Thứ Tư, ngày 22 tháng 4 năm 2015

Tự xoa bóp chữa h/c ống cổ tay

TỰ XOA BÓP TRỊ HỘI CHỨNG ỐNG CỔ TAY


     Hội chứng ống cổ tay là một trong những chấn thương thầm lặng liên quan đến công việc nhiều nhất, khiến hơn 2 triệu người phải tìm đến bác sĩ hàng năm ở Mỹ. Ở nước ta, số người mắc bệnh này cũng khá cao và đang có xu hướng gia tăng. Triệu chứng điển hình của hội chứng ống cổ tay là đau, tê nhức như kim châm ở các ngón tay, đặc biệt là ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa và phần nửa ngoài ngón nhẫn. Đau có thể lan lên lòng bàn tay, cổ tay và cẳng tay, nhất là về đêm. Bệnh nhẹ cảm thấy tê buốt như bị kim châm ở bàn tay, nặng hơn thì thấy đau nhiều, có khi bỏng rát và nhức nhối cả cẳng tay và cánh tay, tay yếu và tê cứng. Bệnh lâu ngày có thể gây teo cơ ô mô cái khiến khả năng cầm nắm yếu đi. Để dự phòng tích cực và hỗ trợ trị liệu chứng bệnh này người bệnh nên thực hành một số thao tác tự xoa bóp sau đây :
- Xát hai lòng bàn tay vào nhau, dùng lòng bàn tay bên này xát mu bàn tay bên kia sao cho nóng lên là được. Tiếp đó dùng các ngón tay bên này vê từng ngón tay bên kia và ngược lại.
- Dùng ngón tay cái day các huyệt Bát tà, mỗi huyệt chừng nửa phút. Vị trí huyệt  Bát tà : nằm ở kẽ ngón tay, trên đường tiếp giáp da gan tay và mu tay, ngang với khe khớp xương bàn tay và ngón tay.
- Dùng ngón tay cái day ấn huyệt Hợp cốc trong 1 phút với một lực vừa phải. Vị trí huyệt Hợp cốc : ở chỗ lõm giữa xương bàn tay thứ nhất và thứ hai (ngón cái và ngón trỏ), dùng ngón tay cái ấn men theo bờ xương bàn tay thứ hai tìm điểm khi ấn có cảm giác đau tức lan sang ngón tay út thì đó là vị trí của huyệt.
- Dùng ngón tay cái day ấn các huyệt Dương trì (tại khớp cổ tay phía mu, thẳng từ ngón nhẫn lên, gần mắt cá tay), Ngoại quan (từ Dương trì đo lên 2 thốn) và Nội quan (từ điểm giữa nếp gấp cổ tay đo lên 2 thốn, ở giữa hai gân cơ gan tay lớn và gan tay bé), mỗi huyệt nửa phút với một lực vừa phải.
- Dùng ngón tay cái day ấn huyệt Khúc trì (ở đầu lằn chỉ của nếp gấp khuỷu tay khi co khuỷu tay vào) và huyệt (ở dưới huyệt Khúc trì 2 thốn), mỗi huyệt nửa phút với một lực vừa phải.
- Dùng tay nọ bóp tay kia từ vai trở xuống đến bàn tay trong 1 phút với một lực tương đối mạnh. Tiếp đó dùng tay trái nắm cẳng tay phải, nắm hờ bàn tay phải rồi vận động gấp, duỗi và xoay khớp cổ tay từ trái sang phải và ngược lại trong nửa phút, đổi bên làm tiếp như vậy với khớp cổ tay trái. Dùng bàn tay trái nắm từng ngón tay của bàn tay phải rồi kéo với một lực khá mạnh sao cho phát ra tiếng kêu là được, đổi bên làm tiếp như vậy với các ngón tay của bàn tay trái.
- Vận động gấp, duỗi và xoay khớp khuỷu, khớp vai trong 1 phút. Cuối cùng là thực hiện động tác vẩy tay : đứng thẳng, hai chân giang rộng bằng vai, thả lỏng toàn thân, đồng thời đưa hai tay về phía trước sao cho ngón tay cái ngang bằng rốn (tạo với cơ thể một góc 45 độ), tiếp đó đưa tay xuống và ra sau sao cho ngón út không vượt quá mông, cứ làm đi làm lại như vậy trong 2 phút.
     Để phòng bệnh, cần cho các cơ bắp nghỉ ngơi thư giãn, thường xuyên xoa bóp để tăng tưới máu cho các nhóm cơ vùng vai, cổ và tay. Thường xuyên tập thể dục, nhất là với những người mà công việc bắt buộc phải ngồi nhiều, hoặc phải thực hiện những thao tác lặp đi lặp lại ở cổ tay. Khi làm việc, cần chọn tư thế hợp lý, ghế ngồi phải vừa tầm, mông cao hơn gối, lưng thẳng hay hơi ngả ra sau, tựa thắt lưng vào lưng ghế có ụ nhô ngang thắt lưng, hai chân chấm đất trong tư thế vững vàng nhưng thoải mái. Màn hình máy tính nên đặt ngang bằng hoặc thấp hơn tầm mắt một chút. Khi làm việc, những ngón tay có thể cong nhẹ hoặc duỗi ra mà không cần phải vặn cổ tay. Bàn phím tốt nhất nên đặt thẳng hoặc thấp hơn khuỷu tay. Thực hiện chế độ ăn giàu vitamin, đặc biệt là vitamin nhóm B.
                                                                                              Hoàng Khánh Toàn


