Thứ Hai, ngày 27 tháng 7 năm 2015

Chữa trĩ bằng vận động hậu môn

PHÒNG CHỐNG BỆNH TRĨ BẰNG CÁCH VẬN ĐỘNG HẬU MÔN


     Để phòng chống bệnh trĩ, nhất là khi búi trĩ sa xuống khi đi ngoài, có nhiều phương pháp khác nhau nhưng có một cách không mất tiến mà vẫn đem lại hiệu quả khả quan chỉ cần sự kiên trì và nhẫn nại đó là : vận động hậu môn. Phương pháp này đặc biệt thích hợp với những người làm việc tĩnh tại, ít vận động, thường phải đứng lâu và ngồi lâu. Có nhiều cách tập khác nhau, cụ thể như sau :
* Co thắt cơ vòng
     Ngồi trên ghế tựa, thả lỏng toàn thân, tập trung tư tưởng vào vùng hậu môn, tiến hành từ từ co thót niệu đạo và cơ vòng trực tràng làm nhíu hậu môn sau đó rồi thả lỏng. Tiếp tục làm như vậy chừng 50-100 lần, mỗi ngày 2-3 lần.
* Hít thở thả lỏng
Nằm ngửa trên giường, toàn thân thả lỏng, hai bàn tay đặt chồng lên nhau xoa bụng theo chiều kim đồng hồ kết hợp với thở bụng sâu, khi hít vào bụng phình lên, khi thở ra bụng thót lại. Làm như vậy từ 10-20 lần, mỗi ngày làm 2-3 lần.
* Hãm nước tiểu khi đi đái
     Khi đi tiểu, tiến hành ngắt nước tiểu bằng cách co thắt hậu môn rồi lại đi tiểu tiếp, rồi lại ngắt, làm như vậy nhiều lần cho đến khi đi hết nước tiểu. Mỗi ngày làm 2-3 lần.
* Tập luyện trên giường
     Nằm ngửa trên giường, toàn thân thả lỏng, thở chậm, đều và sâu. Tiếp đó lấy đầu và 2 gót chân làm điểm tựa nhấc cao mông  lên đồng thời nhíu hậu môn, sau đó từ từ thả mông xuống, thả lỏng có hậu môn, làm như vậy 20 lần, mỗi ngày thực hiện thao tác này vào buổi tối trước khi đi ngủ và buổi sáng khi thức giấc.
* Kẹp đùi co thót hậu môn
     Nằm ngửa trên giường, toàn thân thả lỏng thư giãn trong vài phút. Tiếp đó, hai đùi bắt chéo nhau, dùng lực kẹp chặt mông và đùi, thót dần hậu môn, giữ nguyên trong 5 giây hoặc dài hơn. Làm như vậy 20 lần, mỗi ngày 2-3 lần.
* Nằm ngửa co chân, thót hậu môn
     Nằm ngửa trên giường, co hai đầu gối, hai gót chân áp sát vào mông, lấy bàn chân và vai làm điểm tựa, nhấc cao xương chậu, đồng thời co thót hậu môn, giữ nguyên trong 5 giây, làm đi làm lại 10 lượt, mỗi ngày 2-3 lần.
* Ngồi thẳng thót hậu môn
     Ngồi trên ghế hoặc giường, hai bàn chân bắt chéo nhau, hai bàn tay đặt sau lưng rồi từ từ đứng dậy, đồng thời co thót hậu môn, giữ như vậy trong 5 giây rồi thả lỏng, làm liên tục như vậy 15 lần, mỗi ngày thực hiện 2-3 lần.
* Ngâm và co thót hậu môn
     Ngâm hậu môn trong một chậu nước ấm rồi từ từ co thót hậu môn liên tục nhiều lần, kết hợp với việc dùng ngón tay giữa day ấn huyệt Trường cường nằm ở ngay dưới mỏm xương cùng cụt gần sát hậu môn.
     Để đạt được hiệu quả cao và nhanh nhất, cần lựa chọn các cách tập cho phù hợp với tính chất bệnh lý và điều kiện cá nhân, có thể kết hợp nhiều cách tập khác nhau cùng trong một ngày. Vẫn cần phải nhắc lại là, kết quả phòng chống bệnh trĩ bằng các cách tập này chỉ có thể có được khi chúng ta tiến hành một cách đều đặn, kiên nhẫn và đúng phương pháp.


                                                                                       Hoàng Khánh Toàn 

Xùi mào gà

ĐÔNG Y ĐIỀU TRỊ BỆNH XÙI MÀO GÀ

    
     Trong những năm gần đây, do nhiều nguyên nhân khác nhau, xùi mào gà đã và đang có xu hướng gia tăng. Bệnh thường xảy ra ở rãnh quy đầu, đầu niệu đạo, quanh hậu môn và vùng âm hộ, do một loại siêu vi khuẩn gây nên. Tổn thương ban đầu chỉ là một hạt xùi nhỏ có màu hồng nhạt, sau to và dài dần ra, có khi thành đám sợi nhỏ hoặc đám xùi to, phân nhánh, màu hồng, mềm ướt và dễ chảy máu. Bệnh thường không đau chỉ gây cảm giác vướng, ngứa và khó chịu. Khi cọ xát nhiều, tổn thương bị trợt ướt, nhiễm khuẩn thứ phát và gây viêm da vùng lân cận.
     Để trị liệu căn bệnh này, tây y thường dùng các phương pháp huỷ hoại tổ chức như : đốt điện, nạo bằng cua rét, chấm bút chì bạc nitrat, bôi mỡ podophylin 2%, mỡ colchicin 0,1%, chấm dung dịch focmol 40%...Tuy nhiên, hiệu quả trị liệu không phải lúc nào cũng đạt được như ý nguyện và tỷ lệ tái phát vẫn rất cao. Trong y học cổ truyền, xùi mào gà thuộc phạm vi các chứng “táo vưu”, “tao hậu”, “táo hậu”…với nguyên nhân chủ yếu là do vệ sinh không tại chỗ không sạch sẽ, thấp nhiệt hạ chú bì phu, niêm mạc lâu ngày mà phát thành bệnh. Về mặt trị liệu, nguyên tắc chung là phải thanh nhiệt lợi thấp, giải độc tán kết bằng các phương pháp cụ thể như sau :

1. Dùng thuốc uống trong
Có thể chọn dùng một trong các bài thuốc sau :
- Tỳ giải 15g, thương truật 15g, hoàng bá 15g, đại thanh diệp 20g, ý dĩ 20g, thổ phục linh 30g, đan bì 12g, tử thảo 15g, thông thảo 10g, mã xỉ hiện (rau sam) 15g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Nếu nhiệt thịnh biểu hiện bằng triệu chứng tại chố sưng nóng, đỏ đau, đại tiện táo kết gia thêm đại hoàng 9g, sinh thạch cao 15g, kim ngân hoa 15g, tri mẫu 9g ; nếu tái phát gia thêm hoàng kỳ 20g, bạch truật 15g.
- Dã cúc hoa 30g, thổ phục linh 30g, kim ngân hoa 10g, cam thảo 10g, bản lam căn 10g, sơn đậu căn 10g, xạ can 10g, liên kiều 10g, hoàng cầm 10g, chi tử 10g, hoàng bá 10g, thương truật 10g, sơn từ cô 5g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.

