Thứ Ba, 30 tháng 5, 2017

MỖI CÂY MỘT BỆNH

MỖI CÂY MỘT BỆNH
(Kỳ 2)

* Ngũ da bì chữa bệnh eczema
     Còn gọi là cây chân chim, vị đắng chát, tính mát, có công dụng khu phong trừ thấp, phát hãn giải biểu, thư cân hoạt lạc, thường được dùng để chữa cảm sốt, sưng đau họng, thấp khớp, đau nhức xương khớp, vết thương sưng đau, một số bệnh da liễu, trong đó có eczema. Có được công dụng chữa bệnh da liễu nói chung và eczema nói riêng là do trong thành phần có chứa acid asiatic, glycozid triterpen có tác dụng chống viêm, kháng khuẩn, giảm đau, chống dị ứng, tăng khả năng miễn dịch, chống lở loét và bảo hộ tế bào gan. Khi bị eczema có thể dùng : (1) Lá ngũ gia bì, bạch chỉ, hy thiêm thảo (cây cỏ đĩ), rễ gấc, tỳ giải, thổ phục linh các vị bằng nhau 20g, sắc uống ngày một thang, chia 2 lần vào sáng và tối, liệu trình trong 7 ngày. (2) Dùng viên ngũ gia bì, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 5 viên. (3) Cành nhỏ ngũ gia bì lượng vừa đủ, sắc lấy nước để ngâm rửa vùng tổn thương nhằm giảm cảm giác ngứa ngáy. (4) Rễ ngũ gia bì tươi rửa sạch, giã nát cùng với hoa cúc trắng rồi đắp trực tiếp lên vùng tổn thương trong 15-20 phút rồi rửa sạch bằng nước ấm.
* Cây sả giúp giải cảm
     Là một trong những gia vị quen thuộc của người Việt, vị cay, tính ấm, có công dụng làm ra mồ hôi, thông tiểu, hạ khí tiêu đờm. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, sả có tác dụng kháng khuẩn, kháng virut và nấm, giảm đau, hạ sốt, chống viêm. Khi bị cảm có thể dùng : (1) Lá sả, kinh giới, tía tô, trắc bá diệp, bạc hà, lá chanh, lá tre, lá ổi…mỗi thứ một nắm (mỗi nồi chừng 5 loại lá) nấu nước để xông giải cảm. (2) Bột giải cảm: sả khô bỏ rễ 40g, hoắc hương khô 40g, bạc hà khô 40g, vỏ quýt lâu năm 20g, củ gấu (đã chế biến) 20g, cam thảo 20g. Tất cả sấy khô, tán bột đóng gói 20g. Người lớn ngày 2 gói chia 4 lần. Trẻ em liều 1/2. Uống với nước nóng, đi nằm cho ra mồ hôi. Nếu có nôn cho thêm 3 láy gừng tươi hãm lấy nước uống cùng. (3) Củ sả 40g, gừng tươi 40g, hai thứ rửa sạch, giã nát, nấu với 650 ml nước, đun khoảng 10 phút, bỏ bã, thêm đường vào cô lại thành cao, ngậm nuốt dần trong ngày.
 * Hoa mười giờ chữa ho, viêm họng
     Theo dược học cổ truyền, loài hoa này vị đắng cay, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết tiêu sưng, chỉ thống, thường được dùng để chữa chứng hầu họng sưng đau, viêm da, lở ngứa, ghẻ, bỏng lửa…Trong thành phần của hoa mười giờ có potulal, cyanin…, có khả năng khánh khuẩn, tiêu viêm, tăng cường miễn dịch, được coi là một loại kháng sinh thực vật. Khi bị ho, viêm họng có thể dùng : (1) Hoa mười giờ tươi 30g, sắc uống. (2) Hoa mười giờ tươi 100g, lá rẻ quạt 10g, rửa sạch, giã nát, hòa với 100 ml nước nóng rồi chắt lấy nước cốt, ngậm 2-3 lần trong ngày, sau chừng 3-5 ngày sẽ khỏi. (3) Hoa mười giờ tươi 30g, húng chanh 30g, rửa sạch, giã nát vắt lấy nước cốt ngậm rồi nuốt dần.
* Cây hương thảo phòng và hỗ trợ chữa ung thư vú
     Còn có tên gọi là cửu lý hương, xuất xứ từ Địa Trung Hải, được coi là một loại gia vị có thể dùng khá thoải mái. Tuy nhiên vì có tác dụng gây xung huyết nên cũng cần có liều lượng nhất định. Trong thành phần của hương thảo có chứa tinh dầu terpene, acid rosmarinic, các flavoid, choline, một glucosid không tan trong nước, một saponosid acid, các acid hữu cơ (citric, glycolic, glyeeric) và hai heterosid là romaside và romarinoside…có tác dụng chống ôxy hóa, bất hoạt các gốc tự do, giảm đau, ngăn chặn sự nhân lên của các tế bào ung thư, bảo vệ cơ thể khỏi hợp hất HCA và PAH, những chất gây ung thư có trong thực phẩm, nhất là thịt khi nấu ăn. Một nghiên cứu cho thấy, việc thêm lá hương thảo vào chế độ ăn uống hằng ngày có thể giúp giảm tới 71% mức độ những chất gây ung thư có trong thịt. Vì thế, nó chính là một trong những loại gia vị chống viêm tốt nhất với khả năng phòng ngừa ung thư vú có hiệu quả. Có thể dùng hương thảo dưới dạng bột uống 0,25-0,5g/ngày ; 20-30g khô hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày hoặc kết hợp với tinh nghệ với liều lượng thích hợp.
* Bạch quả giúp giải rượu
     Vị ngọt đắng, tính bình, có công dụng liễm phế khí, định suyễn ho, cầm đái trọc, súc tiểu tiện, chuyên trị hen suyễn, đàm thấu, bạch đới, bạch trọc, di tinh, bệnh lâm, tiểu tiện nhiều lần liên tiếp và làm tỉnh say rượu. Trong thành phần bạch quả có chứa một loại enzyme giúp thúc đẩy quá trình trao đổi chất khiến cơ thể đào thải và chuyển hóa chất cồn nhanh hơn. Ngoài ra, còn làm tăng tuần hoàn não, cải thiện khả năng ghi nhớ giúp người say rượu tỉnh nhanh và tránh tình trạng quên lẫn, chống ôxy hóa bảo vệ tế bào não khỏi tác hại của rượu, chống rối loạn tiền đình. Ở Nhật, bạch quả thường được dùng trong các bữa tiệc rượu để giúp thực khách phòng say rượu. Để giải rượu có thể dùng : (1) Nhân bạch quả sống 10-20g, giã nát sắc uống hay nướng chín tán bột. (2) Bạch quả 10 quả, 5 để uống sống, 5 để chín. (3) Dùng dưới dạng cao khô, ngày dùng 120-240mg, chia 2-3 lần; 40mg cao tương đương 1,4-2,7g lá hoặc cao lỏng (1:1), mỗi lần 0,5ml, ngày dùng 3 lần. 
* Kim ngân hoa chữa viêm tắc tuyến lệ
     Kim ngân hoa được coi là một trong những kháng sinh thực vật nổi tiếng, vị ngọt, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt giải độc, thường được dùng đề chữa các chứng bệnh liên quan đến viêm nhiễm, dị ứng…Nghiên cứu hiện đại chao thấy, thảo dược này có tác dụng kháng vi sinh vật (vi khuẩn, virut…), chống viêm, giải độc, chống dị ứng, lợi mật, bảo hộ tế bào gan, giảm huyết áp, điều chỉnh đường máu và mỡ máu…Để chữa viêm tắc tuyến lệ có thể dùng : (1) Kim ngân hoa 20g, cúc hoa 20g, bồ công anh 20g, cho 3 vị vào nồi đổ ngập nước, đun sôi bằng lửa nhỏ trong 15 phút, chắt ra bát nước đầu, đun tiếp lần hai lấy nước, trộn 2 lần nước với nhau chia uống 3 lần trong ngày. (2) Kim ngân hoa 15g, gai bồ kết 15g, bồ công anh 15g, liên kiều 15g, phòng phong 12g, bạch chỉ 10g, xuyên khung 8g, cam thảo 6g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. (3) Kim ngân hoa 20g, hạ khô thảo 15g, cúc hoa 12g, hoàng cầm 12g, ngưu bàng tử 10, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Cây huyết dụ chữa thổ huyết
     Huyết dụ vị nhạt, tính mát, có công dụng lương huyết, bổ huyết, cầm máu, làm tan máu ứ, giảm đau, trừ phong thấp, thường được dùng để chữa các chứng xuất huyết như rong kinhm sốt xuất huyết, thổ huyết, khạc huyết, tiện huyết, nục huyết…Để chữa thổ huyết có thể dùng : (1) Huyết dụ tươi 30g, trắc bá diệp sao đen 20g, cỏ nhọ nồi 20g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. (2) Huyết dụ 10g, rễ rẻ quạt 8g, trắc bá sao đen8g, thài lài tía 4g, sắc uống. (3) Huyết dụ tươi 50g (nếu khô 20g) sắc uống.
* Chuối hột chữa đau dạ dày
     Vị chát, tính bình, vỏ có chứa enzyme polyphenol oxydase ; hạt chưa saponin, coumarin, tannin, flavonoid…có tác dụng kháng khuẩn, tiêu viêm, giảm đau, làm băng se niêm mạc, trung hòa dịch vị. Để chữa đau dạ dày có thể dùng : (1) Chuối hột, sắn dây, nghệ vàng lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, uống mỗi lần 3 thìa cà phê bột thuốc hòa với 1 thìa mật ong và 100 ml nước, mỗi ngày 3 lần sau bữa ăn. (2) Chuối hột thái lát, sấy khô, tán bột, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 2 thìa cà phê. (3) Chuối hột 1 quả cắt lát sao vàng, kim tiền thảo 50g, rễ cỏ tranh 50g, bong mã đề 50g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. (4) Chuối hột 10 quả, thái lát, sao vàng, rau má 20g, diếp cá 15g, lá sen khô 10g, củ mài 20g, tất cả đem sắc với 800 ml nước, cô còn 300 ml, chia uống vài lần trong ngày.
* Rau mùi tàu chữa đái dầm trẻ em
     Mùi tàu hay còn gọi là ngò gai được đánh giá là chứa nhiều chất dinh dưỡng tốt cho sức khoẻ. Các kết quả nghiên cứu cho thấy trong lá và rễ ngò có hàm lượng tinh dầu rất cao. Trong hạt mùi tàu chứa nhiều monoterpenoids và sesquiterpenoids, giàu canxi, sắt, phospho, carotene và riboflavin, vitamin A, B1, B2 và C. Không chỉ thế, mùi tàu cũng có đầy đủ chất dinh dưỡng gồm protein, chất béo và tinh bột. Theo Y học cổ truyền rau mùi tàu có vị cay hơi đắng, thơm, tính ấm, có tác dụng sơ phong thanh nhiệt, kiệm tỳ, hành khí tiêu thũng, giảm đau. Để làm thuốc có thể dùng toàn bộ cây rau mùi tàu (tươi hay phơi khô), thu hái quanh năm. Để chữa chứng đái dầm trẻ em có thể lấy mùi tàu, rau ngổ, cỏ mần trầu, mỗi thứ 20g, cùng với 10g cỏ sữa lá nhỏ, thái nhỏ, phơi khô. Cho tất cả vào nồi đổ 500ml nước sắc còn 150ml, uống sau bữa ăn tối. Liệu trình khoảng 5-10 ngày, có thể dùng 2-3 liệu trình.
          (Còn tiếp)

