi chuột Lewis LLC và tế bào ung thư da chuột B16-BL6. Kết quả cho thấy những cây thuốc như: tô mộc, dừa cạn, bá bệnh, bí kỳ nam, hà thủ ô trắng, hoàng đằng...đều có hoạt tính ức chế sự phát triển của tế bào ung thư. Tuy nhiên, theo nhóm nghiên cứu, cao của rễ cây hà thủ ô trắng thể hiện hoạt tính mạnh đối với các dòng tế bào ung thư người. Một điều thú vị nữa là từ trước đến nay, người ta biết đến hoàng đằng và berberin được dùng chủ yếu để trị những bệnh tiêu hóa như kiết lỵ, tiêu chảy..., nhưng giờ đây người ta lại biết đến berberin, thành phần chính của cây hoàng đằng, có khả năng ức chế sự di căn ung thư của tế bào mang tên LLC. Nhóm nghiên cứu khẳng định lần đầu tiên họ đã thử nghiệm thành công và chứng minh được năm loại cao (dịch chiết) của bảy loài cây có khả năng ức chế tế bào ung thư. Đó là bá bệnh, bí kỳ nam, dừa cạn, hà thủ ô trắng (có ở vùng Bảy Núi và Lâm Đồng), hoàng đằng, tô mộc. Những minh chứng khoa học này đã đặt nền móng và mang đến những tia hi vọng mới cho những người mắc phải căn bệnh ung thư hiện nay.
     Sau khi liệt kê 54 vị thuốc có tác dụng trị liệu ung thư có mặt ở nước ta trong danh sách các dược liệu kháng ung mà Trung Quốc đã công bố, trong một bài báo của mình GS. TS Nguyễn Lân Dũng đã khuyến cáo : “Trong khi chờ đợi các nghiên cứu ở nước ta, bà con nên chú ý bảo vệ các cây nói trên nếu tìm thấy, đừng bán cho khách nước ngoài và cố gắng trồng thêm cho nhiều để bán cho các cơ sở nghiên cứu và sản xuất dược liệu”. Nhưng, chờ đến bao giờ và cơ chế nào để hướng dẫn và bảo hộ cho người dân tham gia vào công cuộc này thì vẫn là một vấn đề chưa có lời giải đáp mang tính thực tế và thuyết phục.

                                                                                            Hoàng Khánh Toàn




     

Sừng tê giác

Cẩn thận với “thần dược” tê giác



     Tê giác đang trở thành một thứ hết sức quý giá và người ta mách nhau rằng đây là “thánh dược” chữa bách bệnh, kể cả bệnh ung thư và tăng cường sức mạnh cho nam giới...Vậy thực sự tế giác có công dụng gì? Dưới đây là trao đổi của phóng viên KH&ĐS với ThS Hoàng Khánh Toàn, chủ nhiệm Khoa Đông y, bệnh viện TƯ quân đội 108.

PV: Thưa ThS, công dụng thực sự của sừng tế giác là gì? Nó thực sự có phải là thánh dược trị bách bệnh như quảng cáo?
     ThS Hoàng Khánh Toàn: Tê giác còn gọi là tê ngưu giác, hương tê giác, ô tê giác...là sừng của nhiều loại tê giác như Rhinoceros unicoris L.( độc giác tê ), Rhinoceros sondaicus Desmarest ( tiểu độc giác tê ), Rhinoceros sumatrensis ( song giác tê )…
Theo y học cổ truyền, tê giác vị chua mặn, tính lạnh, vào được hai đường kinh Tâm và Can, có công dụng thanh nhiệt lương huyết, trấn kinh giải độc, giảm đau và cầm máu, được xếp vào nhóm thuốc thanh nhiệt lương huyết, hỏa nhập vào huyết. Tê giác thường được dùng để chữa các chứng bệnh như thương hàn ôn dịch mà nhiệt nhập huyết phận, sốt quá hoá điên cuồng, co giật, sốt vàng da, ban chẩn, thổ huyết, chảy máu cam, ung độc, hậu bối...Phụ nữ có thai, những người thể tạng hàn (thường sợ lạnh, tay chân lạnh, đại tiện phân lỏng, nát, sống phân, nước tiểu trong và nhiều...) mà không có sốt không được dùng.