2. Dùng thuốc bên ngoài
Có thể chọn dùng một trong các bài thuốc sau đây :
- Bản lam căn 30g, dã cúc hoa 30g, mộc tặc 20g, khô phàn 20g, nga truật 15g, địa phu tử 20g, mỗi ngày 1 thang sắc lấy nước ngâm rửa tại chỗ.
- Mật con quạ 1 phần, dầu lạc 3 phần, hai thứ đem ngâm trong nửa tháng rồi dùng bôi tại chỗ hàng ngày hoặc dùng mật con quạ hoà với bột ngũ bội tử, minh phàn, băng phiến và ô mai nhục bôi tổn thương.
- Mã xỉ hiện 60g, đại thanh diệp 30g, minh phàn 21g, sắc lấy nước ngâm rửa tại chỗ, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 15 phút, sau đó dùng Lục nhất tán 30g, phèn phi 9g trộn đều rắc vào tổn thương.
- Hoàng kỳ, hoàng bá, khổ sâm, ý dĩ lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, mỗi lần dùng 1g rắc lên tổn thương rồi dùng băng bó kín lại, 10 lần là 1 liệu trình, thường dùng 2 liệu trình là có kết quả.
- Mã xỉ hiện 45g, bản lam căn 30g, sơn đậu căn 30g, khổ sâm 30g, hoàng bá 20g, mộc tặc thảo 15g, bạch chỉ 10g, đào nhân 10g, lộ phong phòng 10g, cam thảo sống 10g, tế tân 10g, sắc đặc lấy nước thấm vào gạc đắp lên tổn thương mỗi ngày 1 lần, mỗi lần 15 phút, 5 lần là 1 liệu trình.
- Mã xỉ hiện 30g, bạch tiên bì 20g, tế tân 15g, mật quạ 10g, sắc lấy nước ngâm rửa tổn thương mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 30 phút.
- Khổ sâm 50g, đậu căn 20g, đào nhân 15g, đan bì 12g, tam lăng 30g, nga truật 30g, mộc tặc 20g, sắc lấy nước ngâm rửa tổn thương mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 8 phút, 14 ngày là 1 liệu trình.
- Khổ sâm 50g, sà sàng tử 50g, bách bộ 50g, mộc tặc thảo 50g, bản lam căn 50g, thổ phục linh 50g, đào nhân 30g, minh phàn 30g, xuyên tiêu 30g, sắc lấy nước ngâm rửa tổn thương mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 30 phút.
- Mã xỉ hiện 60g, linh từ thạch 20g, bạch liễm 20g, mộc tặc thảo 30g, sinh mẫu lệ 30g, khổ sâm 30g, bạch hoa xà thiệt thảo 3og, hồng hoa 10g, sắc lấy nước ngâm rửa tổn thương, mỗi ngày 1 lần, mỗi lần 20 phút, 20 ngày là 1 liệu trình.
     Thông thường, người xưa hay phối hợp 1 bài thuốc uống trong với 1 bài thuốc dùng ngoài. Hiện nay, các phương pháp của y học cổ truyền có thể dùng để trị liệu đơn độc với các trường hợp nhẹ, hỗ trợ điều trị các trường hợp nặng hoặc dùng để dự phòng tái phát sau liệu pháp gây hoại tử tổ chức của y học hiện đại.



                                                                                     Hoàng Khánh Toàn

TInh dịch dị thường, ăn gì ?

NGƯỜI MẮC CHỨNG TINH DỊCH DỊ THƯỜNG NÊN ĂN GÌ ?


     Trong mươi năm gần đây, muộn con trở thành một vấn đề khá thời sự đối với nhiều cặp vợ chồng. Nguyên nhân do nam giới phần nhiều là vì mắc chứng tinh dịch dị thường, nghĩa là số lượng tinh trùng suy giảm, chất lượng tinh trùng không đảm bảo ví như tỷ lệ hoạt động thấp, sức vận động suy giảm, số dị dạng vượt quá mức cho phép, thời gian tinh dịch hóa lỏng không bình thường, thậm chí không có tinh trùng hoặc hầu hết tinh trùng bị chết yểu. Trong y học cổ truyền, căn bệnh này được gọi là chứng nam tử tinh thiểu, nam tử tinh hàn hoặc tinh thanh bất dục. Nguyên nhân của chứng bệnh này rất phức tạp, nhưng theo cổ nhân phần nhiều là do tạng thận hư tổn. Y thư cổ Nội Kinh viết : "Thận giả, chủ triết, bế tàng chi bản, tinh chi sở giã", ý muốn nói thận tinh, thận khí và tinh dịch có mối quan hệ hết sức mật thiết. Bởi vậy, các chứng tinh hàn, tinh thiểu, tinh loãng (tinh thanh) đa phần là do thận tinh và thận khí suy giảm gây nên.
     Khi mắc chứng bệnh này, ngoài việc dùng thuốc, tập luyện, châm cứu xoa bóp...cổ nhân còn khuyên nên người bệnh nên trọng dụng những đồ ăn thức uống mang tính ôn ấm có tác dụng bổ thận sinh tinh như :
   * Nước cơm :  còn gọi là mễ du, mễ thang...là thứ nước cơm sánh đặc nổi lên trên mặt nồi cơm hoặc nồi cháo, có tác dụng tư âm, trường lực, bổ ngũ tạng, sinh tinh. Sách Tuỳ tức cư ẩm thực phổ viết : "Mễ du năng bổ dịch điền tinh". Nam giới mắc chứng tinh loãng nên uống nước cơm thường xuyên hoà thêm một chút muối.
   * Trứng chim sẻ hoặc chim cút :  cổ nhân cho rằng ăn hai loại trứng này có tác dụng bổ thận dương, ích tinh huyết, điều hoà hai mạch Xung và Nhâm, là thức ăn rất tốt cho cả hai vợ chồng bị muộn con. Sách Bản thảo kinh sơ viết : "Tước noãn tính ôn, bổ noãn mệnh môn chi dương khí, tắc âm tự nhiệt nhi cường, tinh tự túc nhi hữu tử dã” (trứng chim sẻ tính ấm, có công năng ôn bổ dương khí ở mệnh môn nên thận âm theo đó mạnh lên, tinh đầy mà có con).
   * Thịt chim sẻ :  còn gọi là ma tước nhục, vị ngọt, tính ấm, có công dụng tráng dương khí, ích tinh huyết, làm ấm tạng thận. Y thư cổ viết : “Ma tước nhục năng tục ngũ tạng bất túc khí, trợ âm đạo, ích tinh tủy” (thịt chim sẻ có tác dụng bồi bổ khí của ngũ tạng, làm ấm âm đạo và bổ ích tinh tủy). Cổ nhân khuyên những người bị liệt dương, lãnh tinh, suy giảm số lượng tinh trùng nên ăn thịt chim sẻ.
   * Thận dê :  còn gọi là dương thận, vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ thận khí, ích tinh tủy, rất có lợi cho nam giới tinh dịch lạnh và loãng. Sách Thực y tâm kính viết : “Trị thận hư lao tổn tinh kiệt : dương thận nhất song, khứ chi, tế thiết, vu thị chấp dĩ ngũ vị như thường pháp tác thang thực, tác chúc dĩ đắc” (để chữa chứng thận hư tinh kiệt dùng dương thận một đôi, lọc bỏ màng mỡ, thái nhỏ, nấu với nước đậu xị làm canh ăn hoặc nấu cháo cũng được).
   * Thịt chó :  tính ấm, vị mặn, có công dụng bổ trung ích khí, ôn thận trợ dương, bổ phế khí, cố thận khí, thực hạ tiêu, làm tăng tinh tủy, ấm tỳ vị, ích khí lực, mạnh lưng gối. Sách Bản kinh phùng nguyên viết : “Cẩu nhục, hạ nguyên hư nhân, thực chi tối nghi” (với những người phần dưới hư suy ăn thịt chó cực tốt).
   * Bào thai hươu :  tính ấm, vị ngọt mặn, có công dụng ích thận tráng dương, bổ hư sinh tinh. Sách Bản thảo tân biên cho rằng : bào thai hươu có tác dụng kiện tỳ, sinh tinh, hưng dương bổ hỏa. Sách Tứ xuyên trung dược chí cũng viết : “năng bổ hạ nguyên, điều kinh chủng tử, trị huyết hư tinh thiểu”.
   * Hải sâm :  tính ấm, vị mặn, có công dụng bổ thận ích tinh, nam giới mắc chứng tinh thiểu, tinh lãnh, tinh loãng ăn đều tốt. Sách Bản thảo tùng tân viết : “Hải sâm bổ thận ích tinh, tráng dương liệu nuy” (hải sâm có công năng bổ thận ích tinh, làm mạnh dương khí, trị được chứng liệt dương). Sách Thực vật nghi kỵ cũng viết : “Hải sâm bổ thận kinh, ích tinh tủy”.
   * Mỡ chim bìm bịp :  tục gọi là điền kê du, có công dụng bổ thận ích tinh, nhuận phế dưỡng âm, được dân gian coi là loại thực phẩm cường tráng tư bổ. Y thư cổ cho rằng : điền kê du có tác dụng làm vững thận âm, sinh tinh tăng tủy, nhuận phế tạng, là thuốc quý cho những người tỳ thận hu nhược, khí không hóa thành tinh dịch được.
   * Nhau thai :  còn gọi là tử hà xa, thai bàn, có công dụng bổ khí dưỡng huyết, bổ thận ích tinh. Sách Hội chước y kính viết : “Phàm yêu thống tất nhuyễn, thể hao tinh khô, câu năng bổ ích” (với những chứng lưng đau gối mỏi, thân thể hao gầy, tinh dịch khô kiệt, tử hà xa đều có tác dụng bổ ích).
   * Kỷ tử :  tính bình, vị ngọt, có công dụng tăng tinh ích tủy, bổ tinh tráng dương, ích thận minh mục. Đào Hoằng Cảnh, y gia trứ danh đã viết : “Câu kỷ tử bổ ích tinh khí”. Sách Bản thảo kinh sơ viết : “Câu kỷ tử năng sinh tinh ích khí, âm sinh tắc tinh huyết tự trường” (kỷ tử có khả năng sinh tinh ích khí, phần âm đã đủ thì tinh huyết cũng dồi dào).
   * Củ mài :  còn gọi là hoài sơn hay sơn dược, vị ngọt, tính bình, có công dụng kiện tỳ bổ phế, cố thận ích tinh. Sách Bản thảo chính viết : “Sơn dược, năng kiện tỳ bổ hư, ích tinh cố thận, trị chư hư bách tổn” (hoài sơn có khả năng kiện tỳ bổ hư, ích tinh, làm vững thận, trị được các chứng hư tổn). Cổ nhân khuyên những người thận hư tinh thiếu ăn hoài sơn càng nhiều, càng lâu thì càng tốt.
     Ngoài ra, các thực phẩm khác cũng rất có ích cho việc bổ thận sinh tinh như hạt dẻ, ngân nhĩ, tổ yến, sữa ong chúa, cao da lừa, tinh hoàn và dương vật chó, đông trùng hạ thảo, tắc kè, nhung hươu

