Thứ Sáu, ngày 18 tháng 4 năm 2014

Khí công chữa di chứng đột quỵ

TẬP LUYỆN KHÍ CÔNG CHỮA DI CHỨNG ĐỘT QUY Đột quỵ, thuộc phạm vi chứng Trúng phong trong đông y, là một trong những căn bệnh nguy hiểm và thường để lại di chứng nặng nề. Để giải quyết vấn đề này, việc sử dụng các biện pháp của đông y như dùng thuốc, châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt…là hết sức hữu ích, trong đó còn có việc tập luyện khí công. Bài viết này xin được giới thiệu một quy trình cụ thể để độc giả tham khảo và vận dụng khi cần thiết trong hoàn cảnh phù hợp. Bước 1 : Tiến hành xoa bóp toàn thân, nhất là bên liệt khoảng 15 phút, giúp người bệnh vận động co và duỗi các chi thể. Nếu có thể chủ động vận động được thì làm tiếp các động tác sau : - Nằm ngửa, hai bàn tay nắm chặt lại, cánh tay và đùi thay nhau co duỗi. - Tập tự ngồi dậy, ban đầu có sự trợ giúp, sau đó tự tập ngồi dậy. - Ngồi dậy, nâng chân và giẫm chân tại chỗ 10-15 lần. - Chuyển từ tư thế ngồi sang tư thế đứng, tựa vào mép giường hoặc thành ghế đứng dậy. - Giẫm chân tại chỗ 10-15 lần - Hai chân thay thế nhau nâng lên một lát 10 lần - Dựa vào thành giường hoặc ghế mà bước đi. Dần dần tập đi chống gậy rồi tiến tới độc lập tự đi được. - Tiếp tục tập bước lên hoặc xuống các bậc thang gác hoặc đi bộ cự ly ngắn. - Tay tập viết chữ, nắm bóp quả cầu nhỏ - Tập ngồi xổm rồi đứng dậy. Các thao tác trên đây lựa chọn tập lần lượt và tiến tới tùy theo mức độ phục hồi của bệnh nhân và tuần thủ nguyên tắc từ dễ đến khó, từ nhiều đến ít, từ dài đến ngắn, không nóng vội và bỏ qua giai đoạn. Bước 2 : Tập luyện Phóng tùng công, công pháp thuộc Tịnh công, lấy việc thư giãn thần kinh, thả lỏng cơ thể, hơi thở điều hòa tự nhiên, niệm chữ “lỏng” và thể nghiệm, quan sát cảm giác thả lỏng. Trước khi luyện khí công hãy chia thân thể thành hai bên là tiền diện, hậu diện và 3 đường (tuyến) Tuyến 1- (2 bên) : Hai bên đầu → hai bên cổ → vai → cánh tay → khớp khuỷu → cẳng tay → khớp cổ tay → hai bàn tay → mười ngón tay. Tuyến 2 – (tiền diện = mặt trước) : Mặt → cổ → ngực → bụng → eo lưng → khớp gối → hai cẳng chân → mười ngón chân. Tuyến 3 (hậu diện = mặt sau) : Sau đầu → sau cổ → eo lưng → mặt sau hai đùi → hai cẳng chân → hai bàn chân(mặt dưới). Sauk hi nắm vững ba tuyến mới bắt đầu luyện tập. Dùng tư thế ngồi hoặc nằm. Trước tiên chú ý vào một bộ vị, sau mới niệm chữ “lỏng”. Lại chú ý đến dưới một bộ vị và niệm chữ “lỏng”. Bắt đầu tập luyện từ tuyến 1 theo thứ tự từ trên xuống dưới, thả lỏng từng bộ phận làm cho thư giãn . Tuyến 1 thả lỏng xong thì làm tiếp tuyến 2 rồi đến tuyến 3 xong đến bộ vị sau cùng thì nghỉ 1-2 phút. Sua khi thả lỏng cả ba tuyến thì ý thủ tại rốn trong 3-4 phút. Công pháp này có thể luyện khoảng 3 vòng, mỗi ngày 1 lần. Hoàng Khánh Toàn