                                                                                       Hoàng Khánh Toàn


Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2017

MỖI CÂY MỘT BỆNH

MỖI CÂY MỘT BỆNH


     Trong kho tàng kinh nghiệm dân gian nước ta việc dùng các cây thuốc quanh nhà quanh vườn, dễ kiếm dễ tìm để chữa trị và phòng ngừa bệnh tật đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của y học cổ truyền. Mỗi cây có thể được dùng để chữa một bệnh đặc trưng hoặc chữa nhiều bệnh khác nhau, có thể dùng độc vị hoặc phối hợp với nhiều thảo dược khác. Một số đã được nghiên cứu hiện đại chứng thực, còn lại phần lớn là dùng theo kinh nghiệm truyền miệng từ lâu đời. Bài viết này xin được dẫn ra nhiều ví dụ điển hình để bạn đọc có thể tham khảo và lưu tâm nghiên cứu.
* Lá dâu tằm chữa chứng ra mồ hôi trộm trẻ em
     Theo dược học cổ truyền, lá dâu vị đắng ngọt, tính mát, có công dụng tán phong thanh nhiệt, lương huyết và làm sáng mắt. Để chữa chứng ra mồ hôi trộm trẻ em có thể dùng : (1) Lá dâu khô 10g sắc với 200 ml nước, cô lại còn 50 ml chia uống vài lần trong ngày, có thể cho thêm rau má khô 5g. (2) Lá dâu tươi non 20g rửa sạch thái nhỏ nấu canh với thịt lợn nạc ăn hàng ngày. (3) Lá dâu bánh tẻ 1 nắm nấu lấy nước tắm hàng ngày cho trẻ. (4) Lá dâu khô lượng vừa đủ nhồi làm ruột gối, gối đầu cho trẻ nằm, có thể kết hợp với vỏ đậu xanh phơi khô.
* Húng chanh chữa vết thương do côn trùng đốt
     Công dụng này của húng chanh là nhờ ở tinh dầu mà đặc trưng là carvacrol. Theo dược học cổ truyền, húng chanh vị cay chua, tính ấm, có công dụng giải cảm, phát hãn, tiêu độc, thoái nhiệt. Khi bị đốt bởi các loại côn trùng như kiến, ong, bọ chó, bọ mèo, muỗi, sâu róm…có thể dùng : (1) Húng chanh tươi rửa sạch, giã nát rồi đắp vào vết thương. (2) Lấy 20g lá húng chanh tươi, rửa sạch, nhai trong miệng với vài hạt muối, nuốt nước còn bã thì đắp vào nơi bị côn trùng đốt. (3) Dùng tinh dầu húng chanh bôi tổn thương vài lần. Chú ý : với những trường hợp có phản ứng toàn thân thì cần nhanh chóng đến các cơ sở y tế để được khám và cứu chữa khẩn cấp.
* Lá thông hỗ trợ trị liệu đau mỏi khớp
     Lá thông vị đắng ngọt, tính ấm, có công dụng khu phong, trừ thấp, chỉ thống. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, lá thông có tác dụng chống viêm, giảm đau và kháng khuẩn. Khi mắc các chứng đau mỏi xương khớp có thể dùng : (1) Lá thông tươi nấu nước xông vào nơi bị bệnh. (2) Lá thông tươi, rửa sạch, băm nhỏ rồi đem ngâm với rượu để xoa bóp. (3) Lá thông lượng vừa đủ, nấu nước rồi ngâm các khớp bị đau, có thể phối hợp với lá lốt, xương sông, ngải cứu thì hiệu quả càng cao.
* Hạt hướng dương chữa bệnh sởi phát ban không đều
     Theo đông y, hạt hướng dương vị ngọt, tính bình, thường được dùng để chữa suy nhược thần kinh, chán ăn, đau đầu, lỵ ra máu, sởi không mọc được hoặc mọc không đều (thấu chẩn). Nghiên cứu hiện đại cho thấy, trong loại hạt này có chứa nhiều chất dinh dưỡng, vitamin và khoáng chất, đặc có chứa chất folat có tác dụng thúc đẩy quá trình sao chép DNA và RNA giúp cho tăng sức đề kháng và miễn dịch của cơ thể. Khi sởi mọc không đều có thể dùng : (1) Hạt hướng dương 30g sao thơm, bóc vỏ ăn trong ngày. (2) Hạt hướng dương tùy lượng, sao chin, bóc bỏ vỏ, tán thành bột mịn, đựng trong lọ kín, mỗi ngày lấy 20g hòa với nước ấm uống. (3) Ở một số nơi người ta dùng hạt hướng dương chế thành bánh như kẹo lạc, kẹo vừng, ăn tùy thích trong ngày.
* Cúc vạn thọ hỗ trợ chữa hen phế quản
     Loại hoa này vị đắng, mùi thơm, tính , có công dụng thanh nhiệt giải độc, long đờm trị ho. Có được khả năng này là do cúc vạn thọ chứa nhiều tinh dầu quý như piperiton, linalin, apinen và đặc biệt là tagetin có tác dụng chống viêm, kháng khuẩn, long đờm và giãn phế quản. Khi bị hen phế quản có thể dùng cúc vạn thọ để hỗ trợ trị liệu theo phương thức : (1) Cúc vạn thọ 20g, sắc uống hàng ngày. (2) Cúc vạn thọ 15g, đường phèn lượng vừa đủ, đem hãm với nươc sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. (3) Cúc vạn thọ 20g, rau cần trôi, củ tầm sét, thài lài tía, nhân trần, rễ bạch đồng nữ, tinh tre mỡ mỗi thứ 10g thái nhỏ phơi khô sắc với 400ml nước còn 100ml uống làm 2 lần trong ngày. Dùng 3 - 5 ngày. (4) Cúc vạn thọ 20g, thịt lợn nạc 50g băm nhỏ, hai thư nấu thành canh ăn hàng ngày. (5) Hoa cúc vạn thọ 20g, hoa đu đủ đực 10g, húng chanh 10g, đường phèn 20g. Tất cả dùng tươi rửa sạch giã nhỏ cho vào bát cùng đường phèn. Hấp cách thủy trong 10 - 15 phút. Để nguội nghiền nát, thêm nước gạn uống làm 2 - 3 lần trong ngày, dùng trong 5-7 ngày.
* Cây bìm bịp hỗ trợ chữa thoái hóa cột sống
   Còn gọi là cây mảng cộng, xương khỉ, tiểu cốt tiếp (cây liền xương)…, vị ngọt, tính bình có công dụng mát gan lợi mật, khu phong trừ thấp, làm liền xương nhanh. Theo dân gian, khi chim bìm bịp con bị gãy chân người ta thường thấy chim bìm bịp mẹ lấy cây này cắn nát rồi đắp vào vết gãy thì thấy chân bìm bịp con liền vết gãy rất nhanh). Để chữa thoái hóa cột sống có thể dùng : (1) Cây bìm bịp 30g, cây gối hạc 20g, tầm gửi dâu 20g, cây trâu cổ 20g. Các vị đem sắc với 1,5 lít nước, cô còn 800ml chia vài lần uống trong ngày. (2) Bìm bịp tươi 80g, ngải cứu, sâm đại hành mỗi vị 50g, đem xào nóng với giấm rồi đắp vào nơi đau, lấy vải buộc lại để trong thời gian 5-6 tiếng. Duy trì liên tục 5-10 ngày sẽ có kết quả. (3) Cây bìm bịp 30g sắc uống hàng ngày. (4) Bìm bịp tươi, rửa sạch giã nát đắp vào nơi đau. (5) Bìm bịp tươi làm thành bảnh như bánh xu xê ăn hàng ngày (thường có ở các tỉnh miền núi phía Bắc). (5) Cây bìm bịp 12g, tang ký sinh 12g, thục địa 16g, ba kích 12g, đương quy 12g, đỗ trọng 12g, cẩu tích 12g, trâu cổ 12g, dây tơ hồng xanh 12g, sắc uống mỗi ngày một thang.
* Đậu đen hỗ trợ điều trị suy thận
     Đậu đen vị ngọt, tính bình, có công dụng bồi bổ can thận, làm mạnh gân cốt, mát huyết cầm máu, giúp đen râu tóc. Trong thành phần rất giàu các chất dinh dưỡng, vitamin, saponin và carotene. Để hỗ trợ chữa suy thận có thể dùng : (1) Đậu đen lượng vừ đủ, rang có mùi thơm và hơi cháy vỏ ngoài là được, tán vụn, đựng trong lọ kín dùng dần, mỗi ngày lấy 30-40g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 30 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. (2) Đậu đen sao thơm hơi cháy vỏ 40g, cỏ nhọ nồi 30 gam, hai thứ đem sắc với 2000 ml, cô lại còn 500 ml, chia uống vài lần trong ngày, có thể sắc lại 2-3 lần. (3) Đậu đen lượng vừa đủ, sao thơm, tán bột, đựng trong lọ kín dùng dần, mỗi ngày lấy 50g hòa với nước sôi, có thể cho thêm một chút đường đỏ, dùng làm món điểm tâm.
