Thứ Năm, ngày 11 tháng 8 năm 2016

VÀNG CHỮA BỆNH

Kính gửi bác sĩ Hoàng Khánh Toàn.
     Tôi là một độc giả thường xuyên của báo Sài gòn tiếp thị. Đọc nhiều bài viết của bác sĩ về đông y và y học cổ truyền trên trang sức khỏe tôi và mấy người bạn thấy rất thích. Bác sĩ có cách giải thích thắc mắc đơn giản, dễ hiểu và vô cùng tiện dụng. Hôm nay tôi có một chuyện kính nhờ bác sĩ dành thời gian giải đáp dùm. Mới đây tôi có được một người bạn cho mượn một tài liệu đông y của người Tàu, trong đó có đề cập đến cách chữa bệnh bằng dùng vàng để chữa trị chứng bệnh đau thần kinh, tiêu diệt tế bào ung thư, trị bệnh phong cùi và hạn chế sự phát triển của các loại vi khuẩn. Tài liệu này có kể lại trường hợp nghệ sĩ cải lương Mỹ Châu cũng từng uống vàng để trị bệnh phong cùi. Cách đây ít lâu tôi nhớ có đọc một bài báo nói ở Hà Nội cũng có nhà hàng nào đó bán thức ăn có rải bột vàng 18k lên trên bề mặt để làm món ăn bài thuốc. Xin được hỏi bác sĩ những thông tin này có khoa học không?. Kính mong bác sĩ giải đáp sớm những thắc mắc của tôi. Kính chúc bác sĩ dồi dào sức khỏe.
                           Lê Văn Bảy (22/25, đường C1, cộng Hòa, phường 13, Tân Bình.
                                                         Điện thoại: 08.38275623)

Trả lời :
     Từ xa xưa, ở phương Đông cũng như phương Tây, đặc biệt là Ấn Độ, Ai Cập, Trung Quốc, ngoài chức năng làm đồ trang sức và có giá trị thay thế đồng tiền trong mua bán trao đổi hàng hoá, vàng còn được dùng để làm thuốc chữa bệnh. Theo dược học cổ truyền phương Đông, vàng vị cay đắng, tính bình, có công dụng trấn tâm, an thần và giải độc. Trong dược thư cổ Bản thảo cương mục, nhà bác học Lý Thời Trân (Trung quốc) gọi vàng là “thái nhân”, “hoàng nha” và viết rằng : “vàng ròng được luyện thành các vảy mỏng dùng làm thuốc trị các bệnh thần kinh và hạn chế sự phát triển của các loại vi khuẩn”. Sách Nam dược thần hiệu của danh y Tuệ Tĩnh cũng viết : “Tinh kim - vàng ròng vị cay, tính bình, hơi độc, hoà huyết, trấn tâm, an ngũ tạng, trừ bệnh cốt nhiệt và bệnh phong. Vàng sống có độc, vàng đã tôi luyện không độc”. Trong Lĩnh Nam bản thảo, Hải Thượng Lãn Ông ghi nhận :
“Tinh kim tục gọi ấy vàng ròng.
Vị cay, khí bình, ít độc xung.
Hoà huyết, trấn tâm, yên năm tạng.
Trừ mọi nóng xương và chữa phong”
     Ở Trung Quốc, người ta dùng vàng tự nhiên để trị kinh giản, điên cuồng, tim đập mạnh và loạn nhịp, lở độc, giải trúng độc các loại đá quý. Dùng uống trong làm hoàn, tán ; dùng ngoài, tán bột bôi. Theo kinh nghiệm của người xưa, bụi vàng có khả năng rút mủ lên da thịt non, khi đem nung đỏ và tôi vào nước, người ta được một thứ dịch có tác dụng chữa chứng co giật ở trẻ em. Một số thuốc quý của đông y được bọc bằng một lớp vỏ rất mỏng bằng vàng ròng, khi dùng người bệnh có thể nuốt cả vỏ. Xưa kia, trong thuật châm cứu, người ta còn dùng kim được chế bằng vàng hoặc bằng bạc để chữa bệnh, kim vàng có tác dụng “bổ”, kim bạc có tác dụng “tả”.
     Ngày nay, theo dinh dưỡng học hiện đại, cũng như Fe, Cu, Mg, Zn, Si…, vàng  là một nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể con người và được nghiên cứu sử dụng để làm thuốc chữa bệnh. Nhà bác học Rober Koch (người phát hiện ra vi khuẩn lao) đã từng dùng vàng cyanua để chữa bệnh lao phổi. Từ lâu, muối vàng đã được dùng để trị các bệnh đau xương khớp, viêm đa khớp dạng thấp. Một giáo sư thuộc trường đại học Thần Hộ (Nhật Bản) đã dùng lade hơi vàng để chữa bệnh ung thư thực quản mang lại kết quả rất khả quan. Cách thức cụ thể là : trước tiên, dùng một loại thuốc có tên gọi là “hemataporphyrin” tiêm vào tĩnh mạch người bệnh, sau khi vào cơ thể, thuốc sẽ tụ lại xung quanh tổ chức ung thư và hấp thu có hiệu quả đối với lade hơi vàng ; sau đó dùng một ống nhỏ để chiếu tia lade vàng vào vùng tổn thương. Với tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư và khống chế tích cực quá trình di căn, phương pháp này có thể giúp cho người bệnh tránh được những cuộc phẫu thuật có ảnh hưởng không tốt cho sức khoẻ. Các nhà nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu khoa học Quốc gia Pháp (CNRS) cũng đã nghiên cứu tìm cách tiêu diệt các tế bào ung thư bằng phương pháp ghép những phân tử huỷ diệt trên những hạt nano vàng để chúng hoạt động tương tự như tên lửa. Còn các nhà nghiên cứu Mỹ thì lại tiến hành thử nghiệm trên chuột bằng cách kết hợp các hạt nano vàng với tia X để tăng cường hiệu quả tiêu diệt các tế bào ung thư.
     Theo kết quả phân tích của Cục thực phẩm Munich (Đức), vàng sau khi được đưa vào cơ thể sẽ có tác dụng hấp thụ các chất độc hại và thải chúng ra ngoài cơ thể. Bởi vậy, nguyên tố vi lượng quý hiếm này đóng vai trò là trợ thủ đắc lực giúp cho cơ thể con người thanh trừ các “rác rưởi”, phục hồi sự “trong lành” và dự phòng tích cực bệnh tật. Hơn nữa, với tính chất kéo dài đặc biệt tốt, trong phẫu thuật, các nhà y học còn sử dụng sợi vàng để khâu các mảnh xương bị vỡ mà không gây đau đớn hoặc các tác dụng không mong muốn nào khác. Người ta còn dùng những tấm vàng dát thật mỏng để chữa viêm loét dạ dày hoặc xử lý các vết bỏng một cách an toàn và hiệu quả.
     Trong những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh : những người ăn vàng có thể giúp cho cơ thể hoạt bát, cường tráng, giữ được nhan sắc và kéo dài tuổi thọ. Các nhà khoa học Nhật Bản đã dùng kỹ thuật hiện đại để tinh luyện vàng đến độ tinh khiết cao tạo ra những tấm vàng mỏng gần như trong suốt để cho vào thức ăn hoặc rượu uống. Người ta ước tính, sau khi đưa vào cơ thể chừng chưa đầy 10 phút vàng đã được hấp thụ và tiêu hoá hết. Bởi vậy, ngày nay thực phẩm vàng đã trở thành món ăn ở Nhật Bản như món nộm vàng cơm và đã được phổ biến sử dụng ở nhiều nước trên thế giới.
     Như vậy, có thể thấy, những thông tin mà bạn đọc có được về công dụng chữa bệnh của vàng là hoàn toàn có cơ sở khoa học. Tuy nhiên, hiện nay vì thứ kim loại này quá đắt đỏ và vả lại các thứ thuốc có tác dụng thay thế rất phong phú nên vàng không còn được dùng làm thuốc nhiều như trước đây nữa.

