Thứ Tư, 19 tháng 7, 2017

CHỮA HO TRẺ EM BẰNG KINH NGHIỆM DÂN GIAN

CHỮA HO TRẺ EM BẰNG KINH NGHIỆM DÂN GIAN


     Ho là một trong những triệu chứng rất thường gặp ở trẻ em trong nhiều căn bệnh như viêm họng, viêm amydal, viêm phế quản, viêm phế quản phổi, ho gà, hen phế quản, viêm mũi dị ứng, viêm xoang…với nhiều nguyên nhân khác nhau. Ở điều kiện sinh lý bình thường, ho là một phản xạ sinh lý có tính bảo vệ cơ thể. Chính nhờ các phản xạ ho, bằng sự thở ra rất mạnh giúp làm sạch đường thở, tống xuất đàm, dịch tiết hoặc vật lạ lọt vào đường hô hấp, giúp nhung mao hô hấp hoạt động tốt. Tuy nhiên, khi ho quá mức thì lại trở thành một trạng thái bất lợi cho cơ thể và buộc bệnh nhi phải được sử dụng các biện pháp can thiệp cần thiết.
     Trong y học cổ truyền, ho thuộc phạm vi chứng “khái thấu” và được trị liệu bằng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó có việc dùng các kinh nghiệm dân gian đã có từ lâu đời. Bài viết này xin được giới thiệu một số ví dụ điển hình để độc giả tham khảo và sử dụng cho con trẻ khi cần thiết.
1. Dùng thuốc chữa ho
- Thịt ô mai (quả mơ) 3 quả, cam thảo 5 lát. Hai thứ giã nhỏ, ngậm thường xuyên, với trẻ nhỏ tuổi có thể hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, nhỏ vào họng của trẻ mỗi lần 5 giọt, mỗi ngày vài ba lần.
- Lá hẹ tươi 10 lá, đườngn phèn vừa đủ. Lá hẹ rửa sạch, thái nhỏ, đem hấp cách thủy cùng đường phèn, cho trẻ uống mỗi lần 2-3 thì cà phê, mỗi ngày 2 lần. Chuyên dùng để chữa cho trẻ khi bị cảm cúm có ho, sốt, sổ mũi.
- Tỏi lâu năm 3-4 nhánh, bóc vỏ, đập dập, cho vào cốc, đổ khoảng 100 ml nước sôi ngâm qua đêm, hôm sau lấy ra cho trẻ uống mỗi ngày 3 lần sau bữa ăn, có thể hòa thêm một chút đường cho dễ uống và làm giảm tính kích thích của tỏi.
- Bách bộ 6g, bạch tiền 6g, sa sâm 9g, xuyên bối mẫu 3g, sắc đặc, chia uống 3 lần trong ngày, dùng liên tục 5 ngày.
- Cúc vạn thọ 15 bông, sắc kỹ lấy nước, hòa thêm một chút đường đỏ, chia uống 3 lần trong ngày.
- Kinh giới, bách bộ, bạch tiền và trần bì mỗi thứ 6g, tử uyển 9g, cát cánh và cam thảo mỗi thứ 6g, sắc với 1 bát nước, cô lại còn nửa bát, chia uống vài lần trong ngày, mỗi ngày dùng 1 thang. Dùng cho tất cả các trường hợp ho.
- Rễ cây dâu 20g (cạo vỏ, tẩm mật ong, sao vàng)lá hẹ 20g, hoa đu đủ đực 20g, mạch môn 20g, tất cả đem sắc với ba bát nước, cô lại còn 1 bát, hòa thêm đường phèn,chia uống 3 lần trong ngày.
- Lá dâu tằm 20g, bạc hà 10g, rau má 20g, rễ cây chanh 10g, lá hẹ 10g, sắc kỹ lấy nước, chia uống vài lần trong ngày, có thể hòa thêm một chút đường phèn. Dùng chữa ho do cảm sốt.
- Gừng tươi 40g, củ sả 40g, đường trắng 100g. Hai thứ giã nhỏ, vắt lấy nước, hòa đường rồi cô nhỏ lửa thành dạng kẹo, mỗi lần lấy một ít ngậm dần.
- Quất hồng bì 20g, đường phèn lượng vừa đủ. Quất hồng bì rửa sạch, bỏ hạt, đem hấp cách thủy với đường phèn, mỗi ngày cho trẻ uống 2 lần, mỗi lần một thì cà phê.
- Vỏ trắng rễ cây dâu 12g (ngâm nước gạo một đêm), hoa cúc 12g, mạch môn 12g (đồ chín, rút bỏ lõi), bạc hà 8g, lá chanh 16g. Tất cả đem sắc với 500 ml nước, cô còn 200 ml, chia uống vài lần trong ngày.
2. Chữa ho không dùng thuốc
     Dùng một vài giọt dầu như: dầu sả, tinh dầu tràm, dầu hạnh nhân hoặc tinh dầu bạc hà vào lòng bàn tay, xoa đều rồi day xát nhẹ nhàng lòng bàn chân cho trẻ, bấm nhẹ điểm nối giữa 2/5 và 3/5 đường nối đầu mút ngón trỏ với điểm giữa bờ sau gót chân. Tiếp đó, cũng xoa xát vùng liên sống bả (ở giữa hai xương bả vai) cho trẻ sao nóng lên là được. Cuối cùng, tiến hành vỗ rung long đờm giảm ho bằng cách khum bàn tay lại rồi vỗ đều vào vùng lưng trẻ ở phần giữa hai bả vai ở tư thế nằm hoặc ngồi đầu hơi dốc xuống. Chú ý làm nhịp nhàng liên tục, tiến hành lúc trẻ đói, tốt nhất là buổi sáng ngủ dậy, khi chưa ăn gì.   