PV:  Không chỉ những người bị bệnh ung thư mà cả các quý ông cùng tim đến sừng tê giác để cải thiện khả năng “nam tính” của mình, điều đó thực sự có ý nghĩa, thưa ThS?
     Trước hết, phải khẳng định rằng, cả trong và ngoài nước chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào chứng minh sừng tª giác có thể điều trị ung thư hay làm tăng khả năng cương dương.  Nghiên cứu thành phần hoá học của tê giác người ta thấy chủ yếu là Keratin, ngoài ra còn có Canxi cacbonat, Canxi photphat. Khi thuỷ phân, tê giác sẽ cho các axit amin như Tyrosin, Axit tiolactic, Xystein. Kết quả nghiên cứu dược lý học hiện đại cho thấy, trên động vật thực nghiệm, tê giác có tác dụng: Trực tiếp hưng phấn cơ tim làm tăng sức co bóp, tăng nhịp và tăng cung lượng tim; giải nhiệt;trấn tĩnh, chống co giật; làm tăng số lượng tiểu cầu và rút ngắn thời gian đông máu; giảm thấp tỷ lệ tử vong trên chuột do nội độc tố của trực khuẩn Coli gây nên. Trên lâm sàng, các nhà y học cổ truyền Trung Quốc đã nghiên cứu dùng tê giác điều trị viêm não do vi rút, dị ứng, cấp cứu ngộ độc cà độc dược....
Thực tế gần đây, người ta có dùng sừng tê giác để điều trị ung thư, xơ gan... Tuy nhiên, theo d­îc häc cæ truyÒn, tª gi¸c chØ ®­îc dïng cho c¸c bÖnh lý thuéc thÓ  Huyết nhiệt, còn loại khác nÕu dïng nhiều khi lợi  bất cập hại. Vì vậy, khi dùng nhất thiết phải có ý kiến của chuyên gia đông y.

PV:  ThS có thể giới thiệu với bạn đọc KH&ĐS một vài cách dùng sừng tê giác trị bệnh?
      Theo kinh nghiệm của cổ nhân, tê giác có thể được dùng dưới dạng sắc, tán bột hoặc mài lấy nước uống, mỗi ngày từ 0,5 - 1g, có khi dùng tới 4 - 12g. Dạng dùng thông thường là mài sừng vào nước nóng cho đến khi được một dung dịch trắng như sữa để uống. Hoặc chẻ sừng cho nhỏ và chặt vụn rồi nghiền rây thành bột mịn mà dùng (tê giác phấn). Tùy từng thể bệnh mà dùng phối hợp hoặc riêng lẻ khác nhau. Chẳng hạn: Chữa sốt cao: Phòng phong 4g, mộc hương 6g, tang bạch bì 6g, cam thảo 4g, sắc với 600 ml nước lấy 200 ml, mài tê giác 5g vào rồi chia uống 3 lần trong ngày; Chữa các chứng thổ huyết, chảy máu cam, sốt nóng mê man, nói lảm nhảm, vàng da, phát ban hoặc lên đậu mọc chi chít: mài tê giác với nước cho đặc mà uống; Chữa điên cuồng, đêm ngày mộng du, lúc tỉnh lúc mê, co cứng bất tỉnh nhân sự: Tê giác 20g, xạ hương 10g, chu sa 10g, tán nhuyễn, mỗi lần uống 8g; Chữa ngộ độc thuốc: tê giác đốt cháy, tán nhỏ, uống mỗi lần 4g; Chữa thổ tả, chướng bụng: tê giác phối hợp với trầm hương, hạt cau khô và hạt củ cải, nghiền với nước rồi chắt uông.