Kinh nghiệm dân gian chữa bệnh sởi

KINH NGHIỆM DÂN GIAN PHÒNG CHỐNG BỆNH SỞI Trong y học cổ truyền, bệnh sởi được gọi là Ma chẩn, Sa tử..., nguyên nhân do bệnh độc xâm nhập vào kinh phế. Bệnh thường thấy ở trẻ em dưới 5 tuổi, nhưng trong những năm gần đây, người ta thấy ngay người lớn tuổi mặc dù đã tiêm vacxin hay chưa vẫn có thể mắc lại căn bệnh này. Kinh nghiệm dân gian phòng chống bệnh sởi là hết sức phong phú, xin được giới thiệu một số ví dụ cụ thể : @ Dự phòng bệnh sởi - Đậu đen 50g, đậu đỏ 50g, đậu tím 50g, cam thảo dây 20g, tất cả đem ninh nhừ mỗi tuần ăn 2 lần trước và trong mùa bệnh sởi lưu hành. - Đậu đen 50g, đậu đỏ 50g, đậu xanh 30g, ba thứ đem rang chín rồi nấu nước chia uống nhiều lần trong ngày. - Đậu đỏ, đậu xanh, đậu vàng, đậu trắng, đậu đen, mỗi thứ 50g, tất cả sao vàng, sắc kỹ dùng làm nước uống hàng ngày. - Quán chúng 20g, cam thảo 9g, đậu xanh 60g. Tất cả gói vào một miếng vải sạch rồi ngâm vào trong vại nước dùng để nấu ăn hàng ngày của gia đình, cứ 3 ngày thay thuốc một lần. - Rễ rau mùi 7 cây, rửa sạch, sắc lấy nước cho trẻ em uống 2 lần trong ngày, liên tục trong7-10 ngày. - Bột nhau thai hoặc bột cuống rốn thai nhi sấy khô, mỗi ngày dùng 2 gam chia uống 3 lần trong ngày, uống liền trong 2 ngày. - Quán chúng lượng vừa đủ, sấy khô, tán thành bột, mỗi ngày dùng 0,5g chia uống 3 lần, liên tục trong 3 ngày. - Hạ khô thảo 30g, sắc lấy nước cho trẻ uống nhiều lần trong ngày @ Khi sởi chưa mọc - Lá diếp cá 16g, cam thảo đất 12g, rau rệu 16g, sắc chia uống 3 lần trong ngày. Nếu có thêm rau má 20g thì càng tốt. - Bèo cái 12g, ngưu bàng tử 8g, liên kiều 8g, sắn dây 12g, thăng ma 8g, xác ve sầu 4g, đậu xị 12g, sắc uống. Nếu sốt cao gia thêm kim ngân hoa 12g, hoàng cầm 12g. - Kinh giới 12g, rau má 12g, sắn dây 12g, nước 1 bát, sắc lấy nửa bát, hoà với đường uống dần trong ngày. - Lá mùi tàu 20g, húng chanh 20g, diếp cá 20g, tất cả rửa sạch, giã lấy nước cốt uống trong ngày. - Lá mùi tàu 20g, cây nọc sởi 40g, sắc đặc chia uống 2 lần trong ngày. - Hạt mùi 10 - 15g, giã nát, đem sao nóng với một chút rượu rồi gói vào miếng vải, để lên má mình thấy vừa nóng thì xoa đều lên trán, hai má, sau tai và gáy, đánh dọc hai bên cột sống người bệnh. Thường kết hợp với một bài thuốc uống thì hiệu quả mọc sởi càng cao. - Sừng