                                                                                      Hoàng Khánh Toàn


VIAGRA

VIAGRA VỚI NGƯỜI BỊ CAO HUYẾT ÁP

 

     Trong gần 20 năm qua, một trong những dược phẩm được nhắc nhở tới khá nhiều và cũng được nhiều người sử dụng là thuốc chữa bệnh rối loạn cương dương Viagra. Viagra được đưa vào thị trường vào năm 1998 và đã mang lại niềm vui cho không ít nam giới chẳng may rơi vào tình trạng “trên bảo dưới không nghe” trong đời sống tình dục. Tuy nhiên, có khá nhiều vấn đề được bàn luận về xung quanh loại thuốc này, trong đó có việc người bị bệnh cao huyết áp có được dùng Viagra hay không ?
1. Viagra là gì ?      
     Viagra là tên hiệu của thuốc Sildenafil dùng để giúp chứng rối loạn cương dương  nam giới, do công ty Pfizer Inc. sản xuất. Sự khám phá ra tác dụng của Viagra là do một sự tình cờ. Đó là vào năm 1992 khi các nhà khoa học của viện bào chế Pfizer thử nghiệm thuốc sildenafil citrate để chữa bệnh nhân bị thiếu máu cơ tim ở một số người tình nguyện. Sau thời gian thử nghiệm, những tình nguyện viên từ chối hoàn trả số thuốc không dùng tới, vì lý do “thuốc giúp công cụ “hành sự” của họ cứng hơn và kéo dài lâu hơn thường lệ”. Không bỏ lỡ cơ hội, Pfizer bèn để tâm nghiên cứu thêm và thấy quả tình là hoạt chất sildenafil có tác làm cương cứng dương vật. Họ đã khảo sát trên những người bị rối loạn cương dương và thấy rằng nó có hiệu quả cải thiện đáng kinh ngạc. Từ đó, công ty đã đặt tên riêng cho sildenafil là Viagra, một virility drug, viên thuốc cường dương, nam tính. Và vào ngày 27 tháng 3 năm 1998, Viagra là dược phẩm đầu tiên được cơ quan Thực Dược Phẩm Hoa Kỳ cho phép sử dụng để điều trị rối loạn cương dương.
2. Cơ chế tác dụng của Viagra ra sao?
     Nitric Oxid được mô bào cơ thể liên tục sản xuất ở mức độ nhiều ít khác nhau. Khi có kích thích hoặc ham muốn tình dục, chất Nitric Oxide được sản xuất ở mô xốp cơ quan sinh dục nam. Qua một chuỗi phản ứng hóa học, chất Cyclic guanosine triphosphate (cGMP) thành hình. Chất này sẽ làm cho cơ trơn động mạch dương vật giãn ra, máu tràn vào làm dương vật trở nên to và cứng. Nhưng cGMP không tồn tại lâu. Nếu cGMP sớm bị hủy hoại hoặc lượng quá ít thì máu thoát ra khỏi dương cụ rất nhanh và cơ quan này sẽ trở lại tình trạng mềm xỉu. Viagra có tác dụng ngăn chặn sự hủy hoại cGMP, khiến cho mạch máu tiếp tục giãn ra và  dương vật được cương cứng kéo dài. Vì vậy, Viagra chỉ có tác dụng đối với nam giới còn ham muốn tình dục hoặc khi còn khả năng đáp ứng với kích thích gợi tình.
3. Người bị cao huyết áp có cần dùng Viagra không ?
     Cao huyết áp là một trong những bệnh rất dễ gây rối loạn cương dương và được xem như “đôi bạn” luôn cặp kè bên nhau với hai lý do : Thứ nhất, rối loạn cương dương xảy ra khi các mạch máu lưu thông tới thể hang của dương vật bị giảm, có thể do hẹp hay tắc nghẽn, cơ thể mất cân bằng nội tiết tố hoặc khi hoạt động của các dây thần kinh kích thích sự cương cứng bị rối loạn. Cao huyết áp là một bệnh gây tổn thương các thành mạch máu, dẫn đến xơ vữa động mạch, hạn chế máu lưu thông. Khi lượng máu đến “súng ống” suy giảm, quý ông sẽ gặp khó khăn trong việc “lên nòng”, không đạt được sự cương cứng đủ hoặc khó duy trì sự cương cứng đủ lâu để đạt được sự thỏa mãn trong sinh hoạt tình dục. Theo nghiên cứu thống kê, rối loạn cương dương có thể xuất hiện ở nam giới mọi lứa tuổi nhưng nhiều nhất là từ 45 tuổi trở lên. Ước tính có khoảng 30% nam bệnh nhân cao huyết áp mắc thêm chứng rối loạn cương dương.
     Thứ hai, việc dùng thuốc để kiểm soát huyết áp, đưa huyết áp về mức bình thường hoặc gần bình thường lại có thể gây rối loạn cương, đặc biệt là khi dùng lâu dài, liều cao và sử dụng các thuốc có tác dụng phụ trực tiếp gây trục trặc cho việc cương cứng dương vật, đặc biệt là nhóm thuốc lợi tiểu (hydrochlorothiazide), thuốc ức chế beta (propanolol, atenolon....). Trên thực tế, sau một thời gian dùng thuốc không ít quý ông  than phiền rằng “phong độ súng ống” của mình giảm đi rõ rệt. Bởi vậy, việc tìm hiểu và sử dụng Viagra cho bệnh nhân cao huyết áp là rất cần thiết không chỉ nhằm mục đích trị bệnh mà còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
4. Dùng viagra cho người cao huyết áp như thế nào ?
     Tuy nhiên cho đến nay vấn đề người bị bệnh cao huyết áp có nên dùng Viagra hay không vẫn chưa đạt được sự thống nhất. Phần đông cho rằng vẫn có thể sử dụng được vì  trên thực tế không ít người bị cao huyết áp đã được chỉ định dùng Viagra một cách thận trọng đã đem lại hiệu quả tốt, không ảnh hưởng đến huyết áp, giúp cương dương tốt và đặc biệt đem lại một lợi ích không nhỏ cho đời sống tinh thần. Hơn nữa, có không ít trường hợp người ta nhận thấy Viagra có tác dụng giúp làm giảm nhẹ huyết áp, bởi vậy có ý kiến cho rằng loại thuốc này thực chất chỉ phản chỉ định cho những người bị huyết áp thấp, còn với huyết áp cao vẫn có thể sử dụng dưới sự chỉ dẫn và theo dõi sát sao của thầy thuốc. Kết quả một nghiên cứu mới của các nhà nghiên cứu ở ĐH Gainesville, Florida, Mỹ đăng trên tạp chí Hypertension (Mỹ) cho biết Viagra, "tiên dược" của chứng rối loạn cương dương không những không ảnh hưởng đến huyết áp mà ngược lại còn giúp tim bơm máu dễ dàng hơn...Nhóm nghiên cứu ở ĐH Gainesville, Florida, Mỹ xem xét hiệu quả của Viagra trên mạch máu ở 15 bệnh nhân bị huyết áp cao. Họ kiểm tra mạch máu trung bình trước và sau khi bệnh nhân uống 50 mg thuốc - một lượng thuốc cần cho trạng thái rối loạn cương dương. Kết quả là huyết áp ở những người này không tăng hoặc giảm. Thêm vào đó, loại thuốc này có tác dụng giúp cho tim vận hành dễ hơn trong việc bơm máu.
     Nhưng, theo các chuyên gia khi dùng loại thuốc này cho người bị cao huyết áp  phải chú ý một số vấn đề như : (1) Nhất thiết phải có được chỉ định và  hướng dẫn của thầy thuốc có chuyên khoa, tuyệt đối không tự ý mua, dùng, thay thế chủng loại hoặc nâng liều lượng. Thuốc chữa rối loạn cương dương là những thuốc kê toa, nghĩa là phải do bác sĩ chỉ định, bệnh nhân không nên dùng thuốc theo kiểu “truyền tai nhau”. Những thuốc chữa rối loạn cương dương như Viagra, Cialis hay Levitra chỉ nên sử dụng khi bệnh nhân đã được kiểm soát huyết áp tốt. Những thuốc này không an toàn khi bệnh nhân đang dùng thuốc chẹn alpha hay các thuốc nitrate trong điều trị bệnh tim. (2) Không được dùng Viagra khi đang dùng thuốc chứa Nitrat. Viagra gây nên những phản ứng với loại thuốc có chứa thành phần Nitrat, loại thuốc mà những người mắc bệnh tim mạch thường sử dụng. Việc sử dụng Viagra trong thời điểm dùng thuốc Nitrat như thuốc nitroglycerin, isosorbide dinitrate và isosorbide mononitrate có thể chính là nguyên nhân gây nên cảm giác mệt mỏi hoặc những rắc rối với tim mạch. (3) Không dùng viagra cho những đối tượng cao huyết áp đã từng bị tai biến nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ, đã có rối loạn nhịp tim trong vòng 6 tháng trước, đau tức ngực không thường xuyên, viêm võng mạc sắc tố (một bệnh thoái hoá mang tính di truyền, có thể gây mù lòa), dị ứng với hoạt chất sildenafil của Viagra, có kèm theo suy gan, suy thận trầm trọng. (4) Cần hết sức chú ý liều lượng khi dùng cho người bị cao huyết áp, tốt nhất là dùng liều ban đầu thật thấp, sau đó điều chỉnh dần tùy theo mức độ đáp ứng và các phản ứng bất lợi.
     Tóm lại, Viagra từ khi ra đời đã trở thành một loại “thần dược” cứu cánh cho những người đàn ông không may bị rối loạn cương dương, trong đó có những người mà nguyên nhân là do cao huyết áp và chịu tác dụng bất lợi của thuốc chữa trị cao huyết áp, trong đời sống tình dục, một hoạt động không thể thiếu đối với chất lượng cuộc sống của con người. Sẽ còn nhiều vấn cần tiếp tục bàn luận và nghiên cứu, nhưng trước mắt có thể nói Viagra không phản chỉ định đối với những bệnh nhân bị cao huyết áp kèm theo rối loạn cương dương. Vấn đề là ở chỗ, dù muốn hay không những “đấng mày râu” cao huyết áp không may bị rối loạn cương dương hãy hết sức tỉnh táo và thông thái khi sử dụng “thần dược” này, nghĩa là đừng e ngại khi tìm đến những thầy thuốc có chuyên khoa để được xem xét, chỉ định và hướng dẫn sử dụng một cách chi tiết và khoa học. Đừng liều lĩnh dùng Viagra để tránh khỏi những tai biến khôn lường !
                                                                                         Hoàng Khánh Toàn