                                                                                  Hoàng Khánh Toàn

Thứ Ba, 18 tháng 7, 2017

KHÍ CÔNG CHỮA SỎI MẬT VÀ TIẾT NIỆU

KHÍ CÔNG PHÒNG CHỐNG SỎI MẬT, SỎI TIẾT NIỆU


     Khi không may bị sỏi mật hay sỏi tiết niệu, người ta thường nói đến việc thay đổi chế độ ăn, dùng thuốc, xoa bóp, bấm huyệt…nhưng ít ai nói đến vấn đề tập luyện khí công dưỡng sinh. Có thể nói, đây cũng là một phương pháp độc đáo có công dụng dự phòng cũng như hỗ trợ trị liệu các bệnh lý về sỏi với công năng hành khí, tán kết, nhuyễn kiên. Xin được giới thiệu hai công pháp điển hình.
1. Nội dưỡng công với bệnh sỏi mật
     Đây là một trong những công pháp chủ yếu thuộc thể loại tĩnh công, nghĩa là khi luyện công cơ thể hoàn toàn bất động. Nói là cơ thể bất động nhưng kỳ thực khi luyện tập, tạng phủ kinh lạc bên trong lại vận động rất mạnh mẽ, cho nên tĩnh công trên thực tế là ngoại tình nội động. Để phòng chông bệnh sỏi mật và sỏi tiết niệu , có thể kiên trì tập luyện đơn giản như sau :
     Chon tư thế nằm nghiêng, nếu đau nhiều hạ sườn phải nên tránh nằm nghiêng về bên phải. Tâm tĩnh, hia mắt nhắm hờ, đầu hơi cúi về trước, cột sống cong nhẹ ra sau. Tay ở dưới gấp lại tự nhiên, năm ngón tay duỗi, lòng bàn tay hướng lên, đặt trên gối, trước tai. Tay ở trên duỗi thẳng tự nhiên, năm ngón tay xò era và thả lỏng, lòng bàn tay hướng xuống, đặt trên vùng hông cùng bên, chân ở trên hơi gấp, chân ở dưới duỗi thẳng, hai đùi chồng lên nhau, hai gối sát vào nhau. Tập trung ý nghĩ vào vùng túi mật hoặc Đan điền. Thở bằng mũi, đầu tiên hít vào nhẹ đều liên tục, sau đó từ từ thở ra nhẹ đều liên tục, rồi lại tiếp tục chu trình như vậy trong thời gian 30-60 phút. Sauk hi bệnh tình chuyển biến tốt thì chuyển sang tư thế ngồi. Mỗi ngày luyện công 2-4 lần.
2.Lợi hạ tiêu dũng lâm công với bệnh sỏi tiết niệu
     Lần lượt thực hành các động tác sau đây :
- Đẩy bụng (thôi phúc). Chọn tư thế nằm ngửa. Lấy hai bàn tay đặt chồng lên nhau, tay trái ở dưới, tay phải ở trên, ấn vào huyệt Trung quản (lÊy ë ®iÓm gi÷a cña ®o¹n nèi rèn vµ ®iÓm gÆp nhau cña hai bê s­ên, trªn rèn 4 thèn). Khi thở ra, hai tay từ Trung quản đẩy thẳng đến khớp xương mu. Làm như vậy 36 lần.
- Nặn rốn, xoa bóp bụng. Tìm huyệt Lao cung bàn tay phải (nắm chặt các ngón tay, huyệt ở trên đường vân tim của gan bàn tay, nơi khe của ngón giữa và ngón vô danh chấm vào đường vân này), đặt trên rốn rồi thuận theo chiều kim đồng hồ, xoay chuyển và xoa bóp 36 lần. Sau đó lấy rốn làm trung tâm, nhẹ nhàng hướng ngược chiều kim đồng hồ xoay chuyển và xoa bóp bụng 36 lần.
- Cũng dùng thủ pháp như trên dùng huyệt Lao cung tay trái ấn vào Đan điền rồi thuận theo chiều kim đồng hồ xoay chuyển và xoa bóp bụng 36 lần
- Dùng ô mô út (tiểu ngư tế)ấn hai bên bụng dưới, ấn đẩy 36 lần.
- Chuyển tư thế ngồi. Hai bàn tay xát vào nóng ròi đặt lên hai bên xương cùng, xát lên xuống nhiều lần sao cho vùng này nóng lên là được.
- Tiếp theo, lấy bốn ngón tay bàn tay trái : ngón trỏ, ngón giữa, ngón nhẫn và ngón út khép lại, dùng mặt các ngón tay, từ phía đầu gối trái mé trong ấn đẩy tới gốc đùi 300 lần. Sau đó, lại dùng bốn ngón tay tương tự của bàn tay phải làm theo cách như trên, ấn đẩy mé trong đùi phải 300 lần.
- Cuối cùng, nằm ngửa trên giường, hai đầu gối gấp hướng về phía ngực bụng, mười ngón tay giao nhau úp vào đầu gối, trước sau từ từ day xoa vùng bụng, đồng thời hít vào sâu sau đó từ từ thở ra bằng mũi. Làm như vậy 24 tức.
     Cả hai công pháp trên đều rất đơn giản, dễ học, dễ làm và không tốn kém. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả cao nhất rất cần việc thực hành liên tục, kiên trì và đúng phương pháp.


                                                                                   Hoàng Khánh Toàn 

CHÂM CỨU CHỮA SỎI MẬT VÀ SỎI TIẾT NIỆU

CHÂM CỨU CHỮA SỎI MẬT VÀ SỎI TIẾT NIỆU


     Sỏi túi mật và sỏi tiết niệu là những bệnh thường gặp và dễ gây các biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe. Trong y học cổ truyền, sỏi mật thuộc phạm vi chứng “đởm thạch” và sỏi tiết niệu thuộc phạm vi chứng “ngũ lâm”. Trong trị liệu hai căn bệnh này, người ta thường chú trọng nhiều đến việc dùng thuốc uống trong mà chưa thật sự chú trọng đến việc sử dụng các biện pháp không dùng thuốc, trong đó có châm cứu. Bài viết này xin được giới thiệu một số quy trình châm cứu chữa sỏi túi mật và sỏi tiết niệu để bạn đọc tham khảo và vận dụng khi cần thiết.
1. Sỏi túi mật