trâu 50g sao với cát tán thành bột, vừng đen rang tán bột 25g, hai thứ trộn đều, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 20g với nước cháo gạo nếp. - Bạch mao căn 30g, sắc lấy nước uống nhiều lần trong ngày. Dùng để chữa bệnh sởi không phát ban ở trẻ em. -Tía tô lượng vừa đủ, sắc lấy nước xông cho trẻ (không dùng để tắm), dùng để chữa sởi không phát ban ở trẻ em. - Tây hà liễu (liễu Quan âm), bèo cái tía lượng bằng nhau, sắc lấy nước lau rửa cơ thể, dùng để chữa sởi không phát ban ở trẻ em. - Xác ve sầu 3g, rễ rau mùi 9g, bèo cái 9g, kinh giới 6g, sắc lấy nước uống, khi they sởi mọc là được, dùng để chữa sởi không phát ban ở trẻ em. - Rễ lau tươi 60g, sắc lấy 1 bát nước để uống, có tác dụng thúc đẩy sởi mọc nhanh, dùng để chữa bệnh sởi chậm phát ban. @ Khi sởi đã mọc - Lá tre 20g, sài đất 20g, củ sắn dây 12g, mạch môn 12g, cam thảo đất 20g, kim ngân hoa 20g, sắc uống. - Củ sắn dây 20g, kinh giới 12g, lá từ bi 12g, đậu đen 12g, gừng tươi 3 lát, nước 3 bát, sắc còn 1 bát chia uống 2 lần trong ngày. - Lá diếp cá 200g, rửa sạch, vò với nước đun sôi để nguội, chia uống nhiều lần trong ngày. - Đại thanh diệp, huyền sâm, sinh địa, tri mẫu, mộc thông, địa cốt bì, kinh giới, cam thảo, đạm trúc diệp mỗi thứ 2g, sắc uống. @ Khi sởi đã bay - Sa sâm 120g, hoài sơn 60g, cam thảo 80g, đậu đỏ 120g, mạch môn 80g, hoàng tinh 80g, lá dâu non 120g, hạt sen 120. Tất cả sao thơm, tán thành bột, mỗi ngày uống 30g, chia làm 3 lần. - Rễ cây chân trâu 30g, kim ngân hoa 15g, lá diếp cá 15g, vỏ quýt 12, nước 2 bát, sắc còn nửa bát, chia uống 2 lần trong ngày. - Củ sả 20g, củ đinh lăng 20g, cam thảo đất 12g, mạch môn 12g, lá dâu non 12g, hạt sen sao vàng, sắc đặc chia uống 2 lần trong ngày. Gần đây, do bệnh sởi có xu hướng gia tăng nhiều người đã đổ xô đi mua hạt mùi về dùng cho trẻ với mong muốn dự phòng khiến cho giá hạt mùi tăng cao đột ngột. Điều này là hoàn toàn không có cơ sở. Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào chứng minh loại dược liệu này có khả năng dự phòng bệnh sởi. Dưới tay chúng tôi cũng chưa thấy y thư nào của y học cổ truyền trong nước và ngoài nước ghi lại kinh nghiệm dùng hạt mùi để phòng bệnh sởi ngoài những bài thuốc đã trình bày ở trên. Rất mong các bậc cha mẹ quan tâm lưu ý ! Hoàng Khánh Toàn