Thứ Năm, ngày 21 tháng 7 năm 2016

VỀ CÂY LƯỢC VÀNG

VÀI ĐIỀU VỀ CÂY LƯỢC VÀNG


     Vốn có nguồn gốc từ Mexico được di thực sang Nga rồi về đến Việt Nam vào những năm 90 của thập kỷ trước. Lúc đầu, lược vàng được trồng để làm cảnh, sau đó dựa theo những kinh nghiệm và tài liệu của Nga mà được sử dụng để làm thuốc. Đầu tiên là ở Thanh Hóa rồi lan rộng ra các tỉnh thành trong toàn quốc và bùng phát thành cơn sốt “Lược vàng” bắt đầu từ năm 2007.
     Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về tác dụng chữa bệnh của cây lược vàng, thậm chí là trái chiều nhau, nhưng chủ yếu có ba quan điểm chính : Một là, coi lược vàng như một thứ thần dược có thể chữa được “bách bệnh” kể cả những bệnh nan y như ung thư, điều này khiến cho người ta đổ xô đi tìm mua, trồng hái, buôn bán, sử dụng loại dược liệu này giống như đã từng xảy ra đối với cây con khỉ (hoàn ngọc, xuân hoa…) hay nấm cổ linh chi ; Hai là, không tin vào khả năng chữa bệnh có tính chất “đồn thổi” của lược vàng, thậm chí đi đến phủ định hoàn toàn ; Ba là, xem xét và sử dụng loại dược liệu này một cách thận trọng, ghi nhận những trường hợp thành công nhưng không khẳng định một cách chắc chắn khi chưa có những chứng cứ khoa học bài bản. Vậy, nên hiểu về giá trị ngăn ngừa và chữa trị bệnh tật của cây lược vàng như thế nào cho đúng ?
     Trước hết, phải khẳng định rằng, trước khi di thực vào nước ta trong mươi năm gần đây, chúng ta chưa biết đến loài thực vật này và giá trị y học của nó. Và trên thực tế, cho đến nay lược vàng cũng chưa được ghi trong các y thư chính thống ví như sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Giáo sư, tiến sĩ Đỗ Tất Lợi, hay sách “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” của tập thể tác giả thuộc Viện Dược liệu trung ương, hay sách “Cây thuốc Việt Nam” của lương y Lê Trần Đức…Nhìn rộng ra, ngay cả sách “Trung dược đại từ điển” của Trung Quốc cũng chưa thấy ghi cây thuốc này với cái tên khoa học là “Callisia fragrans”, thuộc họ Thài lài Commelinaceae. Căn cứ để dùng lược vàng chữa bệnh ở nước ta hiện nay chủ yếu vẫn dựa vào các tài liệu và kinh nghiệm có xuất xứ từ Nga.
     Thứ hai, dựa trên các tài liệu nghiên cứu nước ngoài có thể thấy cây lược vàng chứa các chất có hoạt tính sinh học gồm flavonoid, steroid và nhiều khoáng tố vi lượng có lợi cho sức khoẻ. Chất flavonoid đóng vai trò như vitamin P có khả năng làm bền mạch máu, giảm đau, an thần, kháng viêm, hoạt huyết và tăng tác dụng của vitamin C, được dùng để chữa lành vết thương, vết bỏng, vết bầm tím. Dân gian dùng làm phương thuốc chữa bệnh loét dạ dày tá tràng, lợi tiểu, ngăn ngừa và điều trị các khối u trong cơ thể. Hai chất flavonoid được xác định là quercetin và kaempferol. Quercetin là một chất chống oxy hoá tế bào mạnh, có khả năng kháng ung thư và tăng sức bền thành mạch, còn hữu ích trong trường hợp dị ứng, chảy máu thành mạch, viêm thận, thấp khớp, bệnh tim mạch, bệnh mắt và các bệnh nhiễm trùng. Kaempferol giúp củng cố mao mạch, nâng đỡ thể trạng, tăng sự đào thải nước tiểu và khả năng kháng viêm, được dùng chữa viêm nhiễm, dị ứng và bệnh đường tiết niệu. Chất steroid trong cây chính là phytosterol. Chất này có hoạt tính estrogen, tác dụng sát khuẩn, chống xơ cứng và kháng ung thư. Cây lược vàng còn có khả năng tẩy uế không khí ô nhiễm trong phòng, phóng thích những chất có ích cho việc điều trị các bệnh lý đường hô hấp.
     Thứ ba, cho đến nay ở nước ta kinh nghiệm trồng hái và sử dụng lược vàng làm thuốc đã trở nên khá phổ biến. Số lượng các bài báo, các tư liệu viết truyền tay nói về thành công trong việc dùng lược vàng để chữa bệnh là hết sức phong phú. Tựu trung lại, dược liệu này đã được dùng để chữa các bệnh và chứng bệnh như viêm khớp, đau cứng khớp, vôi hóa đốt sống, đau mỏi toàn thân, viêm loét dạ dày tá tràng, ung thư dạ dày, xơ gan cổ chướng, u gan lành tính, bệnh nóng gan do hỏa vượng, viêm gan siêu vi A,B,C, gan nhiễm mỡ, viêm túi mật, viêm phúc mạc cấp, đầy hơi không tiêu, viêm ống dẫn mật, sỏi mật (dạng bùn), ngộ độc thức ăn, táo bón, ho do viêm phế quản lâu ngày, do viêm họng, bệnh nóng gan do hỏa vượng, u nang buồng trứng, rối lọan tiền đình, parkinson (chứng rung tay chân ở người già), tâm thần phân liệt, suy nhược thần kinh, mất ngủ, đau đầu, mộng du, ngủ mơ thấy ác mộng, kém trí nhớ (bệnh down), cảm mạo phong hàn, yếu sinh lý, xuất tinh sớm, di tinh, mộng tinh, liệt dương, hiếm muộn, dái nước, lở miệng do nóng, chống viêm loét ngoài da, bầm tím da, vẩy nến, mẩn ngứa, giời leo, chứng ra mồ hôi chân tay ở người lớn và đổ mồ hôi trộm ở trẻ em, đau răng, chảy máu chân răng, đau lưng, côn trùng cắn, đái tháo đường, làm sáng mắt, đục thủy tinh thể ở người già, sạn sỏi ở thận, sài đẹn…Tuy nhiên, đây vẫn chỉ là những kinh nghiệm chữa bệnh mang tính chất cá nhân, truyền miệng và đơn lẻ. Hầu hết nói về thành công và không có bất cứ một thông báo nào về việc thất bại trong việc dùng lược vàng chữa bệnh.
     Thứ tư, với tinh thần thực sự cầu thị, giới dược học Việt nam đã hết sức tích cực trong việc nghiên cứu về thành phần hóa học, tác dụng sinh học và độc tích của cây lược vàng trên thực nghiệm với vai trò của TS Nguyễn Minh Khởi, TS Trịnh Thị Điệp và các nhà khoa học thuộc Viện Dược liệu đã cho thấy có rất nhiều vấn đề về cây lược vàng cần được làm sáng tỏ, trong đó có những kết quả nghiên cứu thu được rất bất ngờ. Ví như, kết quả thử tác dụng chống viêm cấp trên thực nghiệm với liều dùng tương đương với 50g dược liệu tươi/kg thể trọng chuột cho thấy lược vàng không có tác dụng chống viêm, thậm chí cao chiết cồn 50% từ thân lược vàng còn tăng phản ứng viêm. Về khả năng kháng khuẩn, trong 3 chủng vi khuẩn thường gặp, cao chiết của lá và thân lược vàng có tác dụng kháng khuẩn đối với Staphylococcus aureus nhưng phải ở nồng độ rất cao so với kháng sinh tham chiếu là azithromycin. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cao chiết lá và thân lược vàng còn có độc tính cấp, gây chết chuột thí nghiệm ở liều uống cao. Rất tiếc, cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào trên lâm sàng khảo sát công dụng của lược vàng trên một bệnh lý cụ thể. Vì thế, việc dùng lược vàng theo kinh nghiệm truyền miệng vẫn cứ lưu truyền trong dân gian mà chưa biết giá trị trị liệu cụ thể và hậu quả khôn lường của nó ra sao.
     Cuối cùng, cũng như rất nhiều cây thuốc và con thuốc khác ở Việt Nam, lược vàng rất cần có những nghiên cứu sâu hơn để làm sáng tỏ nhiều vấn đề như : lược vàng trổng Việt Nam có gì khác so với lược vàng ở Mexico và Nga về các tiêu chí dược học và độc tính, trên lâm sàng giá trị chữa bệnh của lược vàng ở những mặt bệnh nào, hiệu quả đến đâu, tác dụng không mong muốn như thế nào. Và đương nhiên rất cần những đề tài nghiên cứu nghiêm túc về vấn đề này để có thể đưa ra những kết luận đầy đủ và toàn diện về cây lược vàng nhằm làm sáng tỏ xem cây này có tác dụng thực sự như dân gian truyền miệng hay không và hoạt chất thực sự của nó là gì. Trên cơ sở đó sớm cung cấp những thông tin khoa học chính xác để trả lời dư luận, giúp người dân sử dụng cây lược vàng an toàn và hiệu quả. Tiến sĩ Trịnh Thị Điệp rất có lý khi nói rằng :  “Nếu không nghiên cứu chuyên sâu về loại cây này có thể sẽ làm lãng phí một nguồn dược liệu dễ trồng nhưng cũng có thể không phát hiện ra yếu tố không có tác dụng tốt cho sức khỏe con người”.