                                                                                Hoàng Khánh Toàn



Rau má làm thuốc

KINH NGHIỆM DÂN GIAN CHỮA BỆNH BẰNG RAU MÁ


     Rau má là một loại cỏ mọc hoang khắp nơi, nhưng nó cũng là một thứ rau và một thảo dược rất gần gũi với người dân Việt Nam. Ca dao xưa có câu :
“Đói ăn rau mưng, rau má
Đừng ăn vất vả hư thân”
     Rau má có tên khoa học là Centella asiatica (L.) Urban và có nhiều tên gọi trong dân gian như tích tuyết thảo, liên tiền thảo, địa tiền thảo, mã đề thảo, lão công căn, băng khẩu uyển, thổ tế tân, bán biên nguyệt, đại diệp kim tiền thảo, hồ quả thảo, lục địa mai hoa, đại diệp thương cân thảo...Theo các sách thuốc cổ như Bản thảo cương mục, Bản thảo cầu nguyên, Đường bản thảo, Dược tính luận, Bản kinh, Biệt lục, Nam dược thần hiệu..., rau má có vị đắng, tính hàn, vào được 3 kinh Can, Tỳ và Thận, có công dụng thanh nhiệt lợi thấp, tiêu thũng giải độc, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như tiết tả về mùa hè, bệnh lỵ, vàng da do thấp nhiệt, sỏi đường tiết niệu, tiện huyết, khái huyết, thổ huyết, đau mắt đỏ, viêm họng, dị ứng mẩn ngứa, nhọt độc, tổn thương do sang chấn, bỏng...Một số kinh nghiệm dân gian dùng rau má chữa bệnh như sau :
     Vàng da do thấp nhiệt : rau má 30-40g, đường phèn 30g, sắc uống. Đi lỏng do trúng thử : rau má 30g sắc với nước vo gạo uống hàng ngày. Đái ra máu : rau má và ích mẫu thảo mỗi thứ một nắm, rửa sạch, giã nát vắt lấy nước uống. Táo bón : rau má 30g giã nát đắp vào rốn. Bệnh sởi : rau má 30-60g, sắc uống. Áp xe vú giai đoạn đầu : rau má và vỏ quả cau lượng bằng nhau sắc uống, nếu pha thêm một chút rượu thì càng tốt. Nhọt độc : rau má tươi rửa sạch, giã nát đắp lên tổn thương hoặc rau má tươi 30-60g, sắc uống. Lở loét vùng lưng (đông y gọi là chứng Triền yêu hỏa đan) : rau má tươi rửa sạch, giã nát, ép lấy nước cốt hòa với bột gạo nếp thành dạng hồ rồi bôi lên tổn thương. Chấn thương phần mềm gây sưng nề : rau má tươi 20-30g giã nát, vắt lấy nước hòa với một chút rượu uống. Lở loét ống chân (chứng Liêm sang) : rau má tươi giã nát, đắp lên tổn thương. Đau mắt đỏ : rau má tươi rửa sạch, giã nát, đắp lên vùng mạch ở lằn chỉ cổ tay (thốn khẩu) hoặc rau má tươi rửa thật sạch, ngâm thuốc tím rồi giã nát, ép lấy nước lọc kỹ nhỏ măt 3-4 lần trong ngày (hiện nay không nên dùng vì vấn đề vô trùng). Viêm họng và viêm amydal : rau má tươi 60g rửa sạch, giã nát, ép lấy nước hòa với một chút nước ấm, uống từ từ. Ho gà : rau má 100g, thịt lợn gầy 30g, nấu chín chia ăn 2 lần trong ngày. Các chứng xuất huyết : rau má tươi 30-100g sắc uống hoặc giã nát vắt lấy nước cốt uống. Giải ngộ độc thuốc hoặc thực phẩm : rau má tươi giã nát vắt lấy nước uống, có thể pha thêm một chút đường phèn. Hành kinh đau bụng, đau lưng : rau má khô tán bột, mỗi ngày uống 2 thìa cà phê gạt ngang. Giải nhiệt trị rôm sẩy, mẩn ngứa, mát gan lợi tiểu : rau má tươi 30-100g rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước uống hàng ngày hoặc dùng máy xay sinh tố xay nhuyễn rồi hòa đường uống. 
     Dược lý học hiện đại nghiên cứu cho thấy, trong rau má có chứa các glucozid như asiaticoside, centelloside..., các saponin như brahmic acid, madasiatic acid avf một số chất khác như carotenoids, meso-inositol...Nghiên cứu thực nghiệm trên chuột bạch và chuột cống, các nhà khoa học nhận thấy rau má có tác dụng trấn tĩnh, an thần thông qua cơ chế tác động trực tiếp lên hệ thống thần kinh trung ương. Rau má có tác dụng trị liệu các vết loét ở da và niêm mạc là do các saponin chứa trong dịch chiết có tác dụng kích thích quá trình sinh trưởng của tế bào da, làm tăng sinh mạng lưới huyết quản của tổ chức liên kết, giúp cho các mô tái tạo nhanh chóng khiến vết thương mau lành. Kết quả này thu được từ những thí nghiên cứu dùng dịch rau má tiêm bắp hoặc dưới da cho các động vật thí nghiệm như chuột, thỏ. Mặt khác, rau má còn có tác dụng kháng khuẩn rõ rệt, làm giảm trương lực cơ trơn ở ruột (chống co thắt), hưng phấn nhẹ hô hấp và hạ huyết áp.
     Treehn lâm sàng, các nhà nghiên cứu nhận thấy, bột rau má khô uống với liều 3 lần trong ngày, mỗi lần 5-7g có tác dụng giảm đau khá tốt, tỉ lệ có hiệu quả là 41/42. Đối với bệnh viêm gan virut cấp tính, dùng 150g rau má tươi sắc với 500ml nước, cô còn 250ml, pha thêm đường phèn, chia uống 2 lần trong ngày khi đói bụng cũng có hiệu quả rất rõ rệt. Người ta cũng đã nghiên cứu dùng rau má điều trị các bệnh nhiễm khuẩn màng não-tủy thu được kết quả khá khả quan. Ở nước ta, rau má mới chỉ được nghiên cứu trong điều trị các bệnh ngoài da, đặc biệt là bỏng, ví như sản phẩm Kem rau má của Học viện Quân y.
     Một điều cần lưu ý là, vì rau má có tính lạnh nên những người có thể chất hoặc mắc các chứng bệnh thuộc thể hư hàn không nên dùng.