Thứ Hai, ngày 17 tháng 3 năm 2014

Kinh nghiệm dân gian chữa thủy đậu


KINH NGHIỆM DÂN GIAN CHỮA THỦY ĐẬU

 
     Trong y học cổ truyền, một trong những biện pháp chữa thủy đậu là sử dụng các kinh nghiệm và bài thuốc dân gian. Đây là cả một kho tàng hết sức phong phú, có thể dẫn ra một số ví dụ điển hình như :

   * Uống trong :  (1) Cỏ chân vịt 50g bỏ rễ và hoa, rửa sạch, phơi hay sấy khô, lấy 30g sắc uống, số còn lại đốt thành than, tán nhỏ rồi rắc và xoa vào chỗ bị bỏng rạ, mỗi ngày 1 lần, nếu mụn nước bị vỡ thì dùng nước cốt nghệ bôi lên để tránh làm mủ, hàng ngày kết hợp tắm rửa bằng nước sắc lá kinh giới hoặc vỏ cây sung.. (2) Kim ngân hoa 18g, cam thảo 3g, sắc uống, dùng cho thể nhẹ. (3) Lô căn  60g, dã cúc hoa 10g, sắc uống, dùng cho thể nhẹ. (4) Bản lam căn 30 - 50g, sắc uống thay trà. (5) ma hoàng 1,5g, cam thảo 1,5g, liên kiều 4,5g, tử thảo 4,5g, tang bạch bì 4,5g, hạnh nhân 3g, kim ngân dây 10g, xích thược 9g, sắc uống. (6) Lá dâu tằm 12g, cam thảo đất 12g, rễ cây sậy 12g, lá tre 12g, bạc hà 12g, kinh giới 12g, sắc uống. (7) Kim ngân hoa 12g, rau diếp cá 12g, quả dành dành 12g, cam thảo đất 12g, rau má 12g, lá chanh 12g, sắc uống. (8) Thăng ma, bạch thược và cam thảo mỗi thứ 3g, cát căn 4,5g, sắc với 1 bát nước cô còn 6 phần thì uống. (9) Cát cánh, cam thảo sao và phòng phong mỗi thứ 9g, sắc uống nóng. (10) Ngưu tử 30g sao, hoa kinh giới Và cam thảo sao mỗi thứ 7,5g, sắc với một cốc nước to cô còn 6 phần, tùy theo tuổi của trẻ mà cho uống liều lượng nhiều ít khác nhau, nhưng mỗi lần không quá 9ml. (11) Củ cải đỏ 120g, phong tiêu 90g, rau mùi và mã thầy mỗi thứ 60g, sắc uống…

   * Dùng ngoài : (1) Rễ hải kim sa 30g, dã cúc hoa 10g, chi tử 3 g, sắc uống. (2) Sài hồ 10g, hoàng cầm 12g, xích thược 16g, hoàng bá 15g, cam thảo 6g, sắc rửa tổn thương hàng ngày. (3) Khổ sâm 20g, bèo cái 20g, đại thanh diệp 20g, quán chúng 20g, tất cả cho vào túi vải, sắc trong 10 phút với 2000 ml nước, sau đó bỏ bã, ngâm rửa vết thương mỗi ngày 2 lần. (4) Thanh đại 60g, thạch cao 120g, hoạt thạch 120, hoàng bá 60g, tất cả sấy khô tán mịn, dùng để rắc xoa hoặc trộn với dầu vừng bôi vào các vết loét do mụn nước vỡ. (5) Xích thạch chi, lô cam thạch, thạch cao và hàn thuỷ thạch đã chế, lượng bằng nhau, tán thật mịn, xoa vào tổn thương, thường dùng cho trường hợp mụn nước đã hóa mủ. (6) Hoạt thạch 10g, thạch cao 10g, cam thảo 10g, tất cả tán mịn, hoà với dầu vừng, bôi vào vết loét mỗi ngày 1 lần. (7) Lá và cành hoa lựu trắng lượng vừa đủ, sắc lấy nước ngâm rửa tổn thương. (8) Kim ngân hoa 10g, liên kiều 10g, lục nhất tán 10g, xa tiền tử 10g, tử hoa địa đinh 15g, hoàng hoa địa đinh 15g, sắc lấy nước ngâm rửa hàng ngày. (9) Vỏ cây hạch đào, hành củ, và cỏ bấc đèn lượng vừa đủ, rửa sạch, giã nát, đắp lên ngực, rốn, bụng và lòng bàn tay bàn chân trong 1 giờ, nốt thủy đậu sẽ mọc đều. (10) Giun cổ trắng 7 con sấy khô, qua lâu nhân 30 hạt, hạnh nhân 15 hạt, tất cả đem nghiền thành bột, dùng trà mạn trộn đều đắp vào rốn trong 1 giờ, sau đó lại thay thuốc. (11) Rễ cây phù dung và cỏ roi ngựa lương bằng nhau vừa đủ, giã nát, sao nóng, chườm dọc cột sống…