                                                                                            Hoàng Khánh Toàn


Thứ Ba, ngày 12 tháng 7 năm 2016

Dược chẩm liệu pháp

CHỮA BỆNH BẰNG DƯỢC CHẨM LIỆU PHÁP


     Dược chẩm (gối thuốc) là phương pháp lựa chọn và sử dụng các dược vật làm ruột gối để gối đầu nhằm mục đích phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khỏe. Trong y học cổ truyền phương Đông, dược chẩm đã có một lịch sử lâu đời, lưu truyền khá rông rãi trong dân gian nhưng khởi nguồn từ khi nào cho đến nay vẫn chưa được rõ. Tuy nhiên, phương pháp chữa bệnh độc đáo này đã được nhiều danh y bàn đến và ghi lại trong các trước tác của mình. Ví như, trong sách Bản thảo cương mục, nhà dược học lỗi lạc Lý Thời Trân (đời Minh, Trung Quốc) đã ghi lại cách làm gối sáng mắt : “Vở khổ kiều, vỏ đậu xanh, vỏ đậu đen, quyết minh tử, hoa cúc làm ruột gối có tác dụng làm sáng mắt”. Danh y Lục Cẩm Toại (đời Thanh), trong sách Ngoại trị phương tuyển đã ghi lại việc dùng lá dâu và cúc hoa để làm ruột gối chữa chứng đầu phong. Sách Diên niên bí lục có ghi chép về gối Hoa cúc, sách Tuân sinh bát diễn viết về gối Từ thạch các tác dụng làm sáng mắt và an thần. Từ những năm 50 của thế kỷ trước, các nhà y học cổ truyền Trung Quốc đã tiến hành thu thập, thừa kế, ứng dụng và sáng tạo ra nhiều phương thang dược chẩm mới, tạo ra cho phương pháp trị liệu này những thành tựu và tiến bộ vượt bậc.

1. Công dụng của gối thuốc
     Theo quan niệm của y học cổ truyền, đầu gáy là nơi hội tụ của các kinh dương, có rất nhiều huyệt vị quan trọng, liên quan mật thiết đến sự tuần hoàn của khí huyết và công năng hoạt động của các tạng phủ. Các dược vật chứa trong ruột gối sẽ cọ xát, tác động trực tiếp lên da và các huyệt vị vùng đầu cổ, thẩm thấu vào trong cơ thể mà phát huy tác dụng dược lý. Tùy theo dược tính của các dược vật, mỗi loại gối có những công dụng khác nhau như sơ phong thanh nhiệt, thanh nhiệt giải độc, bình can tiềm dương, hoạt huyết thông mạch, an thần định trí, kiện não minh mục, thông lạc chỉ thống...và trên cơ sở đó được dùng để chữa các chứng bệnh như đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, mất ngủ, hay quên, cao huyết áp, suy nhược thần kinh, đau cổ gáy, viêm quanh khớp vai, viêm kết mạc, suy giảm thị lực...