                                                                                     Hoàng Khánh Toàn

Dưỡng sinh đôi mắt

PHƯƠNG PHÁP DƯỠNG SINH ĐÔI MẮT CỦA NGƯỜI XƯA


     Dân gian có câu : “Giàu hai con mắt, khó đôi bàn tay”, ý muốn nói đến vai trò cực kỳ quan trọng của con mắt đối với cuộc sống của con người. Và cũng chính vì vậy mà từ xa xưa cổ nhân đã thực hành và chiêm nghiệm rất nhiều biện pháp dể dưỡng sinh đôi mắt. Có thể kể ra một số ví dụ cụ thể sau đây :
1. Sáng sớm khi tỉnh giấc, xát hai bàn tay vào nhau cho nóng lên rồi ấp lên mắt ba lần, đồng thời tưởng tượng thấy cảnh đồng quê hoặc những gương mặt mình yêu dấu. Buổi tối, trước khi đi ngủ, dùng ba ngón tay trỏ, giữa và nhẫn khép vào nhau vuốt nhẹ hai mắt từ trong ra ngoài năm lần. Động tác này được gọi là “Phát thần quang”.
2. Dùng hai bàn tay che hai mắt, nhắm mắt lại rồi từ từ day tròn con ngươi 36 lần. Tiếp đó, dùng hai ngón tay trỏ đặt vào hai khóe mắt sát cạnh sống mũi day trong 1 phút. Vị trí đó dọi là huyệt “Tình minh” có công dụng làm sáng mắt. Cuối cùng chớp mắt bằng cách một nhắm một mở, xen kẽ hoặc dùng cách nhắm mắt rồi cố gắng nhướn mày thật cao trong khi mắt vẫn nhắm.
3. Đứng thẳng, chân rộng bằng vai, hai tay chống nạnh, đầu hơi ngửa, trợn trừng hai mắt, cố gắng để tròng mắt lồi ra, sau đó đảo tròng mắt thuận rồi ngược chiều kim đồng hồ, mỗi chiều 7 lần, cuối cùng nhìn ngước lên rồi nhìn xuống 7 lần. Khi đảo mắt, đầu cần giữ yên. Lặp lại mỗi động tác 3 lần.
4. Ban ngày, ngồi xếp bằng, mở to hai mắt tập trung nhìn vào một điểm cố định, khi mỏi nhắm mắt lại trong giây lát rồi lại tiếp tục như vậy vài lần. Ban tối, tìm chỗ tĩnh ngồi, tắt đèn rồi xoay nhãn cầu đủ 81 lần. Xong, nhắm mắt lại, tập trung tinh thần một lúc rồi lại xoay tiếp vài lần. Kiên trì làm động tác này sẽ giúp cho mắt sáng lên và dự phòng tích cực các bệnh lý về mắt.
5. Buổi sáng, khi rửa mặt, dùng khăn thấm nước ấm nóng đắp lên mắt vài lần khiến cho khí huyết được lưu thông, tăng cường nuôi dưỡng cho mắt. Khi làm việc hoặc đọc sách, khi đi ngoài trời lạnh về, thấy mắt mỏi thì dùng nước ấm vã lên mắt.
6. Nên dùng lá dâu tằm sắc lấy nước đặc để rửa mắt. Những ngày tốt nhất để rửa mắt là : mùng 2,4 và 8 tháng giêng ; mùng 2,7 và 10 tháng hai ; mùng 1,3 và 10 tháng ba ; mùng 1,4 và 7 tháng tư ; mùng 1 và 7 tháng năm ; mùng 2 và 7 tháng sáu ; mùng 7 và 10 tháng bảy ; mùng 2 và 3 tháng tám ; mùng 2 và 10 tháng chín ; 19, 29 và 30 tháng mười ; mùng 10, 24, 29 và 30 tháng mười một ; mùng 10, 21 và 22 tháng chạp.
7. Hàng ngày nên uống trà hoa cúc để thanh can minh mục (làm sáng mắt). Hoa cúc làm trà tốt nhất có thể là cúc trắng hoặc cúc vàng được hái vào mùa thu khi hoa vừa mới nở, phơi ở nơi râm mát cho khô rồi đựng trong lọ kín để dùng dần. Mỗi lần lấy dăm bảy bông hoa cúc cho vào ấm hãm với nước sôi, sau chừng mươi phút là dùng được, uống thay trà trong ngày.
8. Có thể thay trà hoa cúc bằng trà câu kỷ tử, mỗi ngày dùng 15g câu kỷ tử hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút là dùng được, uống thay trà trong ngày. Cũng có thể phối hợp cả hoa cúc và kỷ tử với nhau để làm tăng hiệu quả sáng mắt của trà. Người xưa còn khuyên nên nấu canh lá non của cây câu kỷ thường xuyên để dưỡng mắt.
9. Dùng mạn kinh tử 500g, hoàng tinh 1000g, hai thứ đem sắc 9 lần, phơi khô 9 lần rồi đem tán thành bột, mỗi ngày uống 6g sau khi ăn. Đây là bài thuốc có tên gọi là Mạn kinh tử tán được ghi trong y thư cổ nổi tiếng Thái bình thánh huệ phương, có công dụng bổ gan và làm sáng mắt.
10. Nên ăn nhiều gan động vật, đặc biệt là gan gà và gan cá (chú ý không ăn gan của những loài cá có độc). Có thể nấu món gan gà hấp cách thủy ăn để dưỡng mát như sau : Gan gà 1 bộ rửa sạch bằng nước hòa gừng tươi giã nhỏ rồi ngâm với rượu để khử mùi tanh. Tiếp đó, nghiền gan gà cho nhuyễn rồi hòa với lòng trắng 2 quả trứng, một chút nước gừng và nước dùng, gia vị vừa đủ rồi cho vào bát hấp cách thủy trong 15 phút là được, ăn nóng.
     Để bảo vệ mắt, cổ nhân khuyên không nên nhìn vào mặt trời, mặt trăng và đèn lâu sẽ hại mắt. Khi mắt bị đỏ thì không nên phòng sự để tránh bệnh đục thủy tinh thể. Những ngày rửa mắt bằng nước sắc lá dâu không được uống rượu.


                                                                                 ThS Hoàng Khánh Toàn

Mâm xôi làm thuốc

QUẢ MÂM XÔI CÓ CÓ CÔNG DỤNG GÌ ?


     Mâm xôi, hay còn gọi là đùm đũm, đũm hương, phúc bồn tử…, có tên khoa học là Rubus alceaefolius Poir, là loại cây bụi mọc thẳng hay bụi tròn, phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới, cận nhiệt đới và nhiệt đới. Trên thế giới có khoảng hơn 400 loài, ở nước ta có chừng 50 loài mọc hoang rộng rãi ở khắp các tỉnh vùng núi thấp, trung du và đồng bằng. Quả, cành, lá và rễ đều được dùng để làm thuốc trong dân gian.

     Theo dược học cổ truyền, mâm xôi vị ngọt chua, tính bình, có công dụng bổ can thận, sáp niệu, trợ dương, cố tinh, minh mục, thường được dùng để chữa các chứng liệt dương, di tinh, muộn con, lao lực, mắt mờ…Các y thư cổ như Biệt lục, Bản thảo cường mục, Bản thảo kinh sơ, Dược tính luận, Nhật hoa tử bản thảo, Khai bảo bản thảo, Bản thảo giảng nghĩa, Bản thảo mông giám…đều đã ghi lại những phương thang sử dụng mâm xôi làm thuốc với những kiến giải khá sâu sắc. Ví như, sách bản thảo kinh sơ viết : Phúc bồn tử ích khí, ích tinh, thận tàng tinh, thận nạp khí, tinh khí đầy đủ tất thân thể thanh thoát, tóc dài lâu bạc, kiện âm cường dương, da dẻ trắng áng, ngũ tạng an hòa, nam giới thận hư tinh khô, liệt dương, nữ giới muộn con đều kiến hiệu.