* Huyệt vị : A thị huyệt (điểm ấn đau vùng bụng trên bên phải), huyệt Nhật nguyệt (từ núm vú kéo thẳng xuống ở khoảng giữa gian sườn 7, sát bờ trên xương sườn 8) bên phải và hai huyệt Dương lăng tuyền (ngồi thẳng co gối, thõng chân xuống, huyệt ở chỗ lõm phía trước nơi thân nối với đầu trên xương mác) là chủ huyệt. Những huyệt hỗ trợ là Hợp cốc (ở chỗ lõm giữa xương bàn tay thứ nhất và thứ hai (ngón cái và ngón trỏ), dùng ngón tay cái ấn men theo bờ xương bàn tay thứ hai tìm điểm khi ấn có cảm giác đau tức lan sang ngón tay út thì đó là vị trí của huyệt) và 12 huyệt tỉnh khi có sốt, Trung quản (trên đường giữa bụng, từ rốn đo lên 4 thốn) và Nội quan (vểnh ngược bàn tay vào cẳng tay để lộ rõ khe của gân cơ gan tay lớn và gân cơ gan tay bé, huyệt nằm giữa hai gấn cơ này trên nếp gấp lằn cổ tay 2 thốn) khi có nôn và buồn nôn.
* Thao tác : Để bệnh nhân nằm ngửa, gối gấp 45 độ. Trước tiên xác định và châm nghiêng A thị huyệt và Nhật nguyệt với góc 45 độ, sâu 0,5-1 thốn, thực hiện thao tác vê kim. Tiếp theo, châm Dương lăng tuyền sâu 1,5-3 thốn với thao tác nâng đẩy và vê kim. Châm Trung quản sâu 1,5-2 thốn, châm nghiêng và vê kim, châm Hợp cốc sâu 0.5-1 thốn, châm thẳng và thực hiện thao tác vê kim. Nếu trong cơn đau, dùng kim tam lăng chích máu 12 huyệt tỉnh và thực hiện thao tác vê kim các huyệt khác liên tục cho đến khi hết đau, có thể lưu kim từ 1-2 giờ.
     Sỏi túi mật là một bệnh thường gặp trong ngoại khoa và hầu hết được y học hiện đại xử lý bằng phẫu thuật. Châm cứu có thể giúp cho túi mật tăng co bóp, giảm sự co thắt của cơ Oddi, tống xuất sỏi và các chất ứ trệ trong túi mật. Nghiên cứu của các nhà y học cổ truyền Trung Quốc cho thấy, nếu thực hiện đúng kỹ thuật thì sau 2-3 lần châm cứu , sỏi có thể bị đẩy ra bên ngoài, nếu thực hiện sau 5-7 lần mà đạt hiệu quả thì nên dừng lại và chuyển sang biện pháp khác.
2. Sỏi tiết niệu
* Huyệt vị : A thị huyệt là chủ yếu, các huyệt phối hợp được chọn tùy theo các biểu hiện lâm sàng. Huyệt Thận du (dưới gain gang đốt sống thắt lưng 2, từ đường giữa cột sống ngang ra 1,5 thốn), huyệt Kinh môn (dưới đầu mút của xương sườn cụt, đè vào có cảm giác ê hoặc tức) dùng cho sỏi thận và sỏi niệu quản trên. Huyệt Dương lăng tuyền (ngồi thẳng co gối, thõng chân xuống, huyệt ở chỗ lõm phía trước nơi thân nối với đầu trên xương mác) dùng cho sỏi niệu quản giữa và dưới. Huyệt Quan nguyên (là giao điểm của 3/5 trên và 2/5 dưới của đường nối rốn và điểm giữa bờ trên xương mu) và huyệt Trung cực (trên đường giữa bụng dưới rốn 4 thốn, trên điểm gữa bờ trên xương mu 1 thốn) dùng cho sỏi bàng quang. A thị huyệt bao gồm :
- Điểm ấn đau trong sỏi thận và sỏi niệu quản trên thường xuất hiện tại vùng phân bố của dây thần kinh tủy sống giữa đốt sống ngực thứ X và thắt lưng thứ I.
- Các điểm ấn đau trong sỏi niệu quản giữa và dưới thường xuất hiện tại vùng phân bố của các dây thần kinh tủy sống giữa đốt sống ngực thứ IX và thắt lưng thứ II.
- Các điểm ấn đau trong sỏi bàng quang thường xuất hiện ở vùng bụng dưới
- Đau quặn trong sỏi thận và sỏi niệu quản thường lan đến vùng thận, vùng bụng dưới và mặt trong đùi, nhưng trong sỏi bàng quang đau ở vùng hội âm.
- Những điểm hiện ra trên da của sỏi trên phim X quang cũng có thể chọn làm A thị huyệt.
* Thao tác : Những huyệt ở trên mức cột sống thắt lưng II được châm nghiêng 30-45 độ với kim hướng về phía cột sống, sâu từ 1-1,2 thốn, thực hiện thao tác vê kim. Những huyệt ở dưới mức cột sống thắt lưng II được châm thẳng góc với thao tác nâng, đẩy và cọ kim, sâu từ 1-2 thốn. Những huyệt ở vùng bụng nên châm thẳng góc cho đến phúc mạc kèm thao tác nâng, đẩy và cọ chậm rãi. Châ. Châm huyệt Dương lăng tuyền và Túc tam lý sâu 1,5-2 thốn kém theo thao tác nâng, đẩy và vê kim.
     Phương pháp châm trong cơn đau quặn thận tương tự như với cơn đau quặn mật. Thao tác được thực hiện trong 10-20 phút, lưu kim 30-60 phút, mỗi ngày châm một lần, 7 ngày là một liệu trình, giữa hai liệu trình nghỉ 2 ngày.
     Ở Trung Quốc, phương pháp dùng châm cứu trị liệu sỏi tiết niệu được sử dụng khá rộng rãi và cho hiệu quả rất đáng chú ý. Một nghiên cứu tại bệnh viện Quân đội Trung Quốc 31 tiến hành điều trị trên 100 bệnh nhân bị sỏi tiết niệu bằng phương pháp điện châm cho kết quả 75 trường hợp sỏi bị tống ra ngoài và 17 trường hợp sỏi di chuyển xuống dưới. Một nghiên cứu khác ở Giang Tây dùng phương pháp điểm huyệt chữa khỏi cho 13 trường hợp , sỏi bị đẩy ra ngoài nhanh nhất là 6 giờ và chậm nhất là 18 giờ. Các tác giả nhận thấy, từ 10-30 phút sau khi châm cơn đau quặn thận có thể nặng lên do sự di chuyển của viên sỏi, nên kiên trì tác động thì viên sỏi có thể bị tống ra ngoài.