2. Cách làm gối thuốc
      Để làm gối thuốc nên chọn các loại vải bông, vải sợi để làm vỏ ruột gối, không nên dùng vải pha nilon hay vải sợi hóa học nhằm đạt được yêu cầu mềm mại, thông thoáng và dễ hấp thụ chất thuốc. Tùy theo mục đích trị liệu mà lựa chọn hoa, lá, hạt, vỏ...của các dược vật cho phù hợp. Những vị thuốc hay được dùng là cúc hoa, hồng hoa, hoa cúc trắng, hoa cúc dại (dã cúc hoa), bạc hà, hạ khô thảo, bồ công anh, đạm trúc diệp, lá dâu, thảo quyết minh, mạn kinh tử, lá trà, vỏ đậu xanh, vỏ đậu đen, đương quy, xuyên khung, xích thược, mộc hương, bạch thược, đan bì, khương hoạt, xương bồ, đan sâm, tế tân, quế chi, từ thạch, phèn chua, thạch cao, thạch quyết minh, băng phiến, tằm sa, địa long...Tất cả đều được phơi hoặc sấy thật khô, tán vụn rồi cho vào vỏ ruột gối khâu kín lại để tránh ẩm mốc.
3. Một số công thức gối thuốc
* Bệnh cao huyết áp
- Cúc hoa, đạm trúc diệp, tang diệp, sinh thạch cao, bạch thược, xuyên khung, từ thạch, mạn kinh tử, mộc hương, tằm sa, bạc hà, lượng vừa đủ nhồi vào trong vỏ ruột gối, mỗi ngày gối đầu ít nhất 6 giờ, 3 tháng là 1 liệu trình. Công dụng : sơ phong thanh nhiệt, bình can tiềm dương, chủ trị cao huyết áp. Đây là phương gối thuốc do Lý Thời Trân sáng chế, được gọi là Lý Thời Trân dược chẩm.
- Thạch quyết minh, hoa cúc trắng, hồng hoa, lượng vừa đủ, sấy khô tán vụn nhồi làm ruột gối. công dụng : tiềm dương bình can, hoạt huyết an thần, giáng áp.
- Phèn chua 300g, hoa cúc trắng và hạ khô thảo mỗi thứ 500, sấy khô tán vụn nhồi làm ruột gối. Công dụng : Thanh nhiệt bình can, an thần giáng áp.
- Sinh thạch cao, từ thạch, cúc hoa, mộc hương, bạch thược, lá sương, lượng mỗi thứ vừa đủ, sấy khô tán vụn, nhồi làm ruột gối. Công dụng : thanh nhiệt bình can, dưỡng âm giáng áp. Chú ý : để đạt hiệu quả cao cần gối mỗi ngày ít nhất 7 giờ.
- Hoa cúc trắng lượng vừa đủ, sấy khô nhồi vào vỏ ruột gối. Công dụng : sơ phong thanh nhiệt, giáng áp minh mục, dùng thích hợp cho những người cao huyết áp có đau đầu nhiều.
- Lá trà lượng vừa đủ, thái nhỏ, sấy khô, nhồi làn ruột gối, dùng để phòng bệnh cao huyết áp.
* Mất ngủ
- Cúc hoa 1000g, xuyên khung 400g, đan bì 200g, bạch chỉ 200g. Tất cả sấy khô, tán nhỏ, nhồi làm ruột gối. Công dụng : sơ phong thanh nhiệt,  hoạt huyết an thần, chuyên dùng đẻ chữa chứng mất ngủ, được gọi là An miên dược chẩm.
- Quy bản, long cốt, viễn trí, xương bồ, lượng vừa đủ, sấy khô tán nhỏ, nhồi làm ruột gối. Công dụng : dưỡng âm an thần, chuyên dùng để chữa suy nhược thần kinh và chứng mất ngủ, suy giảm trí nhớ.
* Bệnh cột sống cổ
     Đương quy, khương hoạt, cảo bảo, chế xuyên ô, hắc phụ phiến, xuyên khung, xích thược, hồng hoa, địa long, huyết kiệt, xương bồ, đăng tâm, tế tân, quế chi, đan sâm, phòng phong, lai phục tử, uy linh tiên, mỗi thứ 300g, nhũ hương và một dược mỗi thứ 200g, băng phiến 20g. Trừ băng phiến, các vị thuốc đem sấy khô tán nhỏ rồi nhồi cùng băng phiến làm ruột gối, mỗi ngày gối đầu từ 6 giờ trở lên, 3 tháng là 1 liệu trình. Công dụng : hoạt huyết tán ứ, thông kinh chỉ thống, chuyên dùng để chữa bệnh lý cột sống cổ như thoái hóa, thoát vị đĩa đệm, vẹo cổ...
* Đau đầu
     Cúc hoa, bạc hà, tang diệp, vỏ đậu xanh, lượng vừa đủ, sấy khô tán vụn, nhồi làm ruột gối, gối đầu ít nhất 8 giờ mỗi ngày, 1 tháng là 1 liệu trình. Công dụng : sơ phong thanh nhiệt, chỉ thống, chuyên dùng để chữa chứng mất ngủ.
* Viêm kết mạc
     Quyết minh tử 120g, tằm sa 120g, bồ công anh 120, sấy khô tán vụn, nhồi làm ruột gối, mỗi ngày gối đầu ít nhất 8 giờ. Công dụng thanh nhiệt giải độc, chuyên dùng để chữa viêm kết mạc cấp tính.
     Ngoài ra, còn có các loại gối thuốc khác như Kháng nhược lão dược chẩm chữa hen suyễn, viêm khí phế quản, mất ngủ, đau đầu, nghiện thuốc lá ; Cảnh chùy bảo kiện dược chẩm chữa đau nhức cổ, viêm quanh khớp vai, đau đầu, mất ngủ ; Trà diêp chẩm, Kiều mạch chẩm, Tằm sa chẩm để chữa mất ngủ, giấc ngủ nhiều mộng mị...

4. Những điều cần lưu ý
     Dược chẩm liệu pháp có hiệu quả chậm và kéo dài nên khi sử dụng phải kiên trì, liên tục và nhẫn nại. Nói chung, mỗi ngày ít nhất phải gối trên 6 giờ và liên tục trong 2-3 tuần. Đây là phương pháp mang tính chất phòng bệnh tích cực và hỗ trợ trị liệu, nhất là đối với các thể bệnh nặng. Dược chẩm chủ yếu dùng cho các bệnh lý có liên quan đến đầu, mắt và mặt. Liệu pháp này hầu như không có tác dụng phụ.


                                                                                   Toàn Hoàng Khánh 

Thứ Năm, ngày 30 tháng 6 năm 2016

Ăn muối như thế nào cho tốt

ĂN MUỐI NHƯ THẾ NÀO LÀ TỐT NHẤT CHO SỨC KHỎE ?

 

     Muối là một loại gia vị đặc biệt, rất cần thiết cho mọi hoạt động của cơ thể con người. Tuy nhiên, việc dùng muối như thế nào để có lợi nhất cho sức khỏe cũng có khá nhiều quan điểm khác nhau tùy theo vùng miền, chủng tộc, giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, thói quen, tính chất bệnh lý…Dưới đây là một số vấn đề cần biết khi dùng muối ăn