     Dinh dưỡng học hiện đại cho thấy, trong mâm xôi có chứa các acid hữu cơ như fupenzic acid, ellagic acid, acid citric, malic, salicylic…), đường, pectin, rất giàu vitamin C, vitamin E, folate, Mg, Zn…Tác dụng dược lý của mâm xôi cũng khá phong phú như kháng khuẩn, thúc đẩy quá trình đốt cháy chất béo với vai trò của chất raspberry keton (RK) giúp ngăn ngừa béo phì và phòng chống vữa xơ động mạch, giảm nguy cơ xuất hiện các cơn đau thắt ngực do thiểu năng động mạch vành tim với vai trò cua ellagic acid và salicylic, bảo hộ tế bào gan, ổn định đường huyết với vai trò của các chất xeton có trong thành phần giúp cơ thể tăng cường sản xuất adinopectin có tác dụng điều hòa đường huyết, chống ôxy hóa và quá trình lão hóa với vai trò của vitamin C, flavonoid, ellagic acid và vitamin E, tăng cường năng lực tình dục và sinh sản ở cả nam giới và nữ giới với lượng vitamin C, vitamin E, folate, Mg, Zn và đặc biệt là một chất có tác dụng tương tự hormon sinh dục nam (testosteron) thông qua việc kích thích các tế bào Leydig của tinh hoàn, phòng ngừa sỏi thận, bảo vệ và nâng cao thị lực, tăng cường năng lực miễn dịch của cơ thể, cải thiện tiêu hóa, làm đẹp da và phòng chống ung thư, đặc biệt là ung thư vòm họng và đại tràng…
     Mâm xôi có thể được sử dụng dưới nhiều dạng khác nhau : Dạng tươi rửa sạch dùng như loại trái cây hoặc chế biến làm kem, yaourt, nhân mứt bánh, hay làm thành nước trái cây, rượu…Ví như dùng quả mâm xôi 1/3 cốc, quả sim chín 1/3 cốc, nước táo tươi 1/2 chén, sữa chua1/4 cốc nhỏ, vani 1/2 thì cà phê, chuối 1 quả, vài lá bạc hà và vài miếng thạch rau câu trắng, tất cả đem xay thành nước sinh tố dùng để giải khát và bổ dưỡng trong những ngày hè nóng bức. Dạng khô được dùng dưới dạng các bài thuốc, ví như : (1) Hải sâm 200g, thịt dê 150g, phúc bồn tử 12g, ích trí nhân 12g, nhục quế 6g, gia vị vừa đủ. Hải sâm ngâm mềm, rửa sạch, thái miếng nhỏ vừa, thịt dê rửa sạch, thái miếng. Trước tiên, bỏ phúc bồn tử và ích trí nhân sắc bỏ bã lấy nước rồi cho thịt dê, hải sâm và nhục quế vào đun nhỏ lửa cho đến khi nhừ thịt dê là được, nêm gia vị vừa đủ, ăn nóng. Công dụng : bổ thận ích khí, ôn dương, dùng để chữa các chứng liệt dương, di tinh, tiểu tiện nhiều lần do thận hư. (2) Chim sẻ 5 con, thỏ ty tử 30 - 45g, phúc bồn tử 10 - 15g, câu kỷ tử 20 - 30g, gạo tẻ 100g, hành, gừng và gia vị vừa đủ Tất cả đem nấu thành cháo, chế đủ gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng : tráng nguyên dương, bổ tinh huyết, ích can thận, ấm lưng gối, dùng thích hợp cho các trường hợp thận khí suy hư dẫn đến liệt dương, xuất tinh sớm, di tinh, lưng gối mỏi đau hoặc lạnh đau, đầu váng mắt hoa, tai ù tai điếc, di niệu, tiểu tiện nhiều lần, phụ nữ khí hư nhiều, muộn con...(3) Ba kích, phúc bồn tử, thỏ ty tử mỗi thứ 15g cho vào ngâm trong 250g rượu gạo, sau 7 ngày có thể dùng được, uống mỗi ngày 20 - 30 ml. Công dụng : bổ thận tráng dương, làm mạnh gân cốt, dùng cho các chứng liệt dương, di tinh, hoạt tinh, lưng gối yếu mỏi, lạnh đau do thận hư gây nên...(4) Nữ trinh tử, phúc bồn tử, tang thầm, câu kỷ tử, tây dương sâm, đường phèn mỗi thứ 150g, ngâm trong 1500ml rượu gạo, bọc kín để nơi thoáng mát, sau 3 tuần có thể dùng được, mỗi tối trước khi đi ngủ uống 1 cốc nhỏ (chừng 20 ml), dùng cho các trường hợp suy giảm khả năng sinh dục, suy giảm chất lượng và số lượng tinh trùng, phụ nữ âm đạo khô rát. (5) Phúc bồn tử, thỏ ty tử, kỷ tử, ngũ vị tử, xa tiền tử, lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, làm hoàn to bằng hạt ngô đồng. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g với nước ấm. Công dụng : chuyên trị liệt dương, di hoạt tinh, muộn con do thận hư. Đây chính là một bài thuốc cổ có tên là “Ngũ tử diễn tông hoàn”. (6) Phúc bồn tử, tang phiêu tiêu, ích trí nhân, sơn thù du, mỗi vị 12g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Công dụng : dùng để chữa chứng đi tiểu nhiều lần, nhất là ở người cao tuổi. (7) Phúc bồn tử, sa uyển tử, sơn thù du, khiếm thực, long cốt, liên tu, mỗi vị 12g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Công dụng : dùng để chữa các chứng di tinh, mộng tinh.
     Có thể thấy, mâm xôi là một vị thuốc quý, mọc hoang rất nhiều ở nước ta. Trên thế giới, khá nhiều công trình nghiên cứu đã tiến hành khảo sát, đánh giá tác dụng của loại dược liệu dân dã này. Tuy nhiên, ở nước ta, hầu như nếu không nói là chưa có một đề tài nghiên cứu khoa học nghiêm túc nào về công dụng của quả mâm xôi. Một điều cần lưu ý là, mặc dù mâm xôi là một vị thuốc bổ nhưng theo ghi chép của các sách thuốc liều dùng mỗi ngày chỉ từ 10 - 30g.
                                                                               Hoàng Khánh Toàn

      

Đông trùng hạ thảo và ung thư

ĐÔNG TRÙNG HẠ THẢO TRỊ LIỆU UNG THƯ NHƯ THẾ NÀO ?

         
     Đông trùng hạ thảo, còn gọi là trùng thảo, hạ thảo đông trùng hay đông trùng thảo, là một giống nấm mọc ký sinh trên con non của một loại sâu thuộc họ Cánh bướm. Nấm và sâu hợp sinh với nhau : vào mùa đông, con sâu non nằm ở dưới đất, nấm phát triển vào toàn thân con sâu để hút chất dinh dưỡng làm cho con sâu chết ; đến mùa hạ, nấm sinh cơ chất (stroma) mọc chồi khỏi mặt đất nhưng gốc vẫn dính liền vào đầu sâu. Người ta thường đào lấy tất cả xác sâu và nấm mà dùng làm thuốc. Vì mùa đông là con sâu, mùa hạ lại thành cây cỏ nên vị thuốc này có tên là ĐTHT, tên khoa học là Cordyceps sinensis.

     Nói đến ĐTHT là nói đến một dược liệu quý có tác dụng dược lý khá phong phú, tác động có lợi cho nhiều hệ thống như miễn dịch, tuần hoàn, hô hấp, nội tiết, thần kinh, cơ quan tạo máu…, trong đó phải kể đến khả năng chống ung thư. Tuy nhiên, tác dụng này được thể hiện ở những mặt nào và đã được chứng minh ra sao thì không phải ai, ngay cả một số thầy thuốc, cũng đều tường tận. Cho đến nay, người ta đã chứng minh được rằng, năng lực kháng ung của ĐTHT được thể hiện trên nhiều phương diện, nhưng nổi bật nhất là những vấn đề như sau :

1. Tăng cường công năng miễn dịch của cơ thể một cách tự nhiên

     Điều này có nghĩa là, việc sử dụng ĐTHT là một trong những biện pháp thuộc miễn dịch trị liệu. Cũng như ngoại khoa, hóa trị và xạ trị, miễn dịch liệu pháp trị liệu ung thư (cancer imunotherapy) là một phương pháp điều trị ung thư được sử dụng rộng rãi hiện nay trên thế giới. Tuy nhiên, khác với ngoại khoa, hóa trị và xạ trị là các biện pháp sử dụng các tác động bên ngoài là phẫu thuật, hóa chất và tia xạ để tác động lên khối u, miễn dịch trị liệu ung thư sử dụng chính hệ miễn dịch của cơ thể của bệnh nhân để tấn công lại các tế bào ác tính.