                                                                                  Hoàng Khánh Toàn

Thứ Năm, ngày 13 tháng 3 năm 2014

Bột sắn dây


 

     Hỏi : Tôi là một độc giả trung thành của Báo suốt nhiều năm qua. Tôi rất thích tờ báo của mình vì nó mang đến cho tôi rất nhiều điều bổ ích trong cuộc sống. Hôm nay tôi có 1 câu hỏi muốn nhờ các chuyên gia tư vấn như sau: Nhân dân miền Bắc thường ca ngợi uống bột sắn dây rất mát nhất là mùa nắng (loại sắn dây leo, nghiền củ lọc lấy bột). Vậy xin hỏi tác dụng của bột sắn và cách sử dụng nên uống pha sống, nấu chín hay nửa sống nửa chín và liệu lượng dùng hàng ngày là bao nhiêu? Dùng quá liều lượng đó có hại như thế nào? Rất mong Quý tòa soạn xem xét giải đáp.

                                                                                Độc giả: Phạm Thị Chung

                                                                                   Biên Hòa - Đồng Nai

     Đáp : Theo dược học cổ truyền, sắn dây vị ngọt, tính mát, có công dụng giải cơ thoái nhiệt, phát biểu thấu chẩn, sinh tân chỉ khát, thăng dương chỉ tả, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như sốt do ngoại cảm, đau cổ gáy, đau đầu, sởi, sốt cao khát nước, đái tháo đường, tiêu chảy, kiết lỵ, huyết áp cao, thiếu máu cơ tim, chảy máu cam, nôn ra máu, trĩ xuất huyết, tai ù tai điếc...

     Nghiên cứu hiện đại cho thấy, sắn dây có tác dụng dược lý khá phong phú như hạ nhiệt, cải thiện lưu lượng tuần hoàn não và động mạch vành tim, làm giảm đường huyết, điều hòa rối loạn lipid máu, hạ huyết áp, chống loạn nhịp tim, giải độc, bảo hộ tế bào gan, chống lão hóa và ung thư, dự phòng tích cực tình trạng nhiễm virut đường hô hấp, nâng cao năng lực chịu đựng của cơ thể trong tình trạng thiếu ôxy...

     Sắn dây có thể dùng theo cách uống sống hoặc nấu chín, tuy nhiên sắn dây sống có công dụng hạ nhiệt tốt hơn sắn dây chín. Có nhiều cách chế biến nước sắn dây giải khát, có thể kể ra vài phương thức chính sau đây :

- Củ sắn dây thái phiến, phơi hoặc sấy khô, đựng trong lọ kín để dùng dần, mỗi ngày lấy 20 - 30g hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Khi uống, có thể pha thêm một chút đường phèn. Cũng có thể cho vào nồi sắc lấy nước uống.

- Bột sắn dây 3 thìa cà phê, đường trắng vừa đủ, hai thứ đem hòa với nước sôi để nguội trong cốc, chế thêm một chút nước cốt chanh hoặc quất (cũng có thể cho quất hoặc chanh thái lát), quấy đều rồi uống. Tùy theo sở thích có thể đem ướp lạnh hoặc cho thêm vài viên nước đá.

- Củ sắn dây thái phiến và câu đằng lượng bằng nhau, hai thứ đem tán vụn, phơi hoặc sấy khô, trôn đều rồi đựng trong lọ kín để dùng dần. Mỗi ngày lấy 30g đựng trong túi vải buộc kín miệng rồi đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Đây là loại nước giải khát rất tốt cho những người bị cao huyết áp, đau đầu, nhiệt miệng, cổ vai đau nhức.

- Củ sắn dây 200g, đan sâm 180g, bạch linh 90g, cam thảo 60g. Tất cả sấy khô tán vụn, đựng trong lọ kín để dùng dần. Mỗi ngày lấy 40g hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Đây là thứ nước giải khát cực tốt cho những người mắc các bệnh tim mạch. Tuy nhiên, phụ nữ có thai không được dùng.