* Một ngày nên ăn muối bao nhiêu là đủ?
     Trung bình mỗi ngày cơ thể chúng ta cần từ 2- 3 lít nước để bổ sung lượng nước bị hụt thông qua các hoạt động. Nếu tính tổng thể, cơ thể con người trung bình sẽ chứa từ 7- 8 lít (nước và máu). Khối lượng này đảm bảo cho hệ tuần hoàn, bài tiết duy trì hoạt động bình thường theo đúng chức năng của chúng. Muối hay có lẽ là chất mà loài người không thể thiếu trong thức ăn hàng ngày, thậm chí đối với nhiều người, có thể thiếu thịt chứ không thể thiếu muối trong bữa ăn. Lượng muối bình quân cần thiết cho cơ thể dao động từ 4-10 gam muối NaCl/ ngày, trong đó, thành phần muối có sẵn trong các thức ăn thiên nhiên chiếm khoảng 3%, số còn lại được bổ sung trong quá trình chế biến thực phẩm. Theo chuyên gia dinh dưỡng của Viện dinh dưỡng quốc gia, người bình thường không bị tăng huyết áp, không bị thừa cân, không mắc các bệnh phải kiêng mặn chỉ nên ăn từ 6 - 8g muối một ngày (bao gồm cả muối ăn, nước mắm, bột canh...).
* Ăn quá mặn có tác hại gì ?
     Thói quen ăn mặn hoặc chế biến mặn các loại thức ăn sẽ làm tăng áp lực thẩm thấu trong máu, cơ thể sẽ có cảm giác khát, dẫn đến uống nước nhiều (quá lượng nước cho phép), tích giữ nước trong cơ thể gây tăng huyết áp. Cơ thể cũng tìm cách tăng đào thải natri qua nước tiểu, dẫn tới mất kali, canxi và nhiều khoáng chất khác và gây “mệt mỏi” cho hệ bài tiết, làm tăng cường độ làm việc của hệ thống tim mạch, thận và tiết niệu nên sớm dẫn tới suy giảm chức năng hoạt động của các hệ cơ quan này. Ngoài việc ăn mặn gây tăng huyết áp, dẫn đến các bệnh về tim mạch, suy tim, suy thận, loãng xương,… Ăn nhiều muối còn làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm loét dạ dày - tá tràng và ung thư đường tiêu hóa. Đối với những người đã mắc bệnh tăng huyết áp, suy tim, suy thận và suy gan, ăn nhiều muối sẽ làm bệnh tiến triển nhanh hơn.
* Ăn quá nhạt có hại không ?
     Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh việc ăn mặn ảnh hưởng tới sức khỏe tim mạch nhưng bên cạnh đó, một chế độ ăn quá nhạt cũng không hoàn toàn tốt cho sức khỏe. Thói quen này là một sai lầm không đáng có trong ăn uống. Nhiều chuyên gia cho rằng, nếu ăn ít muối quá cơ thể có thể bị mệt mỏi, chán ăn, dẫn tới suy giảm các chức năng của cơ quan trong cơ thể và suy giảm sức khỏe nếu để tình trạng đó diễn ra trong thời gian dài. Trong cơ thể, muối đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì áp lực thẩm thấu, giữ cho cân bằng lượng nước bên trong, ngoài tế bào và trong lòng mạch máu. Ngoài ra, muối còn có vai trò trong việc duy trì điện thế tế bào, dẫn truyền xung động thần kinh, đảm bảo thăng bằng kiềm toan. Điều hòa natri trong cơ thể do hoóc-môn vỏ thượng thận aldosteron (tái hấp thu Na+ và thải K+, H+ qua ống thận) và hoóc-môn vasopressin (hay ADH, hoóc-môn chống bài niệu) của tuyến hậu yên. Natri máu bình thường là 135-145 mEq/l. Muối trong máu giảm khi lượng natri máu dưới 135 mEq/l.
     Một chế độ ăn ít muối là khi lượng thức ăn, nước uống trong 24 giờ đưa vào cơ thể có tổng lượng NaCl dưới 2.400mg (tương đương với khoảng 1 thìa cà phê). Nếu người bình thường chỉ sử dụng 1 - 2g muối/ngày và kéo dài thì được coi là ăn quá ít muối và có thể bị hạ natri máu. Đối với những người ăn kiêng muối quá mức, lượng natri máu giảm nhiều sẽ ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe, thậm chí có thể tử vong nếu lượng natri máu xuống quá thấp. Natri máu giảm cũng làm cho nước tự do thoát ra ngoài khoảng kẽ dẫn đến hiện tượng phù tay, chân hoặc nặng hơn là gây phù toàn thân. Hạ natri máu khiến hệ cơ bị suy giảm chức năng với các biểu hiện như mỏi cơ, liệt cơ, kiến bò, chuột rút.
* Những người nào nên ăn nhạt ?
     Người bị cao huyết áp chỉ dùng 2-3 gmuối/ngày và ăn hạn chế các loại thực phẩm chứa nhiều muối. Nên bỏ thói quen dùng thêm bát nước mắm trong bữa ăn, kể cả chấm rau luộc. Người bị suy thận, suy tim phải thực hiện chế độ ăn nhạt tùy theo từng giai đoạn của bệnh. Ở giai đoạn nặng phải ăn nhạt hoàn toàn, tức là không được sử dụng muối và mì chính trong chế biến cũng như tại bàn ăn, không dùng các loại thức ăn chế biến sẵn có nhiều muối. Người từ 45 tuổi trở lên cũng nên ăn hạn chế muối. Chỉ cung cấp cho cơ thể lượng muối theo khuyến cáo. Người béo cần kiểm soát lượng muối hấp thu hàng ngày vì nếu không sẽ dễ bị tăng huyết áp. Trẻ em từ khi bắt đầu ăn bổ sung cũng nên tập thói quen ăn nhạt, khi nấu bột có thể không cần cho thêm muối, nhất là trong những trường hợp trộn thêm sữa bột, pho mát vào bột, cháo, vì bản thân muối trong thức ăn cũng đã đủ cho nhu cầu của trẻ. Trong những trường hợp trẻ đã quen ăn muối thì cũng nên nấu nhạt hơn so với khẩu vị của người lớn. Vì chức năng thận của trẻ còn yếu nên khả năng thải muối kém, natri bị tích tụ nhiều trong cơ thể gây không tốt cho sức khỏe của trẻ.
* Làm thế nào để giảm thói quen ăn mặn ?

     Nếu đã lỡ có thói quen ăn mặn thì việc lập tức từ bỏ chúng quả là một vấn đề nan giải, vị giác của bạn sẽ không chấp nhận việc ăn nhạt trừ khi bác sỹ bắt buộc bạn phải tuân thủ theo một chế độ ăn nhất định. Nên nhớ rằng: vị mặn của thức ăn được chế biến chính là lượng muối đã nêm vào thức ăn, khi bạn nấu một món ăn và phát hiện ra mình đã “quá tay” trong nêm nếm, thì thật sự lượng muối đã rất nhiều. Tuy nhiên, cũng khá may mắn là lượng nước chấm “trực tiếp” với các thức ăn khi đưa vào cơ thể không đáng là bao và chủ yếu là do vị giác của ta ở ngay đầu lưỡi. Do vậy, hãy cố gắng tập thói quen nêm nếm vừa ăn hoặc hơi nhạt, để có thể duy trì chén nước chấm trong bữa cơm hàng ngày. Từng bước giảm dần thói quen ăn mặn cho mình và các thành viên trong gia đình. Cố gắng tập cho trẻ nhỏ đừng sử dụng nhiều nước rưới chấm trong bữa ăn, hạn chế để muối tiêu, muối ớt…trên bàn ăn. Chú ý vị giác khi nêm nếm, kiên quyết với việc tra thêm mắm , muối cho các món ăn. Nên nếm trước hoặc nhờ người thân nếm thử khi nấu ăn để ngừa việc vị giác của mình sai lệch. Đôi khi vị giác của ta bị đánh lừa vì tình trạng sức khỏe trong ngày. Hạn chế các món ăn chiên/xào cần dùng kèm với nước chấm. Nên sử dụng chén nước mắm pha loãng (cùng tỏi, ớt…) trong bữa ăn hàng ngày thay vì chén nước chấm mặn nguyên chất
* Nên dùng loại muối ăn nào ?
     Hiện nay có ba dạng muối ăn chính là muối thô, muối tinh và muối iốt. Một số người cho rằng muối thô tốt hơn cho sức khỏe vì mang tính tự nhiên với thành phần chủ yếu ngoài yếu tố Natri còn có 20 loại chất khoáng khác như I, KCl, MgCl, CaCl, FeSo, Se, Mg, P, S,…và nhiều nguyên tố vi lượng khác. Chính loại muối này có tác dụng nâng cao khả năng đào thải độc tố, đẩy mạnh quá trình trao đổi chất và lọc máu, hỗ trợ quá trình tiêu hóa (đặc biệt giúp cho việc tiêu hóa tinh bột được dễ dàng và trọn vẹn), đẩy mạnh quá trình hấp thu và kích thích các tế bào trong cơ thể, làm tăng sức dẻo dai, bền bỉ…Tuy nhiên muối thô có thể chứa không đủ lượng i-ốt cần thiết để phòng ngừa một số bệnh lý tuyến giáp.
     Muối tinh, được sử dụng rộng rãi hiện nay, chủ yếu là chứa clorua natri (NaCl). Tuy nhiên, chỉ có khoảng 7% lượng muối tinh được sử dụng trong đời sống hàng ngày như là chất thêm vào thức ăn. Phần lớn muối tinh được sử dụng cho các mục đích công nghiệp, từ sản xuất bột giấy và giấy tới việc hãm màu trong công nghệ nhuộm vải hay trong sản xuất xà phòng và chất tẩy rửa và nó có một giá trị thương mại lớn. Điều đáng lo ngại là hầu hết muối ăn ngày nay là muối tinh, do đã loại hết các thành phần khoáng khác, chỉ còn lại NaCl thuần túy(99%).
     Muối iốt là muối tinh được bổ sung thêm iốt dưới dạng của một lượng nhỏ iốtua kali. Nó được sử dụng trong nấu ăn và làm gia vị. Muối ăn chứa iốt làm tăng khả năng loại trừ các bệnh có liên quan đến thiếu hụt iốt. Iốt là chất quan trọng trong việc ngăn chặn việc sản xuất không đủ của các hoóc môn tuyến giáp, thiếu iốt là nguyên nhân của bệnh bướu cổ hay chứng đần ở trẻ em và chứng phù niêm ở người lớn. Vậy nên, tùy theo vùng miền, giới tính, thể chất, tuổi tác và đặc điểm bệnh lý mà lựa chọn loại muối ăn cho phù hợp. Xem ra, loại muối tự nhiên có bổ sung thêm một lượng iốt phù hợp là nên chọn dùng hơn cả.