                                                                                    Hoàng Khánh Toàn

Thứ Ba, 30 tháng 5, 2017

MỖI CÂY MỘT BỆNH

MỖI CÂY MỘT BỆNH
(Kỳ 2)

* Ngũ da bì chữa bệnh eczema
     Còn gọi là cây chân chim, vị đắng chát, tính mát, có công dụng khu phong trừ thấp, phát hãn giải biểu, thư cân hoạt lạc, thường được dùng để chữa cảm sốt, sưng đau họng, thấp khớp, đau nhức xương khớp, vết thương sưng đau, một số bệnh da liễu, trong đó có eczema. Có được công dụng chữa bệnh da liễu nói chung và eczema nói riêng là do trong thành phần có chứa acid asiatic, glycozid triterpen có tác dụng chống viêm, kháng khuẩn, giảm đau, chống dị ứng, tăng khả năng miễn dịch, chống lở loét và bảo hộ tế bào gan. Khi bị eczema có thể dùng : (1) Lá ngũ gia bì, bạch chỉ, hy thiêm thảo (cây cỏ đĩ), rễ gấc, tỳ giải, thổ phục linh các vị bằng nhau 20g, sắc uống ngày một thang, chia 2 lần vào sáng và tối, liệu trình trong 7 ngày. (2) Dùng viên ngũ gia bì, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 5 viên. (3) Cành nhỏ ngũ gia bì lượng vừa đủ, sắc lấy nước để ngâm rửa vùng tổn thương nhằm giảm cảm giác ngứa ngáy. (4) Rễ ngũ gia bì tươi rửa sạch, giã nát cùng với hoa cúc trắng rồi đắp trực tiếp lên vùng tổn thương trong 15-20 phút rồi rửa sạch bằng nước ấm.
* Cây sả giúp giải cảm
     Là một trong những gia vị quen thuộc của người Việt, vị cay, tính ấm, có công dụng làm ra mồ hôi, thông tiểu, hạ khí tiêu đờm. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, sả có tác dụng kháng khuẩn, kháng virut và nấm, giảm đau, hạ sốt, chống viêm. Khi bị cảm có thể dùng : (1) Lá sả, kinh giới, tía tô, trắc bá diệp, bạc hà, lá chanh, lá tre, lá ổi…mỗi thứ một nắm (mỗi nồi chừng 5 loại lá) nấu nước để xông giải cảm. (2) Bột giải cảm: sả khô bỏ rễ 40g, hoắc hương khô 40g, bạc hà khô 40g, vỏ quýt lâu năm 20g, củ gấu (đã chế biến) 20g, cam thảo 20g. Tất cả sấy khô, tán bột đóng gói 20g. Người lớn ngày 2 gói chia 4 lần. Trẻ em liều 1/2. Uống với nước nóng, đi nằm cho ra mồ hôi. Nếu có nôn cho thêm 3 láy gừng tươi hãm lấy nước uống cùng. (3) Củ sả 40g, gừng tươi 40g, hai thứ rửa sạch, giã nát, nấu với 650 ml nước, đun khoảng 10 phút, bỏ bã, thêm đường vào cô lại thành cao, ngậm nuốt dần trong ngày.
 * Hoa mười giờ chữa ho, viêm họng
     Theo dược học cổ truyền, loài hoa này vị đắng cay, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết tiêu sưng, chỉ thống, thường được dùng để chữa chứng hầu họng sưng đau, viêm da, lở ngứa, ghẻ, bỏng lửa…Trong thành phần của hoa mười giờ có potulal, cyanin…, có khả năng khánh khuẩn, tiêu viêm, tăng cường miễn dịch, được coi là một loại kháng sinh thực vật. Khi bị ho, viêm họng có thể dùng : (1) Hoa mười giờ tươi 30g, sắc uống. (2) Hoa mười giờ tươi 100g, lá rẻ quạt 10g, rửa sạch, giã nát, hòa với 100 ml nước nóng rồi chắt lấy nước cốt, ngậm 2-3 lần trong ngày, sau chừng 3-5 ngày sẽ khỏi. (3) Hoa mười giờ tươi 30g, húng chanh 30g, rửa sạch, giã nát vắt lấy nước cốt ngậm rồi nuốt dần.
* Cây hương thảo phòng và hỗ trợ chữa ung thư vú
     Còn có tên gọi là cửu lý hương, xuất xứ từ Địa Trung Hải, được coi là một loại gia vị có thể dùng khá thoải mái. Tuy nhiên vì có tác dụng gây xung huyết nên cũng cần có liều lượng nhất định. Trong thành phần của hương thảo có chứa tinh dầu terpene, acid rosmarinic, các flavoid, choline, một glucosid không tan trong nước, một saponosid acid, các acid hữu cơ (citric, glycolic, glyeeric) và hai heterosid là romaside và romarinoside…có tác dụng chống ôxy hóa, bất hoạt các gốc tự do, giảm đau, ngăn chặn sự nhân lên của các tế bào ung thư, bảo vệ cơ thể khỏi hợp hất HCA và PAH, những chất gây ung thư có trong thực phẩm, nhất là thịt khi nấu ăn. Một nghiên cứu cho thấy, việc thêm lá hương thảo vào chế độ ăn uống hằng ngày có thể giúp giảm tới 71% mức độ những chất gây ung thư có trong thịt. Vì thế, nó chính là một trong những loại gia vị chống viêm tốt nhất với khả năng phòng ngừa ung thư vú có hiệu quả. Có thể dùng hương thảo dưới dạng bột uống 0,25-0,5g/ngày ; 20-30g khô hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày hoặc kết hợp với tinh nghệ với liều lượng thích hợp.
* Bạch quả giúp giải rượu
     Vị ngọt đắng, tính bình, có công dụng liễm phế khí, định suyễn ho, cầm đái trọc, súc tiểu tiện, chuyên trị hen suyễn, đàm thấu, bạch đới, bạch trọc, di tinh, bệnh lâm, tiểu tiện nhiều lần liên tiếp và làm tỉnh say rượu. Trong thành phần bạch quả có chứa một loại enzyme giúp thúc đẩy quá trình trao đổi chất khiến cơ thể đào thải và chuyển hóa chất cồn nhanh hơn. Ngoài ra, còn làm tăng tuần hoàn não, cải thiện khả năng ghi nhớ giúp người say rượu tỉnh nhanh và tránh tình trạng quên lẫn, chống ôxy hóa bảo vệ tế bào não khỏi tác hại của rượu, chống rối loạn tiền đình. Ở Nhật, bạch quả thường được dùng trong các bữa tiệc rượu để giúp thực khách phòng say rượu. Để giải rượu có thể dùng : (1) Nhân bạch quả sống 10-20g, giã nát sắc uống hay nướng chín tán bột. (2) Bạch quả 10 quả, 5 để uống sống, 5 để chín. (3) Dùng dưới dạng cao khô, ngày dùng 120-240mg, chia 2-3 lần; 40mg cao tương đương 1,4-2,7g lá hoặc cao lỏng (1:1), mỗi lần 0,5ml, ngày dùng 3 lần. 
* Kim ngân hoa chữa viêm tắc tuyến lệ
     Kim ngân hoa được coi là một trong những kháng sinh thực vật nổi tiếng, vị ngọt, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt giải độc, thường được dùng đề chữa các chứng bệnh liên quan đến viêm nhiễm, dị ứng…Nghiên cứu hiện đại chao thấy, thảo dược này có tác dụng kháng vi sinh vật (vi khuẩn, virut…), chống viêm, giải độc, chống dị ứng, lợi mật, bảo hộ tế bào gan, giảm huyết áp, điều chỉnh đường máu và mỡ máu…Để chữa viêm tắc tuyến lệ có thể dùng : (1) Kim ngân hoa 20g, cúc hoa 20g, bồ công anh 20g, cho 3 vị vào nồi đổ ngập nước, đun sôi bằng lửa nhỏ trong 15 phút, chắt ra bát nước đầu, đun tiếp lần hai lấy nước, trộn 2 lần nước với nhau chia uống 3 lần trong ngày. (2) Kim ngân hoa 15g, gai bồ kết 15g, bồ công anh 15g, liên kiều 15g, phòng phong 12g, bạch chỉ 10g, xuyên khung 8g, cam thảo 6g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. (3) Kim ngân hoa 20g, hạ khô thảo 15g, cúc hoa 12g, hoàng cầm 12g, ngưu bàng tử 10, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Cây huyết dụ chữa thổ huyết
     Huyết dụ vị nhạt, tính mát, có công dụng lương huyết, bổ huyết, cầm máu, làm tan máu ứ, giảm đau, trừ phong thấp, thường được dùng để chữa các chứng xuất huyết như rong kinhm sốt xuất huyết, thổ huyết, khạc huyết, tiện huyết, nục huyết…Để chữa thổ huyết có thể dùng : (1) Huyết dụ tươi 30g, trắc bá diệp sao đen 20g, cỏ nhọ nồi 20g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. (2) Huyết dụ 10g, rễ rẻ quạt 8g, trắc bá sao đen8g, thài lài tía 4g, sắc uống. (3) Huyết dụ tươi 50g (nếu khô 20g) sắc uống.
* Chuối hột chữa đau dạ dày
     Vị chát, tính bình, vỏ có chứa enzyme polyphenol oxydase ; hạt chưa saponin, coumarin, tannin, flavonoid…có tác dụng kháng khuẩn, tiêu viêm, giảm đau, làm băng se niêm mạc, trung hòa dịch vị. Để chữa đau dạ dày có thể dùng : (1) Chuối hột, sắn dây, nghệ vàng lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, uống mỗi lần 3 thìa cà phê bột thuốc hòa với 1 thìa mật ong và 100 ml nước, mỗi ngày 3 lần sau bữa ăn. (2) Chuối hột thái lát, sấy khô, tán bột, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 2 thìa cà phê. (3) Chuối hột 1 quả cắt lát sao vàng, kim tiền thảo 50g, rễ cỏ tranh 50g, bong mã đề 50g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. (4) Chuối hột 10 quả, thái lát, sao vàng, rau má 20g, diếp cá 15g, lá sen khô 10g, củ mài 20g, tất cả đem sắc với 800 ml nước, cô còn 300 ml, chia uống vài lần trong ngày.
* Rau mùi tàu chữa đái dầm trẻ em
     Mùi tàu hay còn gọi là ngò gai được đánh giá là chứa nhiều chất dinh dưỡng tốt cho sức khoẻ. Các kết quả nghiên cứu cho thấy trong lá và rễ ngò có hàm lượng tinh dầu rất cao. Trong hạt mùi tàu chứa nhiều monoterpenoids và sesquiterpenoids, giàu canxi, sắt, phospho, carotene và riboflavin, vitamin A, B1, B2 và C. Không chỉ thế, mùi tàu cũng có đầy đủ chất dinh dưỡng gồm protein, chất béo và tinh bột. Theo Y học cổ truyền rau mùi tàu có vị cay hơi đắng, thơm, tính ấm, có tác dụng sơ phong thanh nhiệt, kiệm tỳ, hành khí tiêu thũng, giảm đau. Để làm thuốc có thể dùng toàn bộ cây rau mùi tàu (tươi hay phơi khô), thu hái quanh năm. Để chữa chứng đái dầm trẻ em có thể lấy mùi tàu, rau ngổ, cỏ mần trầu, mỗi thứ 20g, cùng với 10g cỏ sữa lá nhỏ, thái nhỏ, phơi khô. Cho tất cả vào nồi đổ 500ml nước sắc còn 150ml, uống sau bữa ăn tối. Liệu trình khoảng 5-10 ngày, có thể dùng 2-3 liệu trình.
          (Còn tiếp)