PV:  Như vậy, có một mấu tê giác để phòng khi có bệnh vẫn là rất quý. ThS có kinh nghiệm gì để lựa chọn được “hàng” thật không”?
     Cười. Tê giác đã được đưa vào sách đỏ để bảo vệ, và sừng tê giác rÊt quý vµ rÊt hiÕm nên bị gian th­¬ng làm giả rất nhiều. Tôi đã được chứng kiến một bệnh nhân mua phải một chiếc sừng tê giác được làm bằng bột đá và nhựa tổng hợp. Thực tế ở Việt Nam sừng tê giác rất hiếm và gần như không có, người ta chủ yếu nhập lậu từ châu Phi và Myanma. Việc làm giả bằng sừng trâu, sừng bò... hiện nay cũng rất tinh vi nên không thể phân biệt được và cũng không có tiêu chí nào để đánh giá thật giả. Muốn biết thật hay không chỉ còn cách cho người sốt cao uống, nếu thấy hạ sốt nhanh thì đó cã thÓ là sừng tê giác thật.

PV:  Theo ThS có thể thay thế sừng tê giác bằng một dược liệu khác có tác dụng tương tự không?
      Hiện nay, các nhà y học cổ truyền ở một số nước đã nghiên cứu dùng Thủy ngưu giác (sừng của con trâu nước - Bubalus bubalis Linnaeus) để thay thế. Họ nhận thấy dùng thuỷ ngưu giác thay thế tê giác không những thích hợp với các chứng bệnh tương tự như khi dùng tê giác mà còn có tác dụng thanh nhiệt thoái hoàng (hạ nhiệt và làm hết vàng da), giải độc thanh vị, thanh can tả tâm, an thần chống cuồng. Khi trị liệu viêm gan, tâm thần phân liệt cũng có tác dụng nhất định. Tuy nhiên, lượng dùng thuỷ ngưu giác phải gấp từ 8 - 10 lần so với tê giác. Ngoài sừng trâu nước ra, người ta còn dùng sừng bò, sừng sơn dương và móng chân lợn để thay thế.
Xin cảm on ThS!



Sự thật về nấm Ngọc cẩu

SỰ THẬT VỀ NẤM NGỌC CẨU


     Trong thời gian gần đây, cư dân mạng và độc giả, đặc biệt là cánh mày râu, dường như lên cơn sốt khi thông tin về một loại nấm được mệnh danh là “nấm tan cửa nát nhà” vì công năng “kỳ diệu” trong việc cải thiện sinh lực trên mạng điện tử. Loại nấm này được đặt tên là “ngọc cẩu” với những lời ca ngợi có phần thái quá. Vậy, nấm ngọc cẩu là gì ?
     Xin thưa ! Đó thực chất là vị thuốc có tên gọi là “tỏa dương” hết sức thông dụng trong việc chữa bệnh thường nhật của y học cổ truyền, được xếp trong nhóm thuốc bổ dương của đông dược. Tỏa dương, tên khoa học là Cynomorium songaricum Rupr., còn được gọi là củ gió đất, củ ngọc núi, hoa đất, xà cô, ký sinh hoàn, bất lão dược, địa mao cầu, hoàng cốt lương…và củ cu chó (phiên âm Hán-Việt là dương cẩu chứ không phải là ngọc cẩu). Vị thuốc này vị ngọt, tính ấm có công dụng bồ thận trợ dương, nhuận tràng thông tiện, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như liệt dương, di tinh, lưng đau gối mỏi, suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, viêm dạ dày, viêm thận, xuất huyết do giảm tiểu cầu nguyên phát (tử điến), táo bón người già…dưới hình thức độc vị hoặc phối hợp với tang phiêu tiêu, thục địa, ma nhân và các vị thuốc khác. Bài thuốc cổ nổi tiếng chuyên dùng để chữa chứng di tinh có tên gọi là Kim tỏa cố tinh hoàn.
     Kết quả nghiên cứu dược lý của các nhà khoa học Trung Quốc cho thấy, tỏa dương có tác dụng điều tiết miễn dịch, nâng cao sức chịu đựng của cơ thể trong điều kiện thiếu oxy, cải thiện chức năng của trục các tuyến nội tiết : Vùng dưới đồi-Tuyến yên- Tuyến thượng thận, thanh trừ các gốc tự do, chống lão hóa, thúc đẩy quá trình sinh trưởng, kháng viêm, chống loét, kháng ung thư, ức chế ngưng tập tiểu cầu, gia tăng quá trình tổng hợp DNA và RNA.
     Trong thực tiễn lâm sàng, các thầy thuốc đông y thường sử dụng tỏa dương cùng với các thuốc bổ dương khác như ba kích, tiên mao, nhục thung dung, phá cố chỉ, dâm dương hoắc…để chữa các chứng bệnh như suy giảm ham muốn tình dục, liệt dương, xuất tinh sớm, di mộng tinh, lãnh cảm, muộn con…nhưng so với nhiều vị thuốc khác, tác dụng này của tỏa dương cũng chỉ ở mức độ vừa phải, nếu như không muốn nói là khiêm tốn, không như những thông tin đã được đồn thổi. Tỏa dương loại khô có thể mua dễ dàng ở các hiệu thuốc đông dược với giá gốc không quá 20 000 vnđ/ 100g trong thời điểm hiện tại, giá bán có thể cao hơn vài ba lần. Tuy nhiên, tỏa dương giả và tỏa dương nhập khẩu đã chiết xuất hầu hết hoạt chất cũng không phải là hiếm. Vậy nên, các quý ông nếu có nhu cầu sử dụng nên tìm mua dược liệu này ở các cơ sở đông dược có tư cách pháp nhân và rất cần sự tư vấn của các thầy thuốc có chuyên khoa để phòng tránh tích cực tình trạng “tiền mất của rởm”, “tiền mất tật mua”.