                                                                                    Hoàng Khánh Toàn


Vài cách dùng muối chữa bệnh

VÀI CÁCH DÙNG MUỐI ĂN CHỮA BỆNH

    

     Muối ăn không chỉ là gia vị mà còn là một vị thuốc quý được dùng để chữa trị nhiều chứng bệnh. Tuy nhiên, cách chế và dùng như thế nào để đạt được hiệu quả cao thì không phải ai ai cũng tường tận. Bài viết này xin được giới thiệu một vài cách dùng muối ăn chữa bệnh thông dụng nhất để độc giả tham khảo và vận dụng khi cần thiết.

* Chữa viêm họng hạt bằng súc họng nước muối

     Viêm họng hạt đến nay vẫn được coi là một bệnh khó điều trị dứt điểm. Biểu hiện của bệnh viêm họng hạt là cảm giác vướng víu, ngứa rát thường xuyên trong họng, ho và khạc đờm quánh dính hoặc trắng nhầy thường xuyên, nhất là vào sáng sớm, khi ngủ dậy. Nhiều người bệnh do ngứa họng nên hay khậm khạc, dặng hắng. Khám tại chỗ thấy thành bên họng hơi đỏ, thành sau họng có những hạt trắng. Khi sức đề kháng của cơ thể bị giảm sút do nhiễm virus, làm việc căng thẳng, thay đổi thời tiết…, bệnh có thể nặng lên thành một đợt viêm họng cấp  với các biểu hiện đau họng, sốt, ho, khạc đờm đặc…

     Có nhiều phương pháp để trị liệu căn bệnh này nhưng hiệu quả nhiều khi còn hạn chế. Các phương pháp điều trị tích cực như đốt lạnh bằng nitơ lỏng, khí dung kháng sinh tại chỗ...không cho kết quả lâu dài. Để giảm bớt triệu chứng và đề phòng những đợt cấp hoặc biến chứng, nên áp dụng một phương pháp đơn giản mà hiệu quả là súc họng bằng nước muối loãng. Cách thức cụ thể như sau :

     Dùng muối ăn pha với nước chín thành dung dịch có độ mặn tương đương với nước canh và ấm hơn thân nhiệt vài độ (nhất là về mùa lạnh) nhằm mục đích làm giãn mạch, tăng tuần hoàn tại chỗ, khiến bạch cầu đến tại chỗ nhiều hơn. Để thuận tiện nên pha sẵn nước muối mặn đựng vào chai, khi súc họng thì pha thêm nước nóng để có độ mặn và độ nóng cần thiết. Chú ý không nên pha nước muối quá mặn. Trước tiên, cần súc sạch khoang miệng bằng nước muối đã pha trong khoảng 30 giây. Nếu cảm thấy miệng chưa thật sạch thì làm thêm một lần nữa rồi mới súc họng. Ngồi dựa lưng vào thành ghế, cổ ngửa ra sau đến mức tối đa. Khi nước muối chạm thành sau họng thì dùng hơi đẩy nước muối ra, tạo tiếng kêu "khò khò" đều đặn (có thể hình dung lúc súc họng là khi ta đang phát âm o, a hoặc ê). Sau khi đẩy hơi hết, ngồi lại tư thế bình thường, nhổ nước cũ đi rồi lặp lại động tác trên 3-4 lần nữa với nước muối mới, cho đến khi họng không còn cảm giác vướng víu nữa. Cứ 3 giờ súc họng một lần. Nếu họng đang viêm cấp, khoảng cách giữa hai lần súc họng có thể gần hơn. Điều quan trọng nhất là phải nhớ súc họng trước và sau khi ngủ. Với người hay đi tiểu đêm, cần phải súc họng cả trong những lần thức giấc này. Kết quả của việc súc họng nước muối sẽ được thấy rõ sau khoảng vài ngày, đặc biệt đối với những bệnh nhân đang ở đợt cấp. Việc điều trị kháng sinh phối hợp là điều không cần thiết đối với viêm họng mạn. Nhưng nếu đang có đợt cấp, kháng sinh sẽ làm bệnh lui nhanh hơn.

* Chữa đau lưng bằng muối ăn kết hợp với ngải cứu

    
     Một biện pháp cơ bản mà hầu như thầy thuốc đông y  nào cũng khuyên bệnh nhân làm tại nhà khi bị đau lưng, đó là chườm lá ngải cứu kết hợp với muối. Ngải cứu có tác dụng điều hòa khí huyết và giảm đau rất tốt, người bệnh có thể tìm mua dễ dàng. Khi có dấu hiệu lưng bị tổn thương, lưng đau dữ dội khó chịu thì điều đầu tiên người bệnh nên làm là chườm nóng. Chườm nóng có nhiều cách như khăn nóng, chiếu đèn hồng ngoại và sử dụng thảo dược. Bài viết sẽ hướng dẫn cách chườm lá ngải cứu kết hợp với muối ăn chữa đau lưng, một bài thuốc không thể bỏ qua khi nhắc tới việc chữa các bệnh về xương khớp. Có ba cách cụ thể như sau :

1. Lấy lá ngải cứu rửa sạch, cho lẫn muối vào rồi đổ nước nóng lên, sau đó đắp vào chỗ đau. Khi bị đau lưng, đắp ngải cứu muối ấm sẽ làm cơn đau giảm đi. Còn với người có nguy cơ cao bị đau lưng (người lớn tuổi, người béo phì…) có thể dùng bài thuốc này chườm lên lưng hằng ngày sẽ có tác dụng phòng bệnh. Đau lưng do hàn, nên lấy muối kết hợp với ngải cứu rang nóng đắp vào, tinh dầu trong lá ngải cứu sẽ hút hết hàn tà trong da và cơ thể bệnh nhân.

2. Ngải cứu lượng vừa đủ, rửa sạch, để ráo nước rồi cắt thành từng đoạn ngắn dài chừng 2cm. Lấy một miệng bát muối ăn (dạng hạt) bỏ vào chảo rang cho đến khi hết tiếng nổ lách tách (giống như sao chế biến muối vừng). Tiếp đó cho ngải cứu vào chảo đảo nhanh tay chừng mươi giây là được, sao cho ngải cứu không bị chảy nước, sau đó đổ ngải cứu và muối rang ra khăn vải, bọc kín rồi chườm lên chỗ đau trước khi đi ngủ. Khi hỗn hợp này nguội đem rang lại và thực hiện 2-3 lần như thế. Nhớ đắp 1 miếng khăn lên chổ chườm nóng để tránh bị bỏng khi thuốc quá nóng, cũng có thể dùng ba khăn vải bọc hỗn hợp thuốc rồi lần bỏ từng cái cho đến khi thuốc nguội hẳn.
3. Lấy lá ngải cứu rửa sạch trộn lẫn muối hạt to rồi nướng nóng hoặc rang lên, sau đó bọc qua một lớp khăn mỏng chườm vào phần bị đau nhiều lần vào buổi tối trước khi đi ngủ.
     Điều cần lưu ý là biện pháp chườm lá ngải cứu kết hợp với muối ăn chữa đau lưng chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng làm cho bệnh nhân đỡ đau, đỡ tê mà thôi. Để trị bệnh dứt điểm cần kết hợp các biện pháp khác với nhau như vật lý trị liệu, dùng thuốc, thậm chí là phẫu thuật.