* Mùi tàu hỗ trợ trị liệu viêm kết mạc
     Còn gọi là ngò rí, vị cay, mùi thơm, tính ấm, có công dụng sơ tán phong tà, thanh nhiệt giải độc, kích thích tiêu hóa, chỉ thống…, được dùng để chữa cảm cúm, hôi miệng, mụn nhọt, đau mắt đỏ, chán ăn. Trong thành phần có tinh dầu, đặc biệt là alchol fechylic có tác dụng kháng khuẩn, tiêu viêm, giảm đau. Để hỗ trợ trị liệu viêm kết mạc có thể dùng : (1) Rau mùi tầu lượng vừa đủ, rửa sạch, ngâm nước muối loãng, ăn sống hàng ngày. (2) Mùi tàu rửa sạch, nấu nước để xông và rửa mắt (hiện nay biện pháp này ít ứng dụng, chủ yếu là ở nơi xa xôi khi thuốc chưa có trong tay, thày chưa có tại chỗ, là gợi ít để nghiên cứu bào chế thành sản phẩm). (3) Lá mùi tàu 30g, sắc uống hàng ngày, có thể phối hợp với hòa hòe 15g, cúc hoa 15g, mạn kinh tử 12g, lá dâu 12g.
* Mộc hoa trắng chữa viêm đại tràng
Còn gọi là cây sừng trâu, vị đắng, tính lạnh, được đông y sử dụng làm thuốc chữa tiết tả, kiết lỵ, phúc thống…từ rất lâu đời. Thành phần tạo nên công dụng chủ yếu là alkaloid, đặc biệt là conessin, và tannin, có tác dụng kháng khuẩn, diệt amip, chống co thắt, cầm ỉa chảy, băng se niêm mạc và kích thích tiêu hóa. Để chữa viêm đại tràng có thể dùng : (1) Mộc hoa trắng 10-15g sắc uống. (2) Mộc hoa trắng 100g, sắc kỹ rồi cô thành cao, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1g. (3) Mộc hoa trắng 10g, hoàng liên 10g, hoàng bá 10, sắc uống. (4) Có thể dùng dưới dạng bột vỏ uống 10/ngày, bột hạt uống 3-6g/ngày, cao lỏng 1/1 uống mỗi ngày 1-3g, cồn hạt 1/5 mỗi ngày uống 2-6g. (5) Dùng dưới dạng đông dược thành phẩm như viên Holanin, Mộc hoa trắng-HT…theo hướng dẫn của thầy thuốc.
* Ngó sen tươi giúp hạ sốt
     Ngó sen vị ngọt, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt, tiêu ứ, sinh tân dịch và cầm máu, được dùng để chữa sốt nóng, thổ huyết, tiểu huyết, tiện huyết, chảy máu cam, ho ra máu… Để hạ sốt, trị sốt nóng, có thể dùng : (1) Ngó sen tươi 6-7 đốt, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước, hào với một chút đường phèn hoặc đường đỏ uống vài lần trong ngày. (2) Mía tươi 500g, rửa sạch, róc vỏ, ép lấy nước ; ngó sen tươi 500g, rửa sạch, bỏ đốt, thái vụn cho vào bát to, đổ nước mía vào ngâm trong 8-10 giờ, sau đó lấy ngó sen ra cho vào máy xay nhuyễn, ép lấy nước, chia 3 lần trong ngày. (3) Nước nho 250ml, ngó sen tươi 250ml. Cho hỗn hợp gồm nước nho, ngó sen vào nồi, đun cho cạn thành cao. Chờ nguội cất trong lọ dùng dần. Uống mỗi lần hai thìa canh hòa đều với nước sôi, ngày hai lần.
* Lá vọng cách chữa viêm gan
     Loại lá này vị chát tính bình, có công dụng thông tiểu, thoái hoàng, kích thích tiêu hóa…được dùng làm rau ăn và làm thuốc chữa bệnh gan từ rất lâu đời trong dân gian. Trong thành phần có chứa tinh dầu và các alcaloid như premnin, garianin có tác dụng bảo vệ gan, chống viêm và giảm đau trên mô hình thực nghiệm với chuột. Cao lỏng lá vọng cách làm giảm men gan và các biểu hiện tổn thương gan. Khi bị bệnh gan có thể dùng lá vọng cách để hỗ trợ trị liệu như : (1) Lá vọng cách tươi 50g sắc uống. (2) Lá vọng cách khô 10g, cây cà gai leo 20g, sắc uống. (3) Lá vọng cách khô 15g, bạch hoa xà thiệt thảo 20g, sắc uống. (4) Lá vọng cách tươi 40g, nhân trần 15g, diệp hạ châu 20, cam thảo đất 12g, sắc uống. (5) Lá vọng cách khô 15g, nhân trần 12g, thần khúc 12g, mạch nha 12g, actiso 12g, rơm nếp 12g, nghệ vàng 12g, cam thảo 6g, sắc uống.
* Ngũ da bì chữa bệnh eczema
     Còn gọi là cây chân chim, vị đắng chát, tính mát, có công dụng khu phong trừ thấp, phát hãn giải biểu, thư cân hoạt lạc, thường được dùng để chữa cảm sốt, sưng đau họng, thấp khớp, đau nhức xương khớp, vết thương sưng đau, một số bệnh da liễu, trong đó có eczema. Có được công dụng chữa bệnh da liễu nói chung và eczema nói riêng là do trong thành phần có chứa acid asiatic, glycozid triterpen có tác dụng chống viêm, kháng khuẩn, giảm đau, chống dị ứng, tăng khả năng miễn dịch, chống lở loét và bảo hộ tế bào gan. Khi bị eczema có thể dùng : (1) Lá ngũ gia bì, bạch chỉ, hy thiêm thảo (cây cỏ đĩ), rễ gấc, tỳ giải, thổ phục linh các vị bằng nhau 20g, sắc uống ngày một thang, chia 2 lần vào sáng và tối, liệu trình trong 7 ngày. (2) Dùng viên ngũ gia bì, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 5 viên. (3) Cành nhỏ ngũ gia bì lượng vừa đủ, sắc lấy nước để ngâm rửa vùng tổn thương nhằm giảm cảm giác ngứa ngáy. (4) Rễ ngũ gia bì tươi rửa sạch, giã nát cùng với hoa cúc trắng rồi đắp trực tiếp lên vùng tổn thương trong 15-20 phút rồi rửa sạch bằng nước ấm.
* Cây sả giúp giải cảm
     Là một trong những gia vị quen thuộc của người Việt, vị cay, tính ấm, có công dụng làm ra mồ hôi, thông tiểu, hạ khí tiêu đờm. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, sả có tác dụng kháng khuẩn, kháng virut và nấm, giảm đau, hạ sốt, chống viêm. Khi bị cảm có thể dùng : (1) Lá sả, kinh giới, tía tô, trắc bá diệp, bạc hà, lá chanh, lá tre, lá ổi…mỗi thứ một nắm (mỗi nồi chừng 5 loại lá) nấu nước để xông giải cảm. (2) Bột giải cảm: sả khô bỏ rễ 40g, hoắc hương khô 40g, bạc hà khô 40g, vỏ quýt lâu năm 20g, củ gấu (đã chế biến) 20g, cam thảo 20g. Tất cả sấy khô, tán bột đóng gói 20g. Người lớn ngày 2 gói chia 4 lần. Trẻ em liều 1/2. Uống với nước nóng, đi nằm cho ra mồ hôi. Nếu có nôn cho thêm 3 láy gừng tươi hãm lấy nước uống cùng. (3) Củ sả 40g, gừng tươi 40g, hai thứ rửa sạch, giã nát, nấu với 650 ml nước, đun khoảng 10 phút, bỏ bã, thêm đường vào cô lại thành cao, ngậm nuốt dần trong ngày.
* Hoa mười giờ chữa ho, viêm họng
     Theo dược học cổ truyền, loài hoa này vị đắng cay, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết tiêu sưng, chỉ thống, thường được dùng để chữa chứng hầu họng sưng đau, viêm da, lở ngứa, ghẻ, bỏng lửa…Trong thành phần của hoa mười giờ có potulal, cyanin…, có khả năng khánh khuẩn, tiêu viêm, tăng cường miễn dịch. Khi bị ho, viêm họng có thể dùng : (1) Hoa mười giờ tươi 30g, sắc uống. (2) Hoa mười giờ 100g, lá rẻ quạt 10g, rửa sạch, giã nát, hòa với 100 ml nước nóng rồi chắt lấy nước cốt, ngậm 2-3 lần trong ngày, sau chừng 3-5 ngày sẽ khỏi.
(còn tiếp)