Ở ta hiện nay có hai loại sắn dây : sắn dây ta và sắn dây tầu (có nguồn gốc từ Trung Quốc). Sắn dây tầu cho lượng bột nhiều hơn nhưng chất lượng giải nhiệt và mùi thơm không bằng sắn ta. Hơn nữa, vì lợi nhuận, gian thương thường hay trộn bột sắn thường với bột sắn dây để kiếm lời. Bởi vậy, khi mua người tiêu dùng cần thận trọng, tốt nhất là nên tự mình mua củ sắn dây tươi về tự chế biến hoặc thuê các cơ sở có uy tín và đảm bảo vệ sinh. Dân gian thường ướp bột sắn dây với hoa bưởi hoặc hoa nhài để làm tăng thêm sức hấp dẫn của loại nước giải khát độc đáo này. Theo nghiên cứu hiện đại, sắn dây có độc tính rất thấp, không có tác dụng gây đột biến, bởi vậy nếu dùng quá liều lượng nêu trên cũng không có tác dụng bất lợi nào.

                                                                                  Hoàng Khánh Toàn

 

 

Công dụng trà xanh


     Hỏi : Nước trà xanh có tác dụng với sức khỏe như thế nào ? Khi uống với thuốc kháng sinh, thực phẩm chức năng, sữa cần khoảng cách thời gian ra sao ?

     Đáp : Về công dụng của trà, từ xưa đến nay, các thầy thuốc y học cổ truyền đã bàn luận hết sức sôi nổi và đã phát hiện, khẳng định trên nhiều bình diện khác nhau. Theo đông y, trà vị đắng, chát, hơi ngọt, vào hai đường kinh Can và Thận, có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, tiêu cơm, lợi tiểu,làm cho đầu não được thư thái, da thịt mát mẻ, khỏi chóng mặt, xây xẩm, bớt mụn nhọt, cầm tả lỵ…

     Kể từ thập niên 80 của thế kỷ 20 đến nay, trà cũng đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu sâu rộng của các nhà y học hiện đại. Cho đến nay, người ta thống nhất nhận thấy trà có các tác dụng như giải nhiệt chống khát, lợi niệu giải độc, kích thích tiêu hoá, làm giảm mỡ máu, tăng tiêu hoa năng lượng, kể cả năng lượng rút ra từ lớp mỡ dư ở người, giúp phòng chống hữu hiệu tình trạng béo phì, tăng hưng phấn và cải thiện trí nhớ, tăng cường chức năng miễn dịch, chống viêm loét đường tiêu hoá, chống dị ứng, kháng khuẩn tiêu viêm, chống ngưng kết tiểu cầu và sự hình thành huyết khối, chống ôxy hoá và tiêu trừ các gốc tự do, chống phóng xạ, chống mệt mỏi và làm chậm quá trình lão hoá, làm giảm đường máu góp phần phòng chống bệnh tiểu đường, dự phòng thiếu máu và ngăn ngừa giảm bạch cầu do chiếu xạ, dự phòng các bệnh lý mạch máu não và đặc biệt còn có tác dụng chống ung thư.

     Ngoài ra, trà còn có công năng sáp tràng cầm ỉa chảy, dự phòng sự hình thành sỏi tiết niệu và sỏi đương mật, phòng chống bệnh gút và cường giáp trạng, phòng chống tình trạng thiếu sinh tố, đặc biệt là vitamin C, tăng cường sức đề kháng, làm vững bền thành mạch...

     Nước trà có thể làm mất hoặc giảm tác dụng của các hoạt chất của thuốc, cho nên không chỉ với kháng sinh, thực phẩm chức năng mà với các loại thuốc khác cần uống cách xa khi uống nước trà ít nhất là 2 giờ. Nước trà pha thêm với sữa là đồ uống khá hấp dẫn nhưng đây là sự kết hợp không hoàn hảo và bất lợi vì sữa sẽ làm giảm tác dụng của trà trong việc ngăn ngừa bệnh lý tim mạch và ngược lại trà làm cho sữa trở nên khó tiêu và giảm giá trị dinh dưỡng.