                                                                                  Hoàng Khánh Toàn


Vai trò của muối trong y học

VAI TRÒ CỦA MUỐI ĂN TRONG Y HỌC

 

     Muối ăn, còn gọi là Thực diêm, tên khoa học là Natrium chloridum crudum (NaCl), được tạo thành do sự bốc hơi của nước biển, là những tinh thể hình lập phương dính với nhau thành hình tháp rỗng, không màu hay hơi đục bẩn, dễ hút nước, nhưng khi rang lên thì mất nước. Muối ăn chủ yếu có natri clorua, còn có lẫn nhiều tạp chất khác như kali clorua, magiê clorua, muối canxi, magiê, sắt…Đây là một gia vị phổ biến nhất, được tiêu tan tại ruột, hấp thu vào máu và giữ nồng độ thông thường một cách ổn định (vào khoảng 6g trong một lít), được bài xuất ra hoặc do sự tiết mồ hôi hoặc phần lớn qua đường niệu.

     Theo y học hiện đại, muối ăn giữ vai trò quyết định trong chức năng thận : nước tiểu phụ thuộc vào sự hiện diện trong máu một lượng NaCl bình thường, khi lượng muối hạ thấp trong trường hợp nôn mửa liên tiếp (do thai nghén, nhiễm độc…) hoặc do mất nước quan trọng (bỏng, tiêu chảy…) thì sự bài tiết nước tiểu sẽ chậm lại và các chất thải do sự chuyển hóa sẽ tích tụ lại trong máu. Muối ăn gồm hai yếu tố quan trọng: natri và clo mà mỗi chất có một vai trò quan trọng trong sự chuyển hóa tổng quát. Ví như, natri có ảnh hưởng đến sự duy trì dự trữ kiềm, trong khi clo lại góp phần trong việc sinh tổng hợp acid chlorhydric của dạ dày. Muối rất cần cho cơ thể con người, mỗi ngày nhu cầu về muối ăn xe dịch trong khoảng 5-10g. Nguồn muối do nước biển và một phần do muối mỏ. Y học hiện đại thường dùng muối dưới dạng tinh khiết để pha chế dịch truyền đẳng trương hoặc ưu trương để tiêm, truyền tĩnh mạch hoặc rửa vết thương.

     Theo y dược học cổ truyền, muối ăn vị mặn, tính hàn, không độc, vào ba kinh thận, tâm và vị, có công dụng, tả hỏa, thanh tâm, lương huyết, giải độc, nhuận táo, dẫn các thuốc khác vào kinh lạc, thường được dùng để chữa các trường hợp nhiệt kết trong dạ dày và ruột, trong ngực có đờm tích, táo bón, đau họng, đau răng, răng lợi xuất huyết, đau mắt đỏ, gây nôn mửa, chữa hạ bộ lở loét, trùng độc cắn…Trong sách Nam dược thần hiệu, Tuệ Tĩnh đã viết : Thực diêm-muối ăn, vị ngọt mặn, tính hàn, không độc, chữa chứng khí nghịch, tích đờm, đau bụng, giết trùng độc, tiêu phù thũng, sưng lở. Trong y thư Lĩnh nam bản thảo, quyển thượng, Hải thượng Lãn Ông cũng viết : “Thực diêm thường vẫn gọi là Muối ; không độc, ngọt, mặn, lạnh, thành khối ; khí nghịch, đờm ngoan, tim, bụng đau ; trùng cổ, mụn sưng đều chữa khỏi”. Và trong quyển hạ Cụ viết tiếp : “Nước bể đun lên thành muối ăn ; chế vào thực phẩm, ngọc An-nam ; tẩm vào Tứ vật máu nên tốt ; đồ tan trong bụng máu tụ đàm ; đau bụng thường dùng nó để chữa ; tâm an tạng khỏe độc tiêu tan ; song hễ ăn nhiều tổn nhan sắc ; vừa miệng thời thôi, chớ có tham”.

     Có nhiều đơn thuốc dùng muối ăn để chữa bệnh như : (1) Cổ họng sưng đau dùng muối cả hạt mà ngậm, hết hạt này đến hạt khác hoặc dùng tỏi giã nhỏ trộn với nước muối mà ngậm và súc miệng nhiều lần. (2) Răng lợi sưng đau và răng lung lay dùng muối pha với nước chín ngậm nhiều lần trong ngày. (3) Đau bụng do lạnh dùng muối rang cho nóng, bọc vào vải chườm rốn và nơi đau. (4) Ho do cảm dùng muối bỏ vào múi chanh rồi ngậm cho tan dần. (5) Chảy nhiều nước mắt dùng muối pha với nước chín thành dung dịch muối loãng để rửa mắt. (6) Bị bầm giập tụ máu dùng muối ăn trộn với một chút dầu khuynh diệp đắp lên tổn thương, mỗi ngày 2 lần. (7) Viêm họng dùng muối ăn pha với nước sôi, để còn ấm, súc họng mõi ngày 5-7 lần. (8) Bỏng nhiệt dùng một ít muối tinh hòa với dầu vừng bôi lên nốt phỏng tạo cảm giác mát dịu, giảm đau, tiêu sưng khiến tổn thương mau lành, mỗi ngày bôi 2-3 lần. (9) Nhức đầu do cảm nắng oHo H

dùng một ít muối pha với nước thành dung dịch muối nhạt như nước canh, uống vài hớp đần dần cho đến hết. (10) Chảy máu mũi dùng bong gòn nhúng nước muối nhét vào lỗ mũi, rồi uống thêm một ly nước muối loãng. (11) Rụng tóc do nấm tóc và nấm da đầu dùng nước muối gội đầu, xả lại bằng nước sạch, sau một thời gian sẽ đỡ. (12) Táo bón : sáng sớm khi bụng đói uống một ly nước muối loãng ấm, dùng thường xuyên rất tốt cho đường ruột và táo bón kinh niên. (13) Ù tai dùng muối rang nóng cho vào túi vải ấp lên quanh vùng tai trong 10 phút, mỗi ngày làm 2 lần. (14) Hôi nách dùng muối rang nóng cho vào túi vải chà vào nách đến khi nguội, mỗi ngày 2 lần. (15) Chân tay đau nhức do tê thấp dùng muối ăn xoa xát chỗ đau nhức cho ấm lên, làm trước khi đi ngủ trong 5-10 ngày. (16) Ngứa da người già dùng muối ăn có độ mặn cao, giã nhuyễn, xoa xát mỗi ngày 1 lần trước khi ngủ tối. (17) Ngộ độc ăn uống dùng 1 muỗng canh muối awnpha trong 1 ly nước cỡ 100 ml, cho uống 1-2 lần, sau đó ngoái họng cho nôn hết thức ăn trong dạ dày ra, rồi tùy theo mức độ và loại ngộ độc khẩn trương đưa đến các cơ sở y tế gần nhất để tiếp tục chữa trị.. (18) Các chứng đau cổ, đau vai, đau lưng, đau thần kinh tọa…dùng muối sao nóng với ngải cứu chườn vào vùng đau 1-2 lần trong ngày (19) Mất ngủ dùng nước muối nóng ngâm chân trong 15-20 phút trước khi ngủ tối.

                                                                                        Hoàng Khánh Toàn