                                                                                      Hoàng Khánh Toàn

Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017

NGƯU HOÀNG THANH TÂM LIQUID

SẢN PHẨM NÀO CHO DỰ PHÒNG VÀ HỖ TRỢ
TRỊ LIỆU ĐỘT QUỴ NÃO HỮU HIỆU ?


     Trong mươi năm gần đây, khi bệnh lý đột quỵ não, còn gọi là tai biến mạch não, có xu hướng ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp thì nhu cầu tìm hiểu và sử dụng các đông dược thành phẩm trở nên hết sức cần thiết. Nhiều chế phẩm trị liệu căn bệnh này có xuất xứ từ các nước như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản...đã có mặt trên thị trường đông dược nước ta bằng nhiều con đường khác nhau, trong đó có một sản phẩm được rất nhiều người quan tâm là Ngưu hoàng thanh tâm (NHTT) dạng nước của Hàn Quốc.
     Sản phẩm này có nguồn gốc từ cổ phương Ngưu hoàng thanh tâm nguyên được ghi trong y thư cổ Hòa tễ cục phương (Trung Quốc) và Đông y bảo giám (Hàn Quốc). Trong phương, ngoài các vị thuốc quý làm nên công dụng thanh nhiệt giải độc, trấn kinh khai khiếu, hóa đàm tức phong như ngưu hoàng, xạ hương, linh dương giác, hoàng cầm, phòng phong, cát cánh, hạnh nhân…giống như An cung ngưu hoàng hoàn nhưng không quá mãnh liệt, còn có các vị thuốc bổ âm huyết, dưỡng dương khí như đương quy, a giao, mạch môn, nhân sâm, bạch truật, hoài sơn nhục quế, bạch linh…giúp cho sản phẩm có khả năng vừa công vừa bổ, lấy công làm bổ, lấy bổ làm công rất thích hợp cho việc dự phòng tích cực và hỗ trợ trị liệu những trường hợp đột quỵ não với các biểu hiện như khí huyết bất túc, đàm nhiệt trở trệ, thần trí hư phiền, ngực bụng bức bối, đầu choáng mắt hoa, miệng mắt méo xệch, bán thân bất toại, không nói được hoặc nói khó, đờm rãi nhiều…, đặc biệt trong giai đoạn bán cấp và hồi phục.
     Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, NHTT có tác dụng hồi tỉnh do hồi phục công năng hướng tâm của cấu trúc lưới trong chất não, trấn tĩnh, giải độc, chống co giật, giải nhiệt hạ sốt, làm giảm huyết áp nhưng lưu lượng động mạch vành và sức co bóp cơ tim lại gia tăng, nâng cao năng lực chịu đựng của tế bào cơ tim và tế bào não trong điều kiện thiếu ôxy, làm tăng lưu lượng tuần hoàn não, giảm mỡ máu, dự phòng tích cực tình trạng vữa xơ động mạch.
     Bởi vây, NHTT có khả năng dự phòng tích cực đột quỵ não, ổn định huyết áp, làm bền vững thành mạch, đặc biệt ở những người có nguy cơ cao như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, người cao tuổi…; hỗ trợ điều trị và phục hồi di chứng tai biến mạch não ; hỗ trợ kiểm soát bệnh cao huyết áp và tình trạng rối loạn tiến đình mạn và cấp tính ; chống huyết khối, giảm thiểu tình trạng thiếu ôxy của não và tim, hỗ trợ củng cố sức khỏe hệ tuần hoàn, sử dụng được cho những những bệnh nhân mắc bệnh tim mạch ; điều hòa lipid máu, chống mệt mỏi, cải thiện giấc ngủ và giảm thiểu hậu quả của stress ; hỗ trợ phục hồi chức năng và sức khỏe cho những trường hợp chấn thương sọ não.
     Ngưu hoàng thanh tâm trước đây thường được bào chế dưới dạng viên hoàn, nhưng hiện nay Công ty Iksu Pharmaceutical Co., Ltd của Hàn Quốc đã cho ra đời NHTT dưới dạng nước được gọi là Ngưu hoàng thanh tâm liquid đảm bảo vẫn giữ nguyên tính hiệu quả và tính an toàn mà lại giúp hấp thu nhanh, tiện sử dụng và có mùi thơm dễ chịu. Sản phẩm được đựng trong chai thủy tinh có nút kín và để trong hộp giấy nhỏ, mỗi chai chứa 50ml, hộp lớn có 3,6 và 10 hộp nhỏ. Với những người lớn sau tai biến, hội chứng tiền đình…uống 1 chai/lần, 1-2 lần/ngày ; dùng dự phòng uống 1 chai/lần/ngày hoặc có thể 3-4 ngày uống 1 lần 1 chai. Chú ý bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, ở nhiệt độ phòng (15 độ C-30 độ C), tránh ánh năng mặt trời.
     Ngưu hoàng thanh tâm liquid quả thực là một trong những sự lựa chọn chính xác và hữu hiệu cho việc dự phòng và hỗ trợ trị liệu đột quỵ não trên nhiều phương diện khác nhau !    

                                                               ThS.BS Hoàng Khánh Toàn

                                                 Chủ nhiệm khoa Đông y, Bệnh viện TƯQĐ 108

Thứ Ba, 11 tháng 4, 2017

VÀI MÓN ẨM THỰC SINH TÂN

VÀI MÓN ẨM THỰC THANH NHIỆT SINH TÂN




* Canh sa căn thuần điểu trư nhục
     Sa căn (củ đậu) 500g, thuần điểu (chim cút) 500g, thịt lợn nạc100g, một chút trần bì (vỏ quít), nước và gia vị vừa đủ. Sa căn bóc vỏ rửa sạch, thái con chì ; chim cút làm sạch, để nguyên con ; thịt lợn thái mỏng. Tất cả cho vào nồi, chế đủ nước, hầm nhỏ lửa chừng 2,5 giờ cho thật nhừ, chế thêm gia vị, dùng làm canh ăn. Chim cút, còn gọi là Am thuần, Uyển thuần, vị ngọt tính bình, có công dụng bổ tỳ ích khí, thanh nhiệt trừ thấp, làm mạnh gân cốt). Người xưa coi chim cút là "nhân sâm động vật". Củ đậu vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt, sinh tân dịch và làm hết khát. Món canh này có thể cho thêm một chút đậu đỏ và vài lát gừng tươi để tăng tác dụng thanh nhiệt trừ thấp và thêm phần hấp dẫn.