                                                                                       Hoàng Khánh Toàn


Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2017

MỖI CÂY MỘT BỆNH

MỖI CÂY MỘT BỆNH


     Trong kho tàng kinh nghiệm dân gian nước ta việc dùng các cây thuốc quanh nhà quanh vườn, dễ kiếm dễ tìm để chữa trị và phòng ngừa bệnh tật đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của y học cổ truyền. Mỗi cây có thể được dùng để chữa một bệnh đặc trưng hoặc chữa nhiều bệnh khác nhau, có thể dùng độc vị hoặc phối hợp với nhiều thảo dược khác. Một số đã được nghiên cứu hiện đại chứng thực, còn lại phần lớn là dùng theo kinh nghiệm truyền miệng từ lâu đời. Bài viết này xin được dẫn ra nhiều ví dụ điển hình để bạn đọc có thể tham khảo và lưu tâm nghiên cứu.
* Lá dâu tằm chữa chứng ra mồ hôi trộm trẻ em
     Theo dược học cổ truyền, lá dâu vị đắng ngọt, tính mát, có công dụng tán phong thanh nhiệt, lương huyết và làm sáng mắt. Để chữa chứng ra mồ hôi trộm trẻ em có thể dùng : (1) Lá dâu khô 10g sắc với 200 ml nước, cô lại còn 50 ml chia uống vài lần trong ngày, có thể cho thêm rau má khô 5g. (2) Lá dâu tươi non 20g rửa sạch thái nhỏ nấu canh với thịt lợn nạc ăn hàng ngày. (3) Lá dâu bánh tẻ 1 nắm nấu lấy nước tắm hàng ngày cho trẻ. (4) Lá dâu khô lượng vừa đủ nhồi làm ruột gối, gối đầu cho trẻ nằm, có thể kết hợp với vỏ đậu xanh phơi khô.
* Húng chanh chữa vết thương do côn trùng đốt
     Công dụng này của húng chanh là nhờ ở tinh dầu mà đặc trưng là carvacrol. Theo dược học cổ truyền, húng chanh vị cay chua, tính ấm, có công dụng giải cảm, phát hãn, tiêu độc, thoái nhiệt. Khi bị đốt bởi các loại côn trùng như kiến, ong, bọ chó, bọ mèo, muỗi, sâu róm…có thể dùng : (1) Húng chanh tươi rửa sạch, giã nát rồi đắp vào vết thương. (2) Lấy 20g lá húng chanh tươi, rửa sạch, nhai trong miệng với vài hạt muối, nuốt nước còn bã thì đắp vào nơi bị côn trùng đốt. (3) Dùng tinh dầu húng chanh bôi tổn thương vài lần. Chú ý : với những trường hợp có phản ứng toàn thân thì cần nhanh chóng đến các cơ sở y tế để được khám và cứu chữa khẩn cấp.
* Lá thông hỗ trợ trị liệu đau mỏi khớp
     Lá thông vị đắng ngọt, tính ấm, có công dụng khu phong, trừ thấp, chỉ thống. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, lá thông có tác dụng chống viêm, giảm đau và kháng khuẩn. Khi mắc các chứng đau mỏi xương khớp có thể dùng : (1) Lá thông tươi nấu nước xông vào nơi bị bệnh. (2) Lá thông tươi, rửa sạch, băm nhỏ rồi đem ngâm với rượu để xoa bóp. (3) Lá thông lượng vừa đủ, nấu nước rồi ngâm các khớp bị đau, có thể phối hợp với lá lốt, xương sông, ngải cứu thì hiệu quả càng cao.
* Hạt hướng dương chữa bệnh sởi phát ban không đều
     Theo đông y, hạt hướng dương vị ngọt, tính bình, thường được dùng để chữa suy nhược thần kinh, chán ăn, đau đầu, lỵ ra máu, sởi không mọc được hoặc mọc không đều (thấu chẩn). Nghiên cứu hiện đại cho thấy, trong loại hạt này có chứa nhiều chất dinh dưỡng, vitamin và khoáng chất, đặc có chứa chất folat có tác dụng thúc đẩy quá trình sao chép DNA và RNA giúp cho tăng sức đề kháng và miễn dịch của cơ thể. Khi sởi mọc không đều có thể dùng : (1) Hạt hướng dương 30g sao thơm, bóc vỏ ăn trong ngày. (2) Hạt hướng dương tùy lượng, sao chin, bóc bỏ vỏ, tán thành bột mịn, đựng trong lọ kín, mỗi ngày lấy 20g hòa với nước ấm uống. (3) Ở một số nơi người ta dùng hạt hướng dương chế thành bánh như kẹo lạc, kẹo vừng, ăn tùy thích trong ngày.
* Cúc vạn thọ hỗ trợ chữa hen phế quản
     Loại hoa này vị đắng, mùi thơm, tính , có công dụng thanh nhiệt giải độc, long đờm trị ho. Có được khả năng này là do cúc vạn thọ chứa nhiều tinh dầu quý như piperiton, linalin, apinen và đặc biệt là tagetin có tác dụng chống viêm, kháng khuẩn, long đờm và giãn phế quản. Khi bị hen phế quản có thể dùng cúc vạn thọ để hỗ trợ trị liệu theo phương thức : (1) Cúc vạn thọ 20g, sắc uống hàng ngày. (2) Cúc vạn thọ 15g, đường phèn lượng vừa đủ, đem hãm với nươc sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. (3) Cúc vạn thọ 20g, rau cần trôi, củ tầm sét, thài lài tía, nhân trần, rễ bạch đồng nữ, tinh tre mỡ mỗi thứ 10g thái nhỏ phơi khô sắc với 400ml nước còn 100ml uống làm 2 lần trong ngày. Dùng 3 - 5 ngày. (4) Cúc vạn thọ 20g, thịt lợn nạc 50g băm nhỏ, hai thư nấu thành canh ăn hàng ngày. (5) Hoa cúc vạn thọ 20g, hoa đu đủ đực 10g, húng chanh 10g, đường phèn 20g. Tất cả dùng tươi rửa sạch giã nhỏ cho vào bát cùng đường phèn. Hấp cách thủy trong 10 - 15 phút. Để nguội nghiền nát, thêm nước gạn uống làm 2 - 3 lần trong ngày, dùng trong 5-7 ngày.
* Cây bìm bịp hỗ trợ chữa thoái hóa cột sống
   Còn gọi là cây mảng cộng, xương khỉ, tiểu cốt tiếp (cây liền xương)…, vị ngọt, tính bình có công dụng mát gan lợi mật, khu phong trừ thấp, làm liền xương nhanh. Theo dân gian, khi chim bìm bịp con bị gãy chân người ta thường thấy chim bìm bịp mẹ lấy cây này cắn nát rồi đắp vào vết gãy thì thấy chân bìm bịp con liền vết gãy rất nhanh). Để chữa thoái hóa cột sống có thể dùng : (1) Cây bìm bịp 30g, cây gối hạc 20g, tầm gửi dâu 20g, cây trâu cổ 20g. Các vị đem sắc với 1,5 lít nước, cô còn 800ml chia vài lần uống trong ngày. (2) Bìm bịp tươi 80g, ngải cứu, sâm đại hành mỗi vị 50g, đem xào nóng với giấm rồi đắp vào nơi đau, lấy vải buộc lại để trong thời gian 5-6 tiếng. Duy trì liên tục 5-10 ngày sẽ có kết quả. (3) Cây bìm bịp 30g sắc uống hàng ngày. (4) Bìm bịp tươi, rửa sạch giã nát đắp vào nơi đau. (5) Bìm bịp tươi làm thành bảnh như bánh xu xê ăn hàng ngày (thường có ở các tỉnh miền núi phía Bắc). (5) Cây bìm bịp 12g, tang ký sinh 12g, thục địa 16g, ba kích 12g, đương quy 12g, đỗ trọng 12g, cẩu tích 12g, trâu cổ 12g, dây tơ hồng xanh 12g, sắc uống mỗi ngày một thang.
* Đậu đen hỗ trợ điều trị suy thận
     Đậu đen vị ngọt, tính bình, có công dụng bồi bổ can thận, làm mạnh gân cốt, mát huyết cầm máu, giúp đen râu tóc. Trong thành phần rất giàu các chất dinh dưỡng, vitamin, saponin và carotene. Để hỗ trợ chữa suy thận có thể dùng : (1) Đậu đen lượng vừ đủ, rang có mùi thơm và hơi cháy vỏ ngoài là được, tán vụn, đựng trong lọ kín dùng dần, mỗi ngày lấy 30-40g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 30 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. (2) Đậu đen sao thơm hơi cháy vỏ 40g, cỏ nhọ nồi 30 gam, hai thứ đem sắc với 2000 ml, cô lại còn 500 ml, chia uống vài lần trong ngày, có thể sắc lại 2-3 lần. (3) Đậu đen lượng vừa đủ, sao thơm, tán bột, đựng trong lọ kín dùng dần, mỗi ngày lấy 50g hòa với nước sôi, có thể cho thêm một chút đường đỏ, dùng làm món điểm tâm.