     Như chúng ta đều biết, hầu hết các tế bào ung thư không bị các tế bào miễn dịch thông thường nhận diện và tiêu diệt như đối với các tác nhân từ bên ngoài. Nguyên nhân là do các tế bào ung thư vốn là những tế bào bình thường của cơ thể nhưng sau khi chịu tác động của các tác nhân gây ung thư bị biến đổi thành tế bào “quái”. Chính vì thế, hệ miễn dịch của cơ thể thường “bỏ sót” những tế bào này so với các tác nhân lạ từ bên ngoài. Miễn dịch trị liệu sử dụng các tế bào đơn nhân của cơ thể đã mang bệnh, tức là đã có kháng nguyên gây bệnh. Sau khi được nuôi dưỡng và biệt hóa, những tế bào này có khả năng trình diện kháng nguyên ung thư cao như những tác nhân xâm nhập từ bên ngoài, qua đó giúp hệ miễn dịch có khả năng nhận diện và kích hoạt các phản ứng miễn dịch để tiêu diệt các tế bào ung thư trong cơ thể.

     Trong số các tế bào được sử dụng trong miễn dịch trị liệu, tế bào tua (hay còn gọi là tế bào đuôi gai, tiếng Anh gọi là dendritic cells - DC) được coi là có hiệu quả cao. Đã có tới hơn 100.000 báo cáo khoa học về ý nghĩa và khả năng ứng dụng của tế bào tua trong miễn dịch trị liệu kể từ khi Ralph Steinman khám phá về tác dụng của tế bào tua lần đầu tiên năm 1973. Các công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng: Các tế bào tua có khả năng tóm bắt và trình diện các kháng nguyên của tế bào ung thư cao và mạnh hơn những tế bào miễn dịch khác (đại thực bào, lympho B). Đồng thời có khả năng di động rất cao, có thể nhận diện kháng nguyên của tế bào ung thư ở nhiều nơi trong cơ thể, qua đó kích hoạt hay còn gọi là “hướng dẫn” một lượng lớn tế bào lympho T tới khắp mọi nơi trong cơ thể để nhận diện chính xác và tiêu diệt các tế bào ung thư.

     Từ đó, vấn đề nghiên cứu tìm ra những hoạt chất có tác dụng hỗ trợ và tăng cường tác dụng của tế bào tua để qua đó gián tiếp tăng hiệu quả của miễn dịch trị liệu ung thư cũng là một nội dung thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới. Y học cổ truyền phương Đông, đặc biệt là ở Trung Quốc, từ lâu đã sử dụng ĐTHT, nhất là loại có nguồn gốc từ cao nguyên Himalaya, trong việc tăng cường miễn dịch và phòng chống ung thư. Tuy nhiên, cơ chế cụ thể như thế nào vẫn còn chưa được rõ ràng.

     Các nhà nghiên cứu thuộc Khoa Huyết học của Bệnh viện Đại học Zhejiang, Bệnh viện Y học cổ truyền Fuyang (Trung Quốc) đã tiến hành đánh giá về tác dụng của ĐTHT trên các tế bào tua được biệt hóa từ bệnh nhân bị bệnh bạch cầu tủy mạn tính (Chronic Myelotic Leukemia – CML), qua đó đánh giá sự liên quan giữa tác dụng phòng chống ung thư của ĐTHT với khả năng kích thích cơ thể sản xuất ra các chất điều hòa miễn dịch nói chung và vai trò đối với tế bào tua nói riêng, nhằm làm rõ hơn nữa cơ chế chống ung thư của loại dược liệu quý giá này.

     Để thu được các tế bào tua từ các bệnh nhân bị bệnh bạch cầu tủy mãn tính (CML), các nhà khoa học đã phân lập tế bào đơn nhân của các bệnh nhân này, sau đó cho tiếp xúc với các yếu tố miễn dịch (GM – CSF, TNF – α, IL – 4) để hình thành các tế bào tua trong ống nghiệm (gọi tắt là CML – DCs). Những tế bào tua mới được hình thành này được chia thành 2 nhóm, 1 nhóm được tiếp xúc với dịch chiết Đông trùng hạ thảo Cordyceps sinensis (gọi tắt là CML – DC – CS) và nhóm còn lại thì không. Sau đó các nhà nghiên cứu tiến hành đánh giá về các thông số miễn dịch như: khả năng biệt hóa thành các phân tử kích thích miễn dịch, sự tăng tiết interleukin 12 (IL – 12) và khả năng kích thích của phản ứng hỗn hợp của bạch cầu lympho (mixed lymphocyte reaction - MLR).. giữa các nhóm tế bào thí nghiệm để xác định tác dụng của ĐTHT đối với tế bào tua hình thành từ bệnh nhân bị bệnh bạch cầu tủy mãn tính. Kết quả nghiên cứu cho thấy:
- ĐTHT làm tăng số lượng tế bào miễn dịch được biệt hóa từ tế bào tua. Số lượng các tế bào miễn dịch được biệt hóa từ các tế bào tua ban đầu (bao gồm CD80, CD86, CD83, CD1a, HLA-DR..) ở nhóm CML-DC-CS cao nhất so với nhóm CML-DC và nhóm chứng. Điều này cho thấy ĐTHT có tác dụng làm tăng khả năng biệt hóa thành các tế bào miễn dịch và gia tăng tính miễn dịch của tế bào tua.
- ĐTHT làm tăng khả năng miễn dịch của các tế bào miễn dịch được biệt hóa từ tế bào tua. Để đánh giá chất lượng của tế bào miễn dịch được biệt hóa, các nhà khoa học đã so sánh đáp ứng miễn dịch trên cùng một số lượng tế bào miễn dịch này ở các nhóm thông qua khả năng kích thích lympho T. Kết quả cho thấy, trên cùng một số lượng tế bào miễn dịch được biệt hóa, khả năng kích thích tế bào lympho T ở nhóm CML-DC-CS cao hơn nhiều lần so với CML-DC và nhóm chứng.
- ĐTHT kích thích tế bào tua tiết ra Interleukin 12 (IL - 12). Interleukin 12 là một trong các thông số quan trọng phản ánh hoạt tính miễn dịch của các tế bào tua. Do đó khả năng tiết ra IL – 12 liên quan tới hoạt lực miễn dịch của các tế bào tua. Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ IL – 12 được tiết ra ở nhóm CML-DC tiếp  xúc với các yếu tố kích thích miễn dịch (CML – DCs) tăng rõ rệt so với nhóm chứng 134.37 +/- 27.7 pg/ml, cao hơn 3 lần so với 43.45 +/- 11.4 pg/ml ở nhóm chứng. Nồng độ IL – 12 được tiết ra ở nhóm CML – CS – DCs là cao nhất, lên tới 208.22 +/- 42.1 pg/ml.
     Với những kết quả nghiên cứu này, các nhà khoa học Trung Quốc đã cho thấy ĐTHT không chỉ có tác dụng làm gia tăng số lượng mà còn cải thiện chất lượng miễn dịch của các tế bào được biệt hóa từ tế bào tua ban đầu. Đồng thời nó còn kích thích làm tăng khả năng miễn dịch trực tiếp từ tế bào tua. Kết quả này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi các biện pháp miễn dịch trị liệu ung thư  đang ngày càng được các nhà khoa học quan tâm do hiệu quả điều trị đạt được và hạn chế tối thiểu tác dụng phụ. Kết quả nghiên cứu này cũng đã làm sáng tỏ một cơ chế tăng cường miễn dịch, phòng chống ung thư của ĐTHT, một thảo dược quý hiếm để có thể sử dụng rộng rãi hơn trong hỗ trợ điều trị, ngăn ngừa tái phái và phòng chống ung thư.
2. Phòng chống di căn ung thư
     Di căn là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu của bệnh ung thư, chính vì vậy việc hạn chế tối đa khả năng khối u di căn là một nhu cầu cấp bách của điều trị ung thư. Hai biện pháp trị liệu bổ trợ lẫn nhau trong chiến lược điều trị ung thư di căn bao gồm điều trị các khối u di căn hiện tại và phòng chống sự phát tán các tế bào ác tính. Tuy nhiên, hầu hết các thuốc điều trị ung thư di căn hiện tại đều chỉ ức chế sự tăng sinh của tế bào ung thư, tức là tập trung vào điều trị khối u hiện tại mà chưa có giải pháp phòng chống sự phát tán của các tế bào ác tính một cách hiệu quả. 
     Việc hiểu rõ các giai đoạn của quá trình di căn ung thư có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa cũng như quyết định xem tác động vào giai đoạn nào của quá trình di căn là hiệu quả nhất. Quá trình di căn ung thư thường trải qua sáu giai đoạn chính : (1) Xâm lấn tại chỗ: Các tế bào ung thư xâm lấn vào các mô bình thường bên cạnh. (2) Xâm nhập mạch máu: Các tế bào ung thư di chuyển qua thành mạch máu hay mạch bạch huyết bên cạnh. (3) Tuần hoàn: Các tế bào ung thư di chuyển qua hệ thống bạch huyết và dòng máu tới các tổ chức khác của cơ thể. (4) Thoát mạch: Các tế bào ung thư ngừng di chuyển trong các mao mạch sau đó xâm nhập qua thành mao mạch vào các mô xung quanh. (5) Tăng sinh: Các tế bào ung thư nhân lên để hình thành khối u nhỏ được coi là các ổ vi di căn (micromestastases). (6) Tạo mạch: Các ổ vi di căn được kích thích làm tăng sinh các mạch máu mới cung cấp máu tới khối u. Máu cung cấp oxy và dinh dưỡng cần thiết cho khối u tiếp tục phát triển.