* Canh hà diệp nhị đậu.
     Hà diệp 1 tàu, biển đậu 25g, xích tiểu đậu 25g, trần bì (vỏ quýt) 12g, phụ trúc 50g, vịt 1 con (sau khi làm sạch còn chừng 400g là vừa), thịt lợn nạc 100g, gia vị vừa đủ. Hà diệp rửa sạch, thái nhỏ ; biển đậu, xích tiểu đậu và phụ trúc rửa sạch ; trần bì thái chỉ ; thịt vịt và thịt lợn chặt miếng. Tất cả cho vào nồi, chế đủ gia vị, đổ vừa nước rồi dùng lửa nhỏ hầm chừng 3 giờ là được, dùng làm canh ăn trong ngày. Công dụng : Thanh nhiệt giải thử, sinh tân chỉ khát, kiện tỳ dưỡng âm (giải nhiệt, làm mát, phòng chống nắng nóng, làm tăng lượng dịch đã bị hao tổn vì mồ hôi ra nhiều, giải khát, cải thiện chức năng của dạ dày ruột, kích thích tiêu hoá).
* Nước uống bí đao dưa hấu
     Bí đao 500g, dưa hấu 500g, đường trắng vừa đủ. Bí đao gọt vỏ, bỏ ruột, rửa thật sạch ; dưa hấu lấy ruột, bỏ hạt ; hai thứ thái miếng, dùng máy ép lấy nước rồi chế thêm một chút đường trắng, chia uống nhiều lần trong ngày. Công dụng : thanh nhiệt giải thử, trừ phiền chỉ khát, lợi niệu tiêu thũng. Dùng để giải nhiệt, phòng chống say nắng, say nóng...Theo y học cổ truyền, dưa hấu có công dụng giải say nắng, làm hết khát, trừ phiền, lợi thủy, cầm lỵ...Hai loại quả phối hợp với nhau tạo nên một thứ nước giải khát chữa bệnh lý tưởng trong mùa hè.
* Nước uống bí đao bình quả
     Bí đao 100g, bình quả (loại táo quả to nhập khẩu từ Trung Quốc và các nước Đông Âu) 800g, cà rốt 200g, đường phèn 100g, trần bì 20g. Bí đao gọt vỏ bỏ ruột, thái miếng ; bình quả rửa sạch, bỏ ruột, thái miếng ; cà rốt cạo vỏ, thái miếng ; trần bì ngâm nước cho mềm rồi thái chỉ. Tất cả cho vào nồi, đổ vừa nước, nấu trong 30 phút, chế thêm đường phèn, dùng làm nước giải khát. Công dụng : thanh nhiệt hóa đàm, trừ phiền chỉ khát, lợi niệu tiêu thũng, trợ tiêu hóa, ích tỳ chỉ tả. Theo y học cổ truyền, bình quả có công dụng sinh tân chỉ khát, kiện tỳ ích vị, giải nhiệt thanh tâm ; cà rốt có công dụng bổ tỳ tiêu thực, lợi tràng đạo, bổ can minh mục, thanh nhiệt giải độc, hạ khí chỉ khái.
* Cháo đậu xanh ngân hoa
     Đậu xanh 50g, kim ngân hoa 50g, cam thảo 10g, gạo tẻ 100g. Đậu xanh ngâm trước nửa ngày, kim ngân hoa và cam thảo sắc kỹ rồi bỏ bã lấy nước ninh với gạo và đậu xanh thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày, có thể cho thêm một chút đường phèn. Công dụng : thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm giải thử, dùng thích hợp cho những người hay bị mụn nhọt, lở ngứa, viêm loét, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ...trong những ngày hè nóng bức.
Canh cát căn đại táo trư nhục
     Cát căn (củ sắn dây) 500g, đại táo 4 quả, trư nhục (thịt thăn lợn) 150g, xương ống chân lợn 150g, nước và gia vị vừa đủ. Cát căn bỏ vỏ, rửa sạch, thái con chì ; thịt thăn thái to bằng 1/3 bao diêm ; xương ống đập vỡ ; đại táo rửa sạch. Tất cả cho vào nồi, chế đủ nước hầm nhừ trong 2 giờ, chế thêm gia vị, dùng làm canh ăn. Cát căn có công năng thanh nhiệt giải cơ, sinh tân chỉ khát, trừ phiền, nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy có tác dụng hạ nhiệt, giải độc, làm giãn mạch hạ huyết áp, cải thiện vi tuần hoàn, phòng chống rối loạn nhịp tim, hạ mỡ máu và đường huyết, tăng lưu lượng tuần hoàn não, kháng ô xy hóa và ung thư. Đại táo bổ tỳ ích khí, dưỡng huyết an thần. Thịt lợn tư âm, nhuận táo , bổ huyết. Ba thứ phối hợp với nhau tạo nên công dụng thanh nhiệt trừ phiền, bổ khí dưỡng huyết của món ăn. Loại canh này đặc biệt thích hợp với những người bị tăng huyết áp, đái tháo đường và có bệnh lý động mạch vành.
* Canh hiện nhục việt qua
     Hiện nhục (hến) 1000g, việt qua (quả bầu) 500g, thìa là, hành hoa, mỡ và gia vị vừa đủ. Hến ngâm nước gạo, rửa sạch, cho vào nồi với một bát con nước, đun sôi, thấy hến há miệng thì trút ra rổ, hứng lấy nước, gỡ thịt hến đem rửa sạch, để ráo ; bầu gọt vỏ, rửa sạch, băm nhỏ theo chiều dọc quả, thái vát thành sợi, bỏ ruột ; hành, thìa là rửa sạch, thái nhỏ ; củ hành thái mỏng để riêng. Phi thơm hành mỡ, cho hến vào xào qua, nêm ít nước mắm, xúc ra bát. Nước luộc hến bỏ cặn, đun sôi, cho bầu vào, đun sôi tiếp rồi đổ hến vào, chế thêm gia vị vừa đủ, dùng làm canh ăn nóng. Hến vị ngọt mặn, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi thấp, rất thích hợp cho những người bị mụn nhọt, lở loét ngoài da do nhiệt độc, tiểu tiện vàng đỏ, đái buốt, đái rắt, đái tháo đường. Trong thành phần hóa học của hến rất giàu kẽm nên có khả năng phòng chống u phì đại tiền liệt tuyến. Bầu vị ngọt, tính mát, có công dụng giải nhiệt độc, lợi tiểu tiện, làm hết khát, rất thích hợp cho những người bị viêm đường tiết niệu, mụn nhọt do nhiệt độc, đái tháo đường. Tuy nhiên, nếu tỳ vị hư yếu, đại tiện hay lỏng loãng thì không nên ăn loại canh này.