                                                                                           Hoàng Khánh Toàn

Hai cổ phương chữa viêm loét dạ dày tá tràng

Hai phương thuốc hữu hiệu chữa viêm loét dạ dày

    
     Bà Nguyễn Thị Nguyên, 75 tuổi, ở phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội, bị bệnh viêm loét dạ dày từ hơn 30 chục năm nay. Biểu hiện chủ yếu là đau vùng thượng vị với tính chất âm ỉ, tăng lên khi ăn đồ cay chua và lúc thời tiết thay đổi, kèm theo ợ hơi, có lúc buồn nôn nhưng không nôn, đại tiện táo lỏng thất thường…Bà đã đi khám ở nhiều cơ sở tây y, được dùng nhiều loại thuốc khác nhau nhưng bệnh chỉ ổn định hoặc thuyên giảm mà không khỏi hẳn, thậm chí có giai đoạn bệnh không hề biến chuyển chút nào. Năm 2005, bà đã được bác sĩ chỉ định dùng phác đồ 3 thuốc (omeprazol, amoxilin, metronidazol) với chẩn đoán viêm loét hang vị nhưng bệnh cũng chỉ ổn định trong vài tháng. Năm 2012, khi xuất hiện thêm triệu chứng nóng rát sau xương ức, kèm theo cảm giác khó chịu vùng hầu họng, bà đến khám tại một bệnh viện lớn, kết quả nội soi cho thấy có hình ảnh viêm trợt rải rác hang vị và trào ngược thực quản, test vi khuẩn Hp (+), được chỉ định dùng các thuốc như pariet, ospamox, clacid, motulium, dogmatic…trong 1 tháng, bệnh ổn định, test Hp (-) nhưng chỉ sau chừng nửa năm các triệu chứng lại tái diễn tuy mức độ không trầm trọng như trước.
     Buồn phiền quá, bà Nguyên tìm đến đông y bắt mạch kê đơn những mong bệnh ổn định lâu dài. Thật may mắn, sau khi thầy thuốc khám và chẩn đoán là mắc chứng Vị quản thống thể tỳ vị hư nhược, được kê 5 thang thuốc, sắc uống mỗi ngày 1 thang, bà Nguyên cảm thấy bụng đỡ đau, dễ chịu, hết cảm giác buồn nôn, thèm ăn và đại tiện trở lại bình thường. Uống tiếp 10 thang nữa, các triệu chứng hầu như đã hết, uống trọn 30 thang bệnh ổn định hoàn toàn. Sau đó, cứ mỗi tháng bà uống duy trì 5 thang, kéo dài trong nửa năm, cho đến nay bà Nguyên không còn phải chịu nỗi khổ sở vì căn bệnh dạ dày nữa.  
     Theo ThS Hoàng Khánh Toàn, chủ nhiệm khoa Đông y, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, viêm loét dạ dày tá tràng là một bệnh thường gặp và đã được y học cổ truyền đề cập đến từ hàng ngàn năm nay trong các chứng Vị thống, Vị quản thống, Tào tạp, Bĩ mãn…do nhiều nguyên nhân gây ra như tiên thiên bất túc (di truyền), thất tình (rối loạn tâm thần kinh), ẩm thực bất điều (ăn uống không hợp lý), ngoại cảm tà khí (nhiễm trùng, nhiễm độc), rối loạn công năng các tạng phủ, lạm dụng các thuốc cay nóng và có sức công phá mãnh liêt…Bệnh được chia làm nhiều thể khác nhau như Can khí phạm vị, Tỳ vị hư nhược, Tỳ hư vị nhiệt, Vị âm bất túc, Vị lạc ứ trở…Bệnh thường hay tái phát, ảnh hưởng đến công việc và chất lượng cuộc sống nên sau khi khỏi bệnh việc uống thuốc củng cố là rất cần thiết để tránh tái phát. Thực tế có rất nhiều bệnh nhân nhờ điều trị triệt để sau hàng chục năm vẫn không bị lại.