* Mùi tàu hỗ trợ trị liệu viêm kết mạc
     Còn gọi là ngò rí, vị cay, mùi thơm, tính ấm, có công dụng sơ tán phong tà, thanh nhiệt giải độc, kích thích tiêu hóa, chỉ thống…, được dùng để chữa cảm cúm, hôi miệng, mụn nhọt, đau mắt đỏ, chán ăn. Trong thành phần có tinh dầu, đặc biệt là alchol fechylic có tác dụng kháng khuẩn, tiêu viêm, giảm đau. Để hỗ trợ trị liệu viêm kết mạc có thể dùng : (1) Rau mùi tầu lượng vừa đủ, rửa sạch, ngâm nước muối loãng, ăn sống hàng ngày. (2) Mùi tàu rửa sạch, nấu nước để xông và rửa mắt (hiện nay biện pháp này ít ứng dụng, chủ yếu là ở nơi xa xôi khi thuốc chưa có trong tay, thày chưa có tại chỗ, là gợi ít để nghiên cứu bào chế thành sản phẩm). (3) Lá mùi tàu 30g, sắc uống hàng ngày, có thể phối hợp với hòa hòe 15g, cúc hoa 15g, mạn kinh tử 12g, lá dâu 12g.
* Mộc hoa trắng chữa viêm đại tràng
Còn gọi là cây sừng trâu, vị đắng, tính lạnh, được đông y sử dụng làm thuốc chữa tiết tả, kiết lỵ, phúc thống…từ rất lâu đời. Thành phần tạo nên công dụng chủ yếu là alkaloid, đặc biệt là conessin, và tannin, có tác dụng kháng khuẩn, diệt amip, chống co thắt, cầm ỉa chảy, băng se niêm mạc và kích thích tiêu hóa. Để chữa viêm đại tràng có thể dùng : (1) Mộc hoa trắng 10-15g sắc uống. (2) Mộc hoa trắng 100g, sắc kỹ rồi cô thành cao, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1g. (3) Mộc hoa trắng 10g, hoàng liên 10g, hoàng bá 10, sắc uống. (4) Có thể dùng dưới dạng bột vỏ uống 10/ngày, bột hạt uống 3-6g/ngày, cao lỏng 1/1 uống mỗi ngày 1-3g, cồn hạt 1/5 mỗi ngày uống 2-6g. (5) Dùng dưới dạng đông dược thành phẩm như viên Holanin, Mộc hoa trắng-HT…theo hướng dẫn của thầy thuốc.
* Ngó sen tươi giúp hạ sốt
     Ngó sen vị ngọt, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt, tiêu ứ, sinh tân dịch và cầm máu, được dùng để chữa sốt nóng, thổ huyết, tiểu huyết, tiện huyết, chảy máu cam, ho ra máu… Để hạ sốt, trị sốt nóng, có thể dùng : (1) Ngó sen tươi 6-7 đốt, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước, hào với một chút đường phèn hoặc đường đỏ uống vài lần trong ngày. (2) Mía tươi 500g, rửa sạch, róc vỏ, ép lấy nước ; ngó sen tươi 500g, rửa sạch, bỏ đốt, thái vụn cho vào bát to, đổ nước mía vào ngâm trong 8-10 giờ, sau đó lấy ngó sen ra cho vào máy xay nhuyễn, ép lấy nước, chia 3 lần trong ngày. (3) Nước nho 250ml, ngó sen tươi 250ml. Cho hỗn hợp gồm nước nho, ngó sen vào nồi, đun cho cạn thành cao. Chờ nguội cất trong lọ dùng dần. Uống mỗi lần hai thìa canh hòa đều với nước sôi, ngày hai lần.
* Lá vọng cách chữa viêm gan
     Loại lá này vị chát tính bình, có công dụng thông tiểu, thoái hoàng, kích thích tiêu hóa…được dùng làm rau ăn và làm thuốc chữa bệnh gan từ rất lâu đời trong dân gian. Trong thành phần có chứa tinh dầu và các alcaloid như premnin, garianin có tác dụng bảo vệ gan, chống viêm và giảm đau trên mô hình thực nghiệm với chuột. Cao lỏng lá vọng cách làm giảm men gan và các biểu hiện tổn thương gan. Khi bị bệnh gan có thể dùng lá vọng cách để hỗ trợ trị liệu như : (1) Lá vọng cách tươi 50g sắc uống. (2) Lá vọng cách khô 10g, cây cà gai leo 20g, sắc uống. (3) Lá vọng cách khô 15g, bạch hoa xà thiệt thảo 20g, sắc uống. (4) Lá vọng cách tươi 40g, nhân trần 15g, diệp hạ châu 20, cam thảo đất 12g, sắc uống. (5) Lá vọng cách khô 15g, nhân trần 12g, thần khúc 12g, mạch nha 12g, actiso 12g, rơm nếp 12g, nghệ vàng 12g, cam thảo 6g, sắc uống.
* Ngũ da bì chữa bệnh eczema
     Còn gọi là cây chân chim, vị đắng chát, tính mát, có công dụng khu phong trừ thấp, phát hãn giải biểu, thư cân hoạt lạc, thường được dùng để chữa cảm sốt, sưng đau họng, thấp khớp, đau nhức xương khớp, vết thương sưng đau, một số bệnh da liễu, trong đó có eczema. Có được công dụng chữa bệnh da liễu nói chung và eczema nói riêng là do trong thành phần có chứa acid asiatic, glycozid triterpen có tác dụng chống viêm, kháng khuẩn, giảm đau, chống dị ứng, tăng khả năng miễn dịch, chống lở loét và bảo hộ tế bào gan. Khi bị eczema có thể dùng : (1) Lá ngũ gia bì, bạch chỉ, hy thiêm thảo (cây cỏ đĩ), rễ gấc, tỳ giải, thổ phục linh các vị bằng nhau 20g, sắc uống ngày một thang, chia 2 lần vào sáng và tối, liệu trình trong 7 ngày. (2) Dùng viên ngũ gia bì, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 5 viên. (3) Cành nhỏ ngũ gia bì lượng vừa đủ, sắc lấy nước để ngâm rửa vùng tổn thương nhằm giảm cảm giác ngứa ngáy. (4) Rễ ngũ gia bì tươi rửa sạch, giã nát cùng với hoa cúc trắng rồi đắp trực tiếp lên vùng tổn thương trong 15-20 phút rồi rửa sạch bằng nước ấm.
* Cây sả giúp giải cảm
     Là một trong những gia vị quen thuộc của người Việt, vị cay, tính ấm, có công dụng làm ra mồ hôi, thông tiểu, hạ khí tiêu đờm. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, sả có tác dụng kháng khuẩn, kháng virut và nấm, giảm đau, hạ sốt, chống viêm. Khi bị cảm có thể dùng : (1) Lá sả, kinh giới, tía tô, trắc bá diệp, bạc hà, lá chanh, lá tre, lá ổi…mỗi thứ một nắm (mỗi nồi chừng 5 loại lá) nấu nước để xông giải cảm. (2) Bột giải cảm: sả khô bỏ rễ 40g, hoắc hương khô 40g, bạc hà khô 40g, vỏ quýt lâu năm 20g, củ gấu (đã chế biến) 20g, cam thảo 20g. Tất cả sấy khô, tán bột đóng gói 20g. Người lớn ngày 2 gói chia 4 lần. Trẻ em liều 1/2. Uống với nước nóng, đi nằm cho ra mồ hôi. Nếu có nôn cho thêm 3 láy gừng tươi hãm lấy nước uống cùng. (3) Củ sả 40g, gừng tươi 40g, hai thứ rửa sạch, giã nát, nấu với 650 ml nước, đun khoảng 10 phút, bỏ bã, thêm đường vào cô lại thành cao, ngậm nuốt dần trong ngày.
* Hoa mười giờ chữa ho, viêm họng
     Theo dược học cổ truyền, loài hoa này vị đắng cay, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết tiêu sưng, chỉ thống, thường được dùng để chữa chứng hầu họng sưng đau, viêm da, lở ngứa, ghẻ, bỏng lửa…Trong thành phần của hoa mười giờ có potulal, cyanin…, có khả năng khánh khuẩn, tiêu viêm, tăng cường miễn dịch. Khi bị ho, viêm họng có thể dùng : (1) Hoa mười giờ tươi 30g, sắc uống. (2) Hoa mười giờ 100g, lá rẻ quạt 10g, rửa sạch, giã nát, hòa với 100 ml nước nóng rồi chắt lấy nước cốt, ngậm 2-3 lần trong ngày, sau chừng 3-5 ngày sẽ khỏi.
(còn tiếp)