                                                                                            Hoàng Khánh Toàn


Công dụng của cây mật gấu

TÁC DỤNG CHỮA BỆNH CỦA CÂY MẬT GẤU

     Cây mật gấu với tên gọi khác là cây Hoàng liên ô rô hay cây mã rồ. Đây là loại cây mang nhiều tác dụng chữa bệnh rất hiệu quả. Loài này mọc hoang nhiều ở các tỉnh vùng núi phía bắc có khí hậu mát mẻ như Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn… Ở miền nam hay miền trung, do khí hậu không thích hợp nên cây mật gấu vẫn có thể sống nhưng sẽ phát triểm chậm và kém hơn.
     Cây chứa các hợp chất có tác dụng sinh học khác như: terpene, steroid, coumarin, flavonoid, acid phenolic, lignan, xanthone, anthraquinone, edotide and sesquiterpene (có tác dụng kháng ung thư). Ngoài ra lá còn chứa các chất khoáng: magnesium, chromium, manganese, selenium, sắt, đồng, kẽm, Vitamin A, E, C, B1,B2. protein thô, chất xơ, chất béo, tro, carbohydrate, các acid amin quan trọng: Leucine, Isoleucine, Lysine, Methionine, Phenyl alanine, Threonine, Valine, Histidine, Tyrosine.

     Những hợp chất trong cây mật gấu có tác dụng hỗ trợ điều trị các bệnh do quá trình viêm mạn tính, lão hoá, bệnh nhiễm giun sán, động vật nguyên sinh (protozoan) và vi khuẩn. Theo công bố trên Quyển Y - Sinh học thực nghiệm tháng 2 năm 2004 (Experimental Biology and Medicine of February 2004 Edition) cho thấy lá cây mật gấu có tác dụng hạ thấp tỉ lệ nguy cơ bị ung thư vú. Lá mật gấu dùng nấu dạng canh rau hay xay nhuyễn lấy nước uống như dạng nước bổ dưỡng trong nhiều dạng bệnh lý khác nhau. Nhiều thầy thuốc ở Châu Phi khuyên người dân dùng trị bệnh đường tiêu hoá, đái tháo đường, chán ăn, kiết lỵ và các chứng rối loạn tiêu hoá. Các Polyphenol có tính kháng viêm và anti - oxidant, thải độc, bảo vệ thận, gan, hỗ trợ điều trị một số bệnh ngoài da, làm giảm đường huyết, bao vệ tim mạch do giúp ổn định lipid máu. 

     Theo Đông y, cây mật gấu có vị đắng tính mát, vào 4 kinh: phế, vị, can, thận, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, mát gan, tiêu viêm, làm se, lợi mật, phòng ngừa và chữa sỏi mật, giảm đau lưng và thấp khớp, tăng cường sức khoẻ… Cây mật gấu còn có tác dụng rất tốt trong việc điều trị các triệu chứng về bệnh dạ dầy, rối loạn tiêu hoá,  đường ruột, đau nhức xương khớp, tê thấp, làm tiêu mỡ, giã rượu, cải thiện tình trạng béo phì và bệnh gút. Người ta thường dùng  10 - 20g  rễ hoặc thân cây sắc uống chữa ăn uống không tiêu, trị đau ngực, đau gối, chóng mặt, ù tai, viêm gan, vàng da, tiêu chảy, kiết lỵ, đau mắt. Dùng lá hay quả (8 - 12g) sắc uống hay phối hợp với các vị thuốc khác. Ngoài ra, cây mật gấu còn được dùng để chữa sốt cơn, ho lao, khạc ra máu, lưng gối yếu mỏi, mất ngủ. Dùng ngoài, nấu nước đặc để rửa chữa viêm da dị ứng, lở ngứa…Cách dùng : Chẻ nhỏ sắc nước uống hàng ngày (mỗi ngày sử dụng khoảng 20g) hoặc ngâm rượu (ngày uống 3 lần mỗi lần 10 - 20 ml)

     Y học dân gian ở nhiều quốc gia cũng dùng cây mật gấu chữa nhiều  bệnh như : Ấn Độ dùng lá chữa tiểu đường, dùng cành, rễ hỗ trợ điều trị HIV, hạ sốt, giảm ho, phát ban, cảm cúm, viêm vú. Congo dùng lá và vỏ rễ chữa kiết lỵ, viêm dạ dày, ruột, sốt rét, viêm gan, nhiễm giun. Nam Phi dùng rễ chữa sán máng (huyết hấp trùng), hiếm muộn, rối loạn kinh nguyệt. Nhiều nơi ở Tây Phi dùng lá làm trà lợi tiểu, chữa táo bón, nhiễm trùng da, đái đường, bệnh chuyển hóa liên quan đến gan… 