     Các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng đã xác định vai trò quan trọng của tiểu cầu đối với việc đẩy nhanh quá trình di căn. Đầu tiên, sự kết tập tiểu cầu tại vị trí của các tế bào ung thư trong giai đoạn đang lưu thông trong máu giúp bảo vệ tế bào ung thư khỏi bị tiêu diệt và đào thải bởi các tế bào miễn dịch tự nhiên (NK Cells). Sau đó, tiểu cầu thúc đẩy các tế bào ung thư kết dính với bạch cầu và các tế bào nội mạc và sự kết dính này là điều kiện quan trọng giúp cho tế bào ung thư có thể thoát khỏi mạch máu và bạch huyết hiện tại, tạo dòng tế bào di căn tại những cơ quan đích ở những vị trí xa hơn khối ung thư ban đầu. Ngoài ra, trong quá trình tạo mạch, các chất tiết từ tiểu cầu có tác dụng góp phần kích thích sự hình thành các mạch máu nuôi dưỡng và phát triển khối di căn. Như vậy, sự kết tập tiểu cầu có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy khả năng di căn của nhiều loại ung thư.

     Các nhà nghiên cứu cho rằng các tế bào ung thư có khả năng kích thích kết tập tiểu cầu. Bouchara và cộng sự đã chứng minh khả năng di căn của ba dòng tế bào ung thư hắc tố (melanoma) có liên quan tới việc những tế bào ung thư này tiết ra adenosine 5’ diphosphate (ADP), một chất có tác dụng kích thích kết tập tiểu cầu. Chính vì vậy, kiểm soát và điều hòa khả năng kết tập tiểu cầu có thể đóng vai trò quan trọng trong phòng chống và kiểm soát khả năng di chuyển của các tế bào ác tính, phòng chống di căn.

     Đông trùng hạ thảo đã được một số nghiên cứu chứng minh có tác dụng chống kết tập tiểu cầu mạnh mẽ, không thua kém các thuốc hóa dược mà lại có ít tác dụng phụ hơn. Xuất phát từ những cơ sở khoa học này, các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Dược và Viện Khoa học Sinh học tại Đại học Mukogawa, Nhật Bản đã tiến hành nghiên cứu để đánh giá tác dụng của Cordycepin, một thành phần của ĐTHT đối với việc ức chế di căn trên chuột thực nghiệm bằng tế bào ung thư hắc tố B16 – F1 có vai trò của adenosine 5’ diphosphate (ADP). Kết quả nghiên cứu cho thấy :
- Adenosine 5’ diphosphat (ADP), một chất kích thích kết tập tiểu cầu, có tác dụng làm tăng số ổ di căn phổi ở động vật thí nghiệm. Chuột thí nghiệm (mã số C57BL/6Cr) được tiêm tế bào ung thư hắc tố B16 – F1 bằng đường tĩnh mạch với số lượng 1 x 10 mũ 5 tế bào cùng với ADP ở các liều khác nhau. Sau 14 ngày các nhà nghiên cứu tiến hành đánh giá số lượng các ổ di căn ở mô phổi của chuột thí nghiệm. Tất cả chuột thí nghiệm đều có các ổ di căn sau 14 ngày tiêm tế bào ung thư hắc tố B16 – F1. Số lượng ổ di căn ở chuột được tiêm ADP tăng rõ rệt. Liều ADP càng cao thì số ổ di căn càng nhiều. (Tác dụng phụ thuộc vào liều ADP được sử dụng.)
- Cordycepin có tác dụng làm giảm số ổ di căn do ADP một cách rõ rệt.

Chuột thí nghiệm cũng được tiêm tế bào ung thư hắc tố (melanoma) đường tĩnh mạch với số lượng 1 x 10 mũ 5 tế bào B16 – F1, chất gây kết tập tiểu ADP với các liều từ 0 – 10 mg/kg cân nặng, đồng thời tiêm Cordycepin, một thành phần của ĐTHT ở các liều khác nhau từ 0 đến 5 và 25 mg/kg cân nặng. Sau 14 ngày các nhà khoa học tiến hành đánh giá số lượng các ổ di căn ở mô phổi của chuột thí nghiệm. Kết quả cho thấy Cordycepin, một thành phần của ĐTHT có tác dụng làm giảm số ổ di căn ở phổi của chuột thí nghiệm. Số ổ di căn ở nhóm sử dụng Cordycepin giảm tới 49% - 51% so với nhóm không sử dụng Cordycepin. Liều Cordycepin càng cao thì số ổ di căn càng thấp hơn. (Tác dụng phụ thuộc vào liều Cordycepin sử dụng).

     Với những kết quả nghiên cứu hứa hẹn này, các nhà khoa học Nhật Bản hoàn toàn tin tưởng Cordycepin, một thành phần của ĐTHT có tác dụng làm giảm khả năng di căn qua máu của các tế bào ung thư thông qua việc ức chế kết tập tiểu cầu gây ra bởi adenosine 5’ diphosphate (ADP), một chất thương được tiết ra bởi các tế bào ung thư. Tác dụng này sẽ có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hầu hết các biện pháp trị liệu ung thư hiện tại tập trung vào tiêu diệt khối u, chưa có những biện pháp điều trị và dự phòng cho việc di căn ung thư. Kết quả thí nghiệm này của các nhà khoa học Nhật Bản cũng đã góp phần giải thích vào khả năng chống di căn do kết tập tiểu cầu, một trong những cơ chế tác dụng quan trọng của ĐTHT trong việc phòng ngừa và hỗ trợ điều trị ung thư.

3. Bảo vệ cơ thể, phòng chống tác dụng phụ của hóa trị và xạ trị ung thư

     Hóa trị và xạ trị là những biện pháp điều trị ung thư phổ biến hiện nay, sử dụng hóa chất và tia xạ tiêu diệt các tế bào ung thư trong cơ thể. Mặc dù đã có nhiều biện pháp hạn chế tác dụng phụ nhưng những tác hại của hóa chất và tia xạ trên những tế bào bình thường của cơ thể như tủy xương, niêm mạc ruột, da, tóc..  vẫn còn là  một thách thức đối với  trị liệu ung thư. Phần lớn bệnh nhân có những triệu chứng suy kiệt trong quá trình hóa trị và xạ trị làm cho cơ thể không dung nạp trị liệu, ngoài ra còn phát sinh thêm những rối loạn thể trạng khác. Suy giảm hồng cầu, bạch cầu do suy tủy xương và rối loạn tiêu hóa, giảm khả năng hấp thu là những tác dụng phụ thường gặp nhất ở bệnh nhân hóa trị và xạ trị. Những tác dụng phụ này có tác hại rất lớn đối với hiệu quả điều trị, khả năng chống chọi bệnh tật cũng như sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân vì có ảnh hưởng tới tổng trạng một cách hệ thống. 