   Ngoài ra cũng cần lưu ý : Không uống trà khi bị đói. Trà thường được pha với nước nóng nhưng không phải là cực nóng. Nhiệt độ nước thích hợp để pha trà là 56 độ C.  Không nên pha trà với nước lạnh. Không uống nước trà đã pha lâu. Không uống trà đã pha đi pha lại nhiều lần. Tránh uống trà trước và sau bữa ăn. .   Tránh uống nước chè trước khi đi ngủ. Không nên uống nước chè quá đặc thường xuyên. Với những người mắc các bệnh loét dạ dày, cao huyết áp, táo bón... trà không phải một sự lựa chọn phù hợp.

                                                                          Hoàng Khánh Toàn

Lá hen chữa hen phế quản


DÙNG LÁ BÀNG BIỂN CHỮA HEN PHẾ QUẢN

     Bàng biển, còn gọi là bông bông, bòng bòng, cây lá hen, nam tỳ bà…, có tên khoa học là Calotropis gigantea (Willd.), là một loại cây mọc hoang và được trồng nhiều nơi ở nước ta để làm hàng rào và lấy lá làm thuốc. Lá hái quanh năm, dùng vải sạch lau hết lông, đem phơi hoặc sấy khô rồi tùy bệnh mà chọn cách dùng cho phù hợp.

     Theo dược học cổ truyền, bàng biển vị đắng, hơi chát, tính mát, có công dụng tiêu độc, trừ đàm, giáng ngịch, trừ ho, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như hen phế quả, ho kéo dài, mụn nhọt, rắn cắn, hủi, giang mai, kiết lỵ, tiêu chảy, thấp khớp, các bệnh về da và trị giun. Để chữa hen, người ta hái lá đem về, lấy khăn ướt lau sạch lông, thái nhỏ, sao qua cho héo. Mỗi ngày dùng 10 lá sắc với 1 bát rưỡi nước, cô còn 1 bát, sau đó chế thêm đường trắng, chia uống 3-4 lần trong ngày. Nước thuốc hơi đắng và tanh, uống nhiều một lúc có thể gây nôn. Nên uống xa bữa ăn hoặc sau khi ăn. Có thể thấy xuất hiện cảm giác mỏi chân tay, mình mẩy, đi lỏng nhưng rất hiếm. Kết quả thấy rõ sau 2-3 ngày, có khi sau 7-8 ngày, có trường hợp kết quả xuất hiện ngay sau 10 phút.

     Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, trong nhựa mủ các bộ phận của bàng biển có chứa 2 resinol đồng phân  là α-calotropenol và β-calotropenol chủ yếu ở dạng ester của β-amyrin và acid acetic, acid isovaleric. Nhựa mủ còn chứa glucation và một enzym tương tự papain. Phần trên mặt đất chứa isorhamnetin-3-O-rutinosid, isorhamnetin-3-O-glucopyranoside, ngoài ra còn có taraxasteryl acetat. Rễ có chứa calotroposid A và calotroposid B. Ngoài ra, vỏ rễ còn có giganticin là chất có tác dụng ức chế dinh dưỡng. Cao lá bàng biển có tác dụng dược lý sau đây :

- Có tác dụng điển hình của một glucosid trợ tim trên tim ếch và thỏ cô lập, có tác dụng làm tăng sức co bóp cơ tim, tăng trương lực cơ tim.

- Trên hệ mạch tai thỏ và chân ếch cô lập, nồng độ cao có tác dụng gây giãn mạch, nồng độ thấp có tác dụng co mạch. Thuốc có tác dụng gây tăng huyết áp trên mèo và thỏ. Với liều độc, huyết áp dần xuống rất thấp.

- Có tác dụng kích thích mạnh đối với da và niêm mạc

- Có tác dụng chống ung thư đối với ung thư dạng biểu bì mũi hầu của người trong nuôi cấy mô.