                                                                                      Hoàng Khánh Toàn

Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017

NGƯU HOÀNG THANH TÂM LIQUID

SẢN PHẨM NÀO CHO DỰ PHÒNG VÀ HỖ TRỢ
TRỊ LIỆU ĐỘT QUỴ NÃO HỮU HIỆU ?


     Trong mươi năm gần đây, khi bệnh lý đột quỵ não, còn gọi là tai biến mạch não, có xu hướng ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp thì nhu cầu tìm hiểu và sử dụng các đông dược thành phẩm trở nên hết sức cần thiết. Nhiều chế phẩm trị liệu căn bệnh này có xuất xứ từ các nước như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản...đã có mặt trên thị trường đông dược nước ta bằng nhiều con đường khác nhau, trong đó có một sản phẩm được rất nhiều người quan tâm là Ngưu hoàng thanh tâm (NHTT) dạng nước của Hàn Quốc.
     Sản phẩm này có nguồn gốc từ cổ phương Ngưu hoàng thanh tâm nguyên được ghi trong y thư cổ Hòa tễ cục phương (Trung Quốc) và Đông y bảo giám (Hàn Quốc). Trong phương, ngoài các vị thuốc quý làm nên công dụng thanh nhiệt giải độc, trấn kinh khai khiếu, hóa đàm tức phong như ngưu hoàng, xạ hương, linh dương giác, hoàng cầm, phòng phong, cát cánh, hạnh nhân…giống như An cung ngưu hoàng hoàn nhưng không quá mãnh liệt, còn có các vị thuốc bổ âm huyết, dưỡng dương khí như đương quy, a giao, mạch môn, nhân sâm, bạch truật, hoài sơn nhục quế, bạch linh…giúp cho sản phẩm có khả năng vừa công vừa bổ, lấy công làm bổ, lấy bổ làm công rất thích hợp cho việc dự phòng tích cực và hỗ trợ trị liệu những trường hợp đột quỵ não với các biểu hiện như khí huyết bất túc, đàm nhiệt trở trệ, thần trí hư phiền, ngực bụng bức bối, đầu choáng mắt hoa, miệng mắt méo xệch, bán thân bất toại, không nói được hoặc nói khó, đờm rãi nhiều…, đặc biệt trong giai đoạn bán cấp và hồi phục.
     Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, NHTT có tác dụng hồi tỉnh do hồi phục công năng hướng tâm của cấu trúc lưới trong chất não, trấn tĩnh, giải độc, chống co giật, giải nhiệt hạ sốt, làm giảm huyết áp nhưng lưu lượng động mạch vành và sức co bóp cơ tim lại gia tăng, nâng cao năng lực chịu đựng của tế bào cơ tim và tế bào não trong điều kiện thiếu ôxy, làm tăng lưu lượng tuần hoàn não, giảm mỡ máu, dự phòng tích cực tình trạng vữa xơ động mạch.
     Bởi vây, NHTT có khả năng dự phòng tích cực đột quỵ não, ổn định huyết áp, làm bền vững thành mạch, đặc biệt ở những người có nguy cơ cao như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, người cao tuổi…; hỗ trợ điều trị và phục hồi di chứng tai biến mạch não ; hỗ trợ kiểm soát bệnh cao huyết áp và tình trạng rối loạn tiến đình mạn và cấp tính ; chống huyết khối, giảm thiểu tình trạng thiếu ôxy của não và tim, hỗ trợ củng cố sức khỏe hệ tuần hoàn, sử dụng được cho những những bệnh nhân mắc bệnh tim mạch ; điều hòa lipid máu, chống mệt mỏi, cải thiện giấc ngủ và giảm thiểu hậu quả của stress ; hỗ trợ phục hồi chức năng và sức khỏe cho những trường hợp chấn thương sọ não.
     Ngưu hoàng thanh tâm trước đây thường được bào chế dưới dạng viên hoàn, nhưng hiện nay Công ty Iksu Pharmaceutical Co., Ltd của Hàn Quốc đã cho ra đời NHTT dưới dạng nước được gọi là Ngưu hoàng thanh tâm liquid đảm bảo vẫn giữ nguyên tính hiệu quả và tính an toàn mà lại giúp hấp thu nhanh, tiện sử dụng và có mùi thơm dễ chịu. Sản phẩm được đựng trong chai thủy tinh có nút kín và để trong hộp giấy nhỏ, mỗi chai chứa 50ml, hộp lớn có 3,6 và 10 hộp nhỏ. Với những người lớn sau tai biến, hội chứng tiền đình…uống 1 chai/lần, 1-2 lần/ngày ; dùng dự phòng uống 1 chai/lần/ngày hoặc có thể 3-4 ngày uống 1 lần 1 chai. Chú ý bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, ở nhiệt độ phòng (15 độ C-30 độ C), tránh ánh năng mặt trời.
     Ngưu hoàng thanh tâm liquid quả thực là một trong những sự lựa chọn chính xác và hữu hiệu cho việc dự phòng và hỗ trợ trị liệu đột quỵ não trên nhiều phương diện khác nhau !    