     ThS Toàn nhấn mạnh, việc tìm ra nguyên nhân gây bệnh trên cơ sở đó trị bệnh tận gốc và bồi bổ các cơ quan liên quan mạnh lên thì mới khỏi được bệnh. Điều này phụ thuộc vào kinh nghiệm và kỹ năng chẩn trị, gia giảm thuốc của bác sĩ trên mỗi cơ thể người bệnh.Với ThS Toàn, ông đã vận dụng cả kiến thức tây y trong nhiều năm học hỏi kết hợp kiến thức Đông y của người xưa được đúc kết trong dân gian, sách thuốc cổ và kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, đặc biệt là Trung Quốc, cộng với kinh nghiệm thực tiễn trong chuyên ngành Đông y gần 30 năm đã áp dụng trị liệu bằng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó chủ yếu là uống thuốc theo đơn và kết hợp châm cứu, bấm huyệt, cấy chỉ cát gút khi cần thiết.
     ThS Toàn cho biết, về thuốc, tốt nhất là được kê đơn thuốc sắc theo nguyên tắc “biện chứng luận trị”, nghĩa là, tùy theo thể bệnh mà kê đơn cho phù hợp. Tuy nhiên, đơn giản nhưng hữu hiệu là chọn lấy một bài thuốc làm hạt nhân rồi trên cơ sở đó tùy theo bệnh trạng cụ thể mà gia giảm các vị thuốc cho chuẩn xác. Kinh nghiệm cho thấy, hai cổ phương “Hương sa lục quân tử thang” (mộc hương, sa nhân, nhân sâm, bạch linh, bạch truật, cam thảo, trần bì, bán hạ chế) và “Sâm linh bạch truật tán” (nhân sâm, bạch linh, bạch truật, cam thảo, liên nhục, ý dĩ, sa nhân, cát cánh, biển đậu, hoài sơn) là những bài thuốc thường được lựa chọn hơn cả, có thể dùng riêng hoặc phối hợp với nhau. Nếu nhiệt thịnh gia hoàng cầm, bồ công anh ; nếu hàn thịnh, đại tiện lỏng gia can khương, ngô thù, nhục đậu khấu ; nếu đau bụng nhiều gia xuyên luyện tử, huyến hồ sách ; nếu mệt mỏi nhiều gia hoàng kỳ ; nếu ăn kém, đầy bụng gia thần khúc, mạch nha, sơn tra, kê nội kim ; nếu ợ chua nhiều gia ô tặc cốt, mẫu lệ ; nếu nhiệt miệng, táo bón gia cát căn, mạch môn, chỉ xác…Thông thường bệnh nhân uống chừng mươi thang là có chuyển biến rõ rệt.
     Box: Để phòng bệnh, cách tốt nhất là chú ý tạo được một đời sống tinh thần cân bằng, thư thái, tránh căng thẳng, nghỉ ngơi đầy đủ, thường xuyên tập luyện thể dục thể thao hoặc các môn tập của y học cổ truyền như dưỡng sinh, yoga, thái cực quyền, cân ma đạt kinh, ngồi thiền…Chế độ ăn cần khoa học và hợp lý, tránh các đồ ăn thức uống quá nóng lạnh, quá cay chua, khó tiêu và có tính chất kích thích. Nên trọng dụng nghệ tron g việc chế biến các món ăn. Hạn chế bia rượu, bỏ thuốc lá, thuốc lào, cà phê và trà quá đặc. Mỗi ngày nên xoa bóp bụng theo chiều kim đồng hồ 2 lần, mỗi lần chừng 100 vòng. Định kỳ thăm khám sức khỏe để phát hiện và trị liệu bệnh sớm, dùng thuốc củng cố theo đúng hường dẫn để phòng chống tái phát.