     Để hạn chế tác dụng phụ của hóa trị và xạ trị, hiện nay các thầy thuốc thường sử dụng các cytokine, là tập hợp các protein và peptid hòa tan do nhiều loại tế bào của cơ thể tiết ra. Cytokine thường gặp phổ biến là các chất: interleukin, interferon..trong đó erythropoietin là loại được sử dụng phổ biến trong ung thư hóa trị, xạ trị để hạn chế tác dụng phụ, kích thích tủy xương sản sinh ra hồng cầu và bạch cầu. Tuy nhiên, do phạm vi điều trị hẹp và đặc biệt là có nhiều tác dụng phụ nên những thuốc này vẫn được sử dụng rất hạn chế. Nhu cầu về một loại thuốc hỗ trợ bảo vệ cơ thể khỏi hóa trị và xạ trị mà không có độc tính, ít tác dụng phụ để có thể sử dụng rộng rãi đang rất cao.

     Đông trùng hạ thảo được mô tả có nhiều dược tính quý giá: điều hòa hoạt động gan, thận, tim mạch, hệ miễn dịch, thần kinh, nội tiết và steroid. Như đã nói ở các phần trên, ĐTHT có tác dụng hoạt hóa đại thực bào, điều hòa quá trình tự chết (apoptosis) của tế bào ung thư, ức chế sự di căn của khối u. Những tác dụng này của ĐTHT được cho là do khả năng kích thích cơ thể sản xuất ra các cytokine tự nhiên.

     Các nhà nghiên cứu thuộc khoa Hóa trị liệu Ung thư bệnh viện Chang Gung Memorial (Đài Loan) và khoa Hóa trị liệu Ung thư, Đại học UCLA (Hoa Kỳ) đã cùng nhau tiến hành những nghiên cứu để đánh giá tác dụng bảo vệ tủy xương đối với xạ trị và hóa trị của ĐTHT. Nghiên cứu này được tiến hành trên chuột. Chuột thí nghiệm được cho sử dụng dịch chiết ĐTHT (gọi tắt là ĐTHT CS) đường uống với liều 50 mg/kg cân nặng/ngày trong 7 ngày đồng thời được chiếu xạ toàn thân với các liều khác nhau. Một nhóm chuột thí nghiệm khác cũng được cho sử dụng Taxol, một thuốc được sử dụng phổ biến trong hóa trị ung thư. Nhóm chứng được sử dụng giả dược (placebo) để đối chiếu. Vào cuối đợt điều trị, các nhà nghiên cứu thu thập và phân tích các thông số như: số ngày sống sót sau 30 ngày chiếu xạ, mô xương,  mô ruột và số lượng tế bào máu ngoại vi của chuột thí nghiệm để đánh giá tác động của ĐTHT CS. Kết quả nghiên cứu cho thấy :
- ĐTHT có tác dụng bảo vệ cơ thể, làm tăng thời gian sống sót trên chuột thí nghiệm bị chiếu xạ toàn thân. 
- ĐTHT có tác dụng bảo vệ tế bào niêm mạc ruột khỏi các tác dụng phụ của xạ trị. Các nhà nghiên cứu cũng tiến hành xác định tỷ lệ tế bào bị chết từ tiêu bản ruột non của chuột nghiên cứu để đánh giá tác dụng bảo vệ niêm mạc ruột bị chiếu xạ của ĐTHT CS. Số lượng các tế bào tự chết do chiếu xạ giảm rõ rệt ở nhóm chuột thí nghiệm sử dụng ĐTHT CS so với nhóm chứng sử dụng giả dược.
- ĐTHT có tác dụng bảo vệ tế bào tủy xương khỏi các tác dụng phụ của xạ trị. Để đánh giá tác dụng này, các nhà nghiên cứu đã tiến hành đo lường số lượng tế bào tủy xương sống sót cũng như đo lường thời gian và số lượng bạch cầu hồi phục ở máu ngoại vi được hồi phục sau khi bị chiếu xạ. Tỷ lệ và thời gian hồi phục của các tế bào bạch cầu ở máu ngoại vi của nhóm sử dụng ĐTHT CS cũng cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng sử dụng giả dược. Ở liều 5.5 và G.6 Gy, thời gian bạch cầu ngoại vi bắt đầu hồi phục ở nhóm sử dụng ĐTHT CS là 6 ngày, trong khi thời gian này ở nhóm chứng sử dụng giả dược để so sánh là 14 ngày. Ở ngày 21, số lượng bạch cầu hồi phục ở nhóm sử dụng ĐTHT CS lên tới xấp xỉ 80%, trong khi tỷ lệ này ở nhóm sử dụng giả dược chỉ hơn 40% . 
- ĐTHT có tác dụng bảo vệ tủy xương khỏi tác dụng phụ của hóa trị bởi Taxol. Chuột thí nghiệm được cho sử dụng Taxol với liều 17mg/kg cân nặng/ngày (tương đương với liều 91 mg/m2 diện tích cơ thể) vào 1 ngày trước khi được cho sử dụng dịch chiết ĐTHT CS với liều 50 mg/kg/ngày. Nhóm đối chứng sử dụng giả dược không có hoạt tính (placebo) để so sánh. Sau 3 tuần, các nhà nghiên cứu tiến hành đánh giá các thông số: số lượng tế bào bạch cầu ở ngoại biên, số lượng tế bào kích thích miễn dịch đại thực bào và bạch cầu hạt (GM – CFU).. để đánh giá khả năng bảo vệ tủy xương khỏi hóa chất trị liệu ung thư Taxol của ĐTHT CS. Số lượng bạch cầu ở nhóm sử dụng hóa chất Taxol và Đông trùng hạ thảo (Taxol + CS) thấp hơn so với nhóm chứng không phải sử dụng Taxol, không (CON) và có sử dụng Đông trùng hạ thảo (CS). Tuy nhiên số lượng bạch cầu ở nhóm này (Taxol + CS) cao hơn rất nhiều so với nhóm chỉ sử dụng hóa chất Taxol. Đồng thời, số lượng bạch cầu ngoại vi ở nhóm sử dụng ĐTHT kết hợp với hóa chất Taxol hồi phục gần như hoàn toàn sau 28 ngày, cao hơn rất nhiều lần nhóm chỉ sử dụng Taxol.  Về mặt chức năng, các nhà nghiên cứu cũng tiến hành đánh giá số lượng các tế bào kích thích miễn dịch đại thực bào và bạch cầu hạt (GM – CFUs), là những tế bào được biệt hóa từ các tế bào miễn dịch ban đầu (như bạch cầu) để thực hiện các chức năng miễn dịch. Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng tế bào GM – CFUs ở nhóm sử dụng Đông trùng hạ thảo (CS) cao hơn nhiều so với nhóm chỉ sử dụng hóa chất Taxol.

     Mặc dù nghiên cứu mới chỉ thực hiện ở giai đoạn tiền lâm sàng nhưng với những kết quả tích cực, các nhà khoa học thuộc khoa Hóa trị liệu Ung thư Bệnh viện Chang Gung Memorial (Đài Loan) và khoa Hóa trị liệu Ung thư, Đại học UCLA (Hoa Kỳ) đã cho thấy ĐTHT có tác dụng rất tích cực bảo vệ cơ thể khỏi các tác dụng phụ của hóa trị và xạ trị, qua đó cải thiện thể trạng và giúp bệnh nhân dung nạp và tuân thủ đúng liệu trình, đảm bảo hiệu quả điều trị và tăng khả năng hồi phục sức khỏe. Những kết quả này sẽ là tiền đề quan trọng để các nhà khoa học trên thế giới tiếp tục phát triển các nghiên cứu lâm sàng cần thiết để nghiên cứu thành công loại thuốc từ ĐTHT CS có tác dụng bảo vệ cơ thể khỏi các tác dụng phụ của hóa trị và xạ trị, không có độc tính, ít tác dụng phụ để có thể được sử dụng rộng rãi.
   
     Như vậy, có thể thấy, ĐTHT là một dược liệu có công dụng hữu hiệu trong việc can thiệp trị liệu và hỗ trợ trị liệu căn bệnh ung. Ngoài những tác dụng đã được chứng minh ở trên, ĐTHT còn nhiều tiềm năng khác như cung cấp các chất dinh dưỡng, nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan, loại trừ các gốc tự do, chống lão hóa…, nói theo thuật ngữ của y học cổ truyền phương Đông là có công năng “Bổ thận”, “Nâng cao chính khí”…, rất có lợi cho việc phòng chống ung thư. Những vấn đề này rất cần được chứng minh bằng các công trình nghiên cứu khoa học công phu và nghiêm túc.

                                                                                   Hoàng Khánh Toàn