Mặc dù trong dân gian, bàng biển vẫn được dùng để phòng chống bệnh hen phế quản nhưng rất tiếc cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu dược lý hiện đại nào về tác dụng của thảo dược này trên hệ thống đường hô hấp, đặc biệt là phế quản và cũng chưa có nghiên cứu lâm sàng cụ thể nào. Đây là một vấn đề rất cần sự lưu tâm của các nhà y dược học để chứng minh, thừa kế và ứng dụng khả năng quý báu của bàng biển trong công cuộc phòng chống căn bệnh nan giải này.

                                                                                    Hoàng Khánh Toàn

Rau hẹ mùa xuân


MÙA XUÂN NÊN ĂN RAU HẸ

Ca dao có câu: “Gió đông lạnh buốt tái tê, thanh hao lá hẹ tràn trề cỗ xuân”, trong thời tiết nắng ấm có pha chút lành lạnh đầu xuân, rau hẹ phát triển tươi tốt trong vườn. Thứ rau này là thực phẩm của cả bốn mùa, nhưng ăn vào mùa xuân là tốt nhất. Tục ngữ đã nói: Ăn hẹ xuân thì thơm, ăn hẹ hè thì thối”. Mùa xuân thời tiết nóng lạnh bất thường cơ thể cần phải bảo dưỡng dương khí, mà rau hẹ lại có tính ôn nên rất thích hợp trong việc ôn bổ dương khí, bởi vậy hẹ còn được gọi là “rau khởi dương”. Rau hẹ khá giàu chất dinh dưỡng bao gồm đường, đạm, mỡ, caroten, vitamin B, C, chất xơ, canxi, photpho, sắt…, đặc biệt còn chứa nhiều hoạt chất có tính kháng khuẩn, tiêu viêm. Rau hẹ mềm mại, có mùi thơm đặc biệt, vị lại hơi cay nên rất dễ ăn, được dùng làm gia vị đồng thời làm rau ăn. Từ xa xưa, trong thành phần nhân bánh bao, vằn thắn, sủi cảo…không thể thiếu rau hẹ.

Theo y học cổ truyền, rau hẹ vị ngọt cay, tính ấm, có công dụng ôn trung bổ hư, điều hoà phủ tạng, bổ thận ích dương. Với chứng dương hư thận yếu, liệt dương, di mộng tinh, lưng đau gối mỏi có thể lấy 250g lá hẹ, 60g nhân hồ đào, dùng dầu vừng xào chín, ăn trong ngày, dùng liên tục trong một tháng sẽ có công hiệu rất tốt. Với chứng tỳ vị hư hàn gây đi lỏng có thể lấy 100g gạo nấu thành cháo loãng rồi cho 60g lá hẹ tươi rửa sạch thái nhỏ vào quấy đều, ăn nóng mỗi ngày một thang, dùng 6 thang liên tục có thể đạt được mục đích kiện tỳ chỉ tả. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, rau hẹ có nhiều chất xơ nên có tác dụng kích thích tiêu hóa, thúc đẩy nhu động ruột, phòng chống bệnh táo bón và sâu răng. Chất xơ trong loại rau này còn có khả năng cân bằng các nhóm vi khuẩn đường ruột, giảm thiểu tác động của các chất gây ung thư niêm mạc ruột, dự phòng tích cực bệnh ung thư đại tràng. Ngoài ra, rau hẹ còn có tác dụng hỗ trợ trị liệu cao huyết áp và các bệnh cơ tim. Tuy nhiên, rau hẹ khó tiêu nên mỗi lần không ăn quá nhiều. Ngoài ra, những người có thể chất âm hư nội nhiệt, hay bị mụn nhọt và mắc các bệnh về mắt thì nên kiêng ăn rau hẹ. Người xưa khuyên không dùng loại rau này ăn cùng với mật ong và  thịt bò.

                                                             Hoàng Khánh Toàn