Thứ Hai, ngày 06 tháng 10 năm 2014

Thiên ma câu đằng ẩm

“Thiên ma câu đằng ẩm”, phương thuốc phòng chống rối loạn tiền đình


     Kết hợp kiến thức Tây y, Đông y và kinh nghiệm đúc kết sau gần 30 năm trong nghề, ThS Hoàng Khánh Toàn, Chủ nhiệm khoa Y học cổ truyền BV TƯ quân đội 108 đã chữa khỏi cho nhiều người bị   rối loạn tiền đình  (RLTĐ) chỉ sau 5 - 10 ngày xoa bóp bấm huyệt và uống thuốc.

Nằm nhắm mắt cũng không yên
     Chị Ngô Thị Liên, 32 tuổi, ở Khu tập thể Kim liên, Hà nội, tháng 12/2013 bị với các biểu hiện như hoa mắt, chóng mặt, có cảm giác các vật quay xung quanh người, kém theo buồn nôn, nôn, vã mồ hôi, tim đập nhanh…Chị mời bác sĩ đến nhà truyền dịch và uống thuốc liên tục 3 ngày mà bệnh vẫn chưa thuyên giảm, phải nhắm nghiền mắt, chẳng dám quay đầu và không ngồi dậy được. Sau ngày đầu tiên được ThS Toàn châm cứu ở đầu mặt, tay và chân kết hợp với day bấm huyệt, chị Liên đã mở mắt, quay cổ được mà không bị chóng mặt. Tiếp tục xoa bóp bấm huyệt kết hợp uống thuốc theo đơn mỗi ngày 1 thang, sau 5 ngày thì bệnh của chị đã khỏi về cơ bản . Chị tiếp tục uống 10 thang thuốc củng cố và bệnh ổn định cho đến nay.
Theo ThS Hoàng Khánh Toàn, chủ nhiệm khoa Đông y, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, RLTĐ là một hội chứng bệnh lý thường gặp do nhiều nguyên nhân gây nên và được chia làm hai loại: hội chứng tiền đình ngoại vi và hội chứng tiền đình trung ương. Trong đông y, bệnh thuộc phạm vi chứng “Huyễn vựng”, biểu hiện bằng các triệu chứng như chóng mặt, choáng váng như say sóng, hoa mắt, nhìn không rõ, mắt tối sầm xây xẩm, ngã nhào, nôn…Bệnh thường gặp ở người trung niên và có tuổi nhưng hiện nay đang có xu hướng trẻ hóa ngay cả với lưa tuổi đôi mươi. Điều nguy hại của  RLTĐ  là ở những bệnh nhân có bệnh lý đi kèm như thiếu máu não hoặc tăng huyết áp sẽ có nguy cơ đột quỵ dẫn đến tử vong. Bệnh thường hay tái phát, ảnh hưởng đến công việc và chất lượng cuộc sống nên sau khi khỏi bệnh uống thuốc củng cố rất ý nghĩa để tránh tái phát. Thực tế có rất nhiều bệnh nhân nhờ điều trị triệt để sau hàng chục năm vẫn không bị lại.