                                                                   ThS Hoàng Khánh Toàn



Thứ Ba, 4 tháng 4, 2017

Thói quen xấu ảnh hưởng đến xương khớp

NHỮNG THÓI QUEN ẢNH HƯỞNG XẤU ĐẾN HỆ CƠ XƯƠNG KHỚP


Hiện nay, tỷ lệ bệnh nhân mắc các bệnh lý về cơ xương khớp ngày càng gia tăng và có xu hướng trẻ hóa, đặc biệt là các bệnh lý về cột sống. Ngoài nguyên nhân do quá trình thoái hóa tự nhiên diễn ra, thì phần lớn bệnh lý phát sinh là do những thói quen trong sinh hoạt hàng ngày làm ảnh hưởng xấu đến hệ cơ xương khớp. Việc chữa trị thường kéo dài dễ tái phát, làm giảm chất lượng cuộc sống, hiệu suất công việc cũng như gây gánh nặng về kinh tế. Để tránh mắc phải những căn bệnh liên quan tới xương khớp thì việc phòng bệnh là rất quan trọng. Dưới đây là những thói quen có tác động xấu, làm giảm tuổi thọ của xương khớp mà nhiều người hay mắc phải.
1. Bẻ tay, vặn lưng, cổ quá mức
Việc bẻ khớp ngón tay, vặn lưng, vặn cổ, các khớp hoạt động nhanh đột ngột và quá tầm vận động, dẫn đến việc phá hủy các cấu trúc sụn khớp và dây chằng xung quanh khớp nên rất có hại cho khớp.  
Đây chính là nguyên nhân khiến các khớp ngày càng to lên. Đồng thời, cũng có thể gây ra nhưng tổn thương như: bong gân, giãn dây chằng, trật khớp, làm sụn khớp nhanh bào mòn và đẩy nhanh quá trình lão hóa.
Nếu không bỏ thói quen này, khớp sẽ bị thoái hóa, biến dạng khớp, to khớp ở vùng các ngón tay hay rách dây chằng, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, cột sống thắt lưng, thoát vị nhân đĩa đệm gây chèn ép rễ thần kinh...
2. Đi giày cao gót
Giày cao gót giúp tăng chiều cao cơ thể, tạo dáng đẹp. Tuy nhiên, khi mang giày cao gót, các cơ của cột sống thắt lưng và bắp chân cũng như gân gót lâm vào tình trạng căng giãn quá mức nên rất dễ đau và mỏi. Triệu chứng sẽ là đau lưng, đau bắp chân hay đau phần trên của gót chân. Khi các nhóm cơ làm việc quá tải sẽ yếu, không giữ vững được các cấu trúc như cột sống, khớp gối, cổ chân dễ gây chấn thương do té ngã và tổn hại đến hệ khớp
Bằng việc nâng cao gót chân, toàn bộ trọng lượng cơ thể bình thường chịu lực qua xương gót to và dày thì lại chuyển qua chịu trên xương bàn và các ngón chân vốn dĩ mỏng hơn và nhỏ hơn. Nghiên cứu cho thấy độ cao của đế giày cứ tăng mỗi 2,5 cm thì áp lực lên bàn chân trước tăng 22-25%. Do đó mang giày cao 7cm, áp lực xương bàn phải chịu là 175% mức bình thường. Việc này rất dễ gây thoái hóa khớp bàn ngón, nhất là ngón cái.
Mũi giày càng nhỏ hẹp sẽ ép các ngón chân lại với nhau gây vẹo ngón cái ra ngoài, lâu ngày gây biến dạng ngón cái và các ngón khác. Ngoài ra, việc ép các ngón chân ở mũi giày gây chèn ép, tổn thương các nhánh thần kinh gây đau hay phì đại các nhánh thần kinh vùng bàn chân.
Tóm lại, tránh mang giày cao gót quá lâu, khi chọn mua giày không nên chọn đế quá cao, phần mũi giày không nên ép các ngón chân quá chật, chất liệu da giày nên mềm mại và không gây kích ứng.
3. Các thói quen xấu ảnh hưởng đến cột sống
- Ngồi không đúng tư thế, ngồi lâu.
- Mang balô nặng, mang túi nặng một bên.
- Đi khom người hay đứng xiêu vẹo.
- Nhặt đồ vật khom lưng hay khiêng vật nặng khom lưng
- Mang vật nặng xoay đột ngột.
Nếu bạn là dân văn phòng và phải thường xuyên ngồi máy tính làm việc mỗi ngày thì việc ảnh hưởng xấu đến xương khớp là điều không thể tránh khỏi. Ngồi làm việc hay đứng quá lâu tại một vị trí khiến tuần hoàn máu ở chân sẽ giảm, cơ mông, hông ngày càng trở nên kém linh hoạt, xương dần mỏng đi, giòn và dễ gãy hơn. Các khớp xương bàn tay, cổ tay và cánh tay luôn luôn phải hoạt động với chuột và bàn phím khiến cho các dây chằng và cơ phải chịu sức ép khi hoạt động liên tục.
Thói quen ngồi lâu, liên tục trên hai giờ làm mỏi nhóm cơ cạnh cột sống khiến chúng ta khòm lưng và cúi ra trước, dẫn đến căng các nhóm cơ và dây chằng phía sau cột sống. Sự mệt mỏi của hệ thống giữ vững này gây đau và nếu kéo dài làm cột sống không vững, dẫn đến tổn thương các đốt sống, thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống. Do đó, chúng ta cần hạn chế ngồi làm việc lâu quá hai giờ. Để phòng ngừa các bệnh xương khớp, bạn hãy từ bỏ thói quen ngồi làm việc quá lâu tại một vị trí mà hãy tranh thủ một vài phút giải lao đi lại, vận động nhẹ nhàng vừa giúp tinh thần thoải mái vừa ngăn ngừa bệnh thoái hóa khớp cổ, vai, cột sống.
Ngoài ra, việc mang balô hay túi nặng một bên khiến cột sống phải nghiêng hẳn một bên, các nhóm cơ hoạt động không đều dễ bị vẹo cột sống, tổn thương đốt sống và dây chằng. Do vậy khi mang túi xách, chúng ta không nên mang quá 10% trọng lượng cơ thể và khi phải mang nhiều hơn, chúng ta mang đều hai tay.
Khi cúi gập ngang hông lưng quá 90 độ, hệ thống dây chằng phía sau căng quá mức có thể bị rách, đĩa đệm chịu lực quá mức có thể lồi ra phía sau gây thoát vị đĩa đệm. Nên hạn chế gập lưng quá mức, nhất là khi nhặt đồ vật rơi. Đặc biệt không nên cúi người khiêng vật nặng. Tư thế đúng trong các việc này là ngồi xuống và thẳng lưng để nhặt đồ vật.
4. Ngồi xổm, leo cầu thang, chéo chân hay bó chân
Khớp gối gồm khớp chè đùi và khớp đùi chày, chịu toàn bộ trọng lượng của cơ thể. Khi gối co, áp lực do cơ ở phần đùi và gân bánh chè sẽ ép xương bánh chè trượt trên xương đùi. Lúc đi bộ, lực này tác động bằng khoảng 1/2 trọng lượng cơ thể, khi leo cầu thang lực này gấp 3-4 lần trọng lượng cơ thể và khi ngồi xổm, lực này gấp 7-8 lần trọng lượng cơ thể. Do vậy thói quen ngồi xổm tạo áp lực rất lớn phá hủy sụn xương bánh chè và sụn xương đùi gây thoái hóa khớp chè đùi. Tập luyện cơ tứ đầu đùi và tránh thói quen ngồi xổm, hạn chế tối đa lên xuống cầu thang hay khiêng vác lên cầu thang sẽ giúp bảo vệ khớp chè đùi.
5. Dùng thuốc giảm đau không theo chỉ định
Một lý do đáng lưu ý khác được xuất phát từ việc dùng thuốc giảm đau không đúng. Trong nhóm thuốc giảm đau kháng viêm thì tác dụng phụ viêm dạ dày là hay gặp nhất. Nguy cơ tim mạch, bệnh thận từ thuốc giảm đau cũng được ghi nhận với nhóm NSAID.
Nhóm thuốc kháng viêm mạnh như corticoid có hiệu quả cao, nhưng dùng lâu dài sẽ gây loãng xương và lệ thuộc thuốc, gây hội chứng Cushing do thuốc. Do vậy nên dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ.
6. Dinh dưỡng thiếu và không cân đối
Chế độ ăn uống ảnh hưởng rất lớn để khả năng hoạt động của hệ xương khớp. Ăn uống thiếu chất khiến cơ thể không đủ dinh dưỡng để nuôi dưỡng xương khớp. Ngược lại, chế độ ăn quá nhiều các chất đường và chất béo cũng khiến bạn thừa cân, béo phì, làm cho hệ xương khớp phải chịu đựng sức nặng nhiều hơn, hoạt động nhiều hơn, làm tăng nguy cơ bị các bệnh xương khớp.
Bệnh chuyển hóa ngày càng nhiều và gặp ở lứa tuổi ngày càng trẻ dần. Bệnh bao gồm rối loạn lipid máu, đái tháo đường, bệnh gout... Bệnh gout ảnh hưởng đến khớp nhiều nhất trong nhóm bệnh này, thường gặp ở những người hay ăn nhậu, uống nhiều bia rượu và ăn nhiều hải sản, nội tạng đôngn vật...
Thói quen sử dụng nhiều rượu bia, thuốc lá, cà phê, nước ngọt có ga cũng làm giảm lượng canxi và khả năng hấp thụ canxi gây ra bệnh loãng xương. Vì thế, tăng cường uống sữa, ăn nhiều rau xanh lá đậm, trái cây tươi, ngũ cốc, hải sản… vừa tốt cho sức khỏe vừa bảo vệ hệ xương khớp vững chắc.
8. Lười vận động                     
Lười vận động là một trong những thói quen xấu gây hại cho xương khớp. Theo một số nghiên cứu khoa học nhận thấy Việt Nam là một trong 10 nước có tỷ lệ người lười vận động nhất trên thế giới. Thói quen lười vận động sẽ dẫn đến hàng loạt các bệnh nguy hiểm như: tim mạch, tiểu đường, béo phì, đặc biệt là các bệnh về xương khớp như: viêm khớp, thoái hóa khớp, đau vai gáy, đau cột sống…
Thay vì ngồi một chỗ, mỗi ngày bạn chỉ cần dành khoảng 30 phút thực hiện những bài tập thể dục đơn giản, không chỉ rất hữu ích cho hệ xương khớp mà còn tăng cường sức khỏe như: bơi lội, đạp xe, đá bóng, cầu lông, võ thuật, tập thái cực quyền, khí công dưỡng sinh…
9. Giảm cân quá nhanh