                                                               ThS.BS Hoàng Khánh Toàn

                                                 Chủ nhiệm khoa Đông y, Bệnh viện TƯQĐ 108

Thứ Ba, 11 tháng 4, 2017

VÀI MÓN ẨM THỰC SINH TÂN

VÀI MÓN ẨM THỰC THANH NHIỆT SINH TÂN




* Canh sa căn thuần điểu trư nhục
     Sa căn (củ đậu) 500g, thuần điểu (chim cút) 500g, thịt lợn nạc100g, một chút trần bì (vỏ quít), nước và gia vị vừa đủ. Sa căn bóc vỏ rửa sạch, thái con chì ; chim cút làm sạch, để nguyên con ; thịt lợn thái mỏng. Tất cả cho vào nồi, chế đủ nước, hầm nhỏ lửa chừng 2,5 giờ cho thật nhừ, chế thêm gia vị, dùng làm canh ăn. Chim cút, còn gọi là Am thuần, Uyển thuần, vị ngọt tính bình, có công dụng bổ tỳ ích khí, thanh nhiệt trừ thấp, làm mạnh gân cốt). Người xưa coi chim cút là "nhân sâm động vật". Củ đậu vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt, sinh tân dịch và làm hết khát. Món canh này có thể cho thêm một chút đậu đỏ và vài lát gừng tươi để tăng tác dụng thanh nhiệt trừ thấp và thêm phần hấp dẫn.
* Canh hà diệp nhị đậu.
     Hà diệp 1 tàu, biển đậu 25g, xích tiểu đậu 25g, trần bì (vỏ quýt) 12g, phụ trúc 50g, vịt 1 con (sau khi làm sạch còn chừng 400g là vừa), thịt lợn nạc 100g, gia vị vừa đủ. Hà diệp rửa sạch, thái nhỏ ; biển đậu, xích tiểu đậu và phụ trúc rửa sạch ; trần bì thái chỉ ; thịt vịt và thịt lợn chặt miếng. Tất cả cho vào nồi, chế đủ gia vị, đổ vừa nước rồi dùng lửa nhỏ hầm chừng 3 giờ là được, dùng làm canh ăn trong ngày. Công dụng : Thanh nhiệt giải thử, sinh tân chỉ khát, kiện tỳ dưỡng âm (giải nhiệt, làm mát, phòng chống nắng nóng, làm tăng lượng dịch đã bị hao tổn vì mồ hôi ra nhiều, giải khát, cải thiện chức năng của dạ dày ruột, kích thích tiêu hoá).
* Nước uống bí đao dưa hấu
     Bí đao 500g, dưa hấu 500g, đường trắng vừa đủ. Bí đao gọt vỏ, bỏ ruột, rửa thật sạch ; dưa hấu lấy ruột, bỏ hạt ; hai thứ thái miếng, dùng máy ép lấy nước rồi chế thêm một chút đường trắng, chia uống nhiều lần trong ngày. Công dụng : thanh nhiệt giải thử, trừ phiền chỉ khát, lợi niệu tiêu thũng. Dùng để giải nhiệt, phòng chống say nắng, say nóng...Theo y học cổ truyền, dưa hấu có công dụng giải say nắng, làm hết khát, trừ phiền, lợi thủy, cầm lỵ...Hai loại quả phối hợp với nhau tạo nên một thứ nước giải khát chữa bệnh lý tưởng trong mùa hè.
* Nước uống bí đao bình quả
     Bí đao 100g, bình quả (loại táo quả to nhập khẩu từ Trung Quốc và các nước Đông Âu) 800g, cà rốt 200g, đường phèn 100g, trần bì 20g. Bí đao gọt vỏ bỏ ruột, thái miếng ; bình quả rửa sạch, bỏ ruột, thái miếng ; cà rốt cạo vỏ, thái miếng ; trần bì ngâm nước cho mềm rồi thái chỉ. Tất cả cho vào nồi, đổ vừa nước, nấu trong 30 phút, chế thêm đường phèn, dùng làm nước giải khát. Công dụng : thanh nhiệt hóa đàm, trừ phiền chỉ khát, lợi niệu tiêu thũng, trợ tiêu hóa, ích tỳ chỉ tả. Theo y học cổ truyền, bình quả có công dụng sinh tân chỉ khát, kiện tỳ ích vị, giải nhiệt thanh tâm ; cà rốt có công dụng bổ tỳ tiêu thực, lợi tràng đạo, bổ can minh mục, thanh nhiệt giải độc, hạ khí chỉ khái.
* Cháo đậu xanh ngân hoa
     Đậu xanh 50g, kim ngân hoa 50g, cam thảo 10g, gạo tẻ 100g. Đậu xanh ngâm trước nửa ngày, kim ngân hoa và cam thảo sắc kỹ rồi bỏ bã lấy nước ninh với gạo và đậu xanh thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày, có thể cho thêm một chút đường phèn. Công dụng : thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm giải thử, dùng thích hợp cho những người hay bị mụn nhọt, lở ngứa, viêm loét, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ...trong những ngày hè nóng bức.
Canh cát căn đại táo trư nhục
     Cát căn (củ sắn dây) 500g, đại táo 4 quả, trư nhục (thịt thăn lợn) 150g, xương ống chân lợn 150g, nước và gia vị vừa đủ. Cát căn bỏ vỏ, rửa sạch, thái con chì ; thịt thăn thái to bằng 1/3 bao diêm ; xương ống đập vỡ ; đại táo rửa sạch. Tất cả cho vào nồi, chế đủ nước hầm nhừ trong 2 giờ, chế thêm gia vị, dùng làm canh ăn. Cát căn có công năng thanh nhiệt giải cơ, sinh tân chỉ khát, trừ phiền, nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy có tác dụng hạ nhiệt, giải độc, làm giãn mạch hạ huyết áp, cải thiện vi tuần hoàn, phòng chống rối loạn nhịp tim, hạ mỡ máu và đường huyết, tăng lưu lượng tuần hoàn não, kháng ô xy hóa và ung thư. Đại táo bổ tỳ ích khí, dưỡng huyết an thần. Thịt lợn tư âm, nhuận táo , bổ huyết. Ba thứ phối hợp với nhau tạo nên công dụng thanh nhiệt trừ phiền, bổ khí dưỡng huyết của món ăn. Loại canh này đặc biệt thích hợp với những người bị tăng huyết áp, đái tháo đường và có bệnh lý động mạch vành.
* Canh hiện nhục việt qua
     Hiện nhục (hến) 1000g, việt qua (quả bầu) 500g, thìa là, hành hoa, mỡ và gia vị vừa đủ. Hến ngâm nước gạo, rửa sạch, cho vào nồi với một bát con nước, đun sôi, thấy hến há miệng thì trút ra rổ, hứng lấy nước, gỡ thịt hến đem rửa sạch, để ráo ; bầu gọt vỏ, rửa sạch, băm nhỏ theo chiều dọc quả, thái vát thành sợi, bỏ ruột ; hành, thìa là rửa sạch, thái nhỏ ; củ hành thái mỏng để riêng. Phi thơm hành mỡ, cho hến vào xào qua, nêm ít nước mắm, xúc ra bát. Nước luộc hến bỏ cặn, đun sôi, cho bầu vào, đun sôi tiếp rồi đổ hến vào, chế thêm gia vị vừa đủ, dùng làm canh ăn nóng. Hến vị ngọt mặn, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi thấp, rất thích hợp cho những người bị mụn nhọt, lở loét ngoài da do nhiệt độc, tiểu tiện vàng đỏ, đái buốt, đái rắt, đái tháo đường. Trong thành phần hóa học của hến rất giàu kẽm nên có khả năng phòng chống u phì đại tiền liệt tuyến. Bầu vị ngọt, tính mát, có công dụng giải nhiệt độc, lợi tiểu tiện, làm hết khát, rất thích hợp cho những người bị viêm đường tiết niệu, mụn nhọt do nhiệt độc, đái tháo đường. Tuy nhiên, nếu tỳ vị hư yếu, đại tiện hay lỏng loãng thì không nên ăn loại canh này.

                                                                                            Hoàng Khánh Toàn