Quan trọng là chẩn đoán chính xác bệnh
     ThS Toàn nhấn mạnh,  RLTĐ là trạng thái tổn thương hệ thần kinh có liên quan đến mạch máu nuôi não, hay gặp ở những người bị xơ vữa động mạch hoặc hư xương sụn cột sống cổ…nên bệnh nhân phải được khám cả bằng tây y để xác định chẩn đoán chính xác. Trong nhiều trường hợp bệnh nặng, nguy hiểm tính mạng phải kết hợp cả đông y và tây y, thậm chí có khi phải điều trị tây  y trước rồi sau đó mới dùng đông y để củng cố.
Trong Đông y, huyễn vựng gây nên bởi nhiều nguyên nhân như khí hư hoặc huyết hư, hoặc cả khí huyết đều hư (suy nhược cơ thể); do chữa nhầm thuốc; sinh hoạt tình dục quá độ; say rượu kéo dài làm tổn thương tinh huyết; do bị ngoại cảm, cảm nhiễm tà khí (phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa); do bị chấn thương, mất máu quá nhiều, chấn động não bộ…Vì vậy, tìm ra căn nguyên gây bệnh trên cơ sở đó trị bệnh tận gốc và bồi bổ các cơ quan liên quan mạnh lên thì mới khỏi được bệnh. Điều này phụ thuộc vào kinh nghiệm và kỹ năng chẩn trị, gia giảm thuốc của bác sĩ trên mỗi cơ thể người bệnh.Với ThS Toàn, ông đã vận dụng cả kiến thức tây y trong nhiều năm học hỏi kết hợp kiến thức Đông y của người xưa được đúc kết trong dân gian, sách thuốc cổ và kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, đặc biệt là Trung Quốc, cộng với kinh nghiệm thực tiễn trong chuyên ngành Đông y gần 30 năm đã áp dụng trị liệu bằng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó chủ yếu là châm cứu bấm huyệt và uống thuốc theo đơn
ThS Toàn cho biết, tùy theo bệnh tình và từng thể bệnh khác nhau, các huyệt vị như bách hội, thái dương, ấn đường, phong trì, nội quan, hợp cốc thường được trọng dụng với hình thức thể châm kết hợp với day bấm các huyệt và xoa bóp vùng đầu, cổ và gáy. Về thuốc, tốt nhất là được kê đơn thuốc sắc theo nguyên tắc “biện chứng luận trị” – tùy theo bệnh mà có thuốc trị. Tuy nhiên, đơn giản nhưng hữu hiệu là chọn lấy một bài thuốc làm hạt nhân rồi trên cơ sở đó tùy theo bệnh trạng cụ thể mà gia giảm các vị thuốc cho phù hợp. Kinh nghiệm cho thấy, “Thiên ma câu đằng ẩm” (thiên ma, câu đằng, thạch quyết minh,  chi tử, hoàng cầm, ngưu tất , ích mẫu, tang ký sinh, dạ đằng giao, bạch linh) là bài thuốc cổ thường được lựa chọn hơn cả. Nếu có đau đầu, buồn nôn gia thêm trần bì, bán hạ chế, bạch chỉ; nếu vã mồ hôi lạnh, sợ lạnh gia phòng phong; nếu khí hư gia đẳng sâm, bạch truật, hoàng kỳ; nếu huyết hư gia đương quy, hà thủ ô; nếu âm hư gia thục địa, kỷ tử ; nếu dương hư gia ba kích, nhục dung…Thông thường bệnh nhân chỉ điều trị từ 5 – 10 thang là có chuyển biến rõ rệt.
     Box: Để phòng bệnh cách tốt nhất là thường xuyên tập thể dục thể thao. Đối với người làm việc văn phòng cần tránh ngồi quá lâu trước máy vi tính. Thường xuyên thực hiện các bài tập vận động vùng đầu, cổ gáy. Tập đẩy hơi vào 2 tai bằng cách dùng 2 bàn tay áp vào 2 bên tai mỗi ngày 50 - 100 lần. Uống nước thường xuyên khoảng 2 lít/ngày. Khi bị bệnh cần phải cẩn trọng trong tư thế sinh hoạt, không nên quay cổ một cách đột ngột hoặc đứng lên ngồi xuống quá nhanh…


Thúy Nga (Báo Khoa học và Đời sống)