Một nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ cho thấy tác dụng phụ của việc giảm béo đột ngột, kém an toàn chính là hạn chế quá trình hấp thụ canxi ở xương và đẩy nhanh quá trình lão hóa. Vì khi giảm cân quá nhanh khiến sự liên kết của lớp mỡ và bắp thịt trở nên lỏng lẻo. Đó là lý do vì sao mà trong một số trường hợp xảy ra sự cố như: ngã, trượt chân, thậm chí là gãy xương. Điều này cũng lý giải vì sao những người sau khi giảm cân lại yếu và dễ mắc bệnh loãng xương.

Trả lời bạn đọc

     Hỏi :  Cháu bị sổ mũi, nghẹt mũi. Đi khám bác sĩ chẩn đoán viêm mũi dị ứng và vẹo vách ngăn, uống thuốc nhưng không khỏi. Cháu đọc 1 bài báo có nói bài thuốc tên "thương nhĩ tán" có thể chữa viêm mũi, viêm xoang. Xin hỏi bác sĩ cháu có thể uống bài thuốc này được không, liều lượng và cách dùng như thế nào, mua ở đâu ạ? Xin bác sĩ chỉ giúp. Cháu cảm ơn!
     Đáp : Thương nhĩ tử tán là một phương thuốc do y gia trứ danh Nghiêm Dụng Hoà, tự Tử lễ, người Giang Tây, Trung Quốc sáng chế và được ghi lại trong trước tác Tế sinh phương nổi tiếng của Ông với thành phần đơn giản gồm : Thương nhĩ tử 2 tiền rưỡi (7g), tân di nửa lạng ta (15g), bạch chỉ 1 lạng (30g), bạc hà nửa tiền (1,5g), tất cả sấy hoặc phơi khô, tán thành bột mịn, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 6g.
    Thương nhĩ tử tán có công dụng tán phong hàn, thông tỵ khiếu (làm thông mũi), chỉ đầu thống (chống đau đầu), thường được dùng để trị các chứng bệnh về mũi xoang như Tỵ cừu (chảy nước mũi trong và hắt hơi nhiều, Tỵ tắc (ngạt mũi), Tỵ thế (chảy nước mũi), Tỵ trất (Ngạt mũi), Tỵ uyên (chảy nước mũi tanh hôi kéo dài)..., tương ứng với y học hiện đại là các bệnh như viêm mũi dị ứng, viêm mũi cấp và mạn tính, viêm xoang cấp và mạn tính...
     Trong phương, thương nhĩ tử vị cay đắng, tính ấm, có công dụng thông mũi, trừ phong thấp, chỉ thống (giảm đau) ; bạch chỉ vị cay, tính ấm, có công dụng giải biểu, trừ phong táo thấp, tiêu thũng bài nùng (chống phù nề và làm hết mủ), chỉ thống ; tân di vị cay, tính ấm, có công dụng tán phong hàn, thông tỵ khiếu ; bạc hà vị cay, tính mát, có công dụng sơ tán phong nhiệt, thanh lợi đầu mục, lợi hầu, thấu chẩn.
     Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, thương nhĩ tử có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, giảm đau, giảm ho, ức chế miễn dịch, chống ôxy hoá, hạ huyết áp và đường huyết, hưng phấn hô hấp và chống ung thư ; bạch chỉ có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, giảm đau, giải nhiệt, chống co giật, hạ huyết áp, chống ung thư và cầm máu ; tân di có tác dụng giảm đau, tiêu viêm, giảm phù nề, chống dị ứng, hạ huyết áp, kháng khuẩn, ức chế ngưng tập tiểu cầu, chống ung thư và làm hưng phấn hô hấp ; bạc hà có tác dụng giải nhiệt, giảm đau, kháng khuẩn, kháng virut, chống viêm, giảm ho, trừ đàm, giảm ngứa, và lợi mật. Điều này giải thích vì sao bốn vị thuốc phối hợp với nhau trong phương thuốc lại có công dụng trị liệu hữu hiệu các bệnh lý viêm nhiễm ở mũi xoang.
     Bạn hoàn toàn có thể dùng bài thuốc này dưới dạng thuốc sắc uống hoặc sử dụng các thành phẩm đông dược có nguồn gốc từ Thương nhĩ tử tán ví như viên nang Thương nhĩ tử tán của công ty Mediplantex hoặc Thông xoang tán của công ty Nam dược. Tuy nhiên, các sản phẩm này được sản xuất để dùng chung cho mọi đối tượng nên hiệu quả chỉ ở mức vừa phải. Tốt nhất là bạn nên đến các cơ sở y học cổ truyền để khám và kê đơn theo quan điểm “biện chứng luận trị” thì kết quả sẽ tốt hơn nhiều. Thông thường người ta hay dùng bài thuốc này phối hợp với bài Ngọc bình phong tán. Nếu có thể, bạn hãy đến khoa Đông y, bệnh viên trung ương Quân đội 108, số 1, Trần Hưng Đạo, Hà Nội, chúng tôi sẽ sẽ sẵn lòng giúp bạn. Địa chỉ liên hệ : 069572256 hoặc 0983585858.