Tự xoa bóp phòng chống bệnh văn phòng

TỰ XOA BÓP PHÒNG CHỐNG BỆNH VĂN PHÒNG

  
     Bệnh văn phòng hay hội chứng bệnh văn phòng (SBS) thuật ngữ chỉ về các loại bệnh tật khác nhau có nguyên nhân từ những điều kiện và môi trường làm việc ở văn phòng, cao ốc và những công việc liên quan đến lao động đặc thù tại văn phòng. Đối tượng đặc thù của loại bệnh này chính là những nhân viên văn phòng thường xuyên tiếp xúc và làm việc với máy vi tính, giấy tờ, hồ sơ...với hoạt động lao động trí óc, có nhiều mối quan hệ công tác đa dạng, phức tạp, cường độ làm việc cao, áp lực công việc lớn, tình trạng va chạm, căng thẳng trong công tác nhiều, công việc thường không có giờ giấc cố định như thường xuyên tiệc tùng, liên hoan, đi công tác...
     Tất cả nguyên nhân này đã gây ra nguyên nhân cho hàng loạt căn bệnh trầm kha, gây cho người làm văn phòng thường đau ốm triền miên, cơ thể yếu nhược, hay mệt mỏi, dễ béo phì, suy nhược toàn diện, đặc biệt là các bệnh về thần kinh, dạ dày, cột sống, khớp, mắt, tĩnh mạch.... Tổ chức Y tế Thế giới đã cảnh báo có đến 30% cao ốc mới và được nâng cấp trên thế giới có thể gây ra các triệu chứng bệnh văn phòng, trong đó phụ nữ là đối tượng dễ bị hơn. Bệnh văn phòng khiến nền kinh tế Anh mất 24,6 triệu ngày làm việc mỗi năm do nghỉ bệnh. Thậm chí có nguy cơ cảnh báo cho rằng những nhân viên văn phòng thường xuyên phải ngồi làm việc trong nhiều giờ liền phải đối mặt với nguy cơ tử vong cao hơn.  
     Để phòng chống căn bệnh thời hiện đại này, người ta khuyến cáo dân văn phòng phải thực hành nhiều biện pháp mang tính toàn diện và thường xuyên. Ngoài các biện pháp của y học hiện đại như vệ sinh lao động hợp lý, nghỉ ngơi thư giãn, dùng thuốc giảm đau, cải thiện tuần hoàn não và tim, dùng thuốc tăng lực, liệu pháp vitamin và nguyên tố vi lượng…, người cũng cho rằng cũng nên trọng dụng các biện pháp của y học cổ truyền, ví như có thể tự mình hoặc nhờ người khác tiến hành day bấm một số huyệt vị châm cứu theo phác đồ có trình tự như sau :
* Chọn nơi yên tĩnh, đặt cơ thể ở một tư thế thoải mái, tốt nhất là nửa nằm nửa ngồi, thả lỏng toàn thân, thở đều, nhẹ và sâu, tâm trí tập trung vào hơi thở trong 5 phút.
* Dùng hai ngón tay giữa day ấn huyệt Thái dương trong 2 phút sao cho đạt cảm giác tê tức cả vùng thái dương là được. Vị trí huyệt Thái dương : ở chỗ lõm phía sau ngoài 1 tấc, ấn vào có cảm giác tê tức, có lúc nhìn rõ mạch máu nhỏ nổi lên.
* Dùng hai ngón tay cái day bấm huyệt Phong trì trong 2 phút sao cho đạt cảm giác tê tức cả vùng gáy là được. Vị trí huyệt Phong trì : ở chỗ lõm dưới xương chẩm (đáy hộp sọ, phía ngoài hai khối cơ vùng gáy, khi ấn có cảm giác tê tức, mỗi bên một huyệt.
* Ngồi thẳng người dậy, vòng tay phải trước ngực, vắt qua vai trái hết cỡ, đầu ngón tay giữa đặt ở đâu thì day bấm chỗ đó trong 2 phút với một lực tương đối mạnh sao cho đạt cảm giác tê tức cả vùng vai và vùng giữa hai xương bả vai bên trái là được. Tiếp tục vòng tay trái trước ngực, vắt qua vai phải hết cỡ...với thao tác tương tự.
* Dùng tay trái bóp dọc tay phải từ vai xuống đến bàn tay 10 lần, rồi day ấn huyệt Khúc trì bằng ngón tay cái với một lực vừa phải trong 1 phút. Tiếp đó, lại dùng tay phải bóp dọc tay trái từ vai xuống bàn tay và day bấm huyệt Khúc trì bên trái với thao tác tương tự. Vị trí huyệt Khúc trì : gấp cẳng tay vào cánh tay, bàn tay để phía trên ngực cho nổi rõ nếp gấp khuỷu, huyệt nằm ở đầu ngoài nếp gấp này, khi day đặt cẳng tay vuông góc với cánh tay.
* Dùng hai bàn tay xát dọc hai khối cơ thắt lưng trong 1 phút sao cho tại chỗ nóng lên là được, sau đó day ấn hai huyệt Thận du bằng hai ngón tay cái trong 1 phút. Vị trí huyệt Thận du : xác định điểm cao nhất của hai cánh xương chậu ở vùng thắt lưng, giao điểm của đường nối hai điểm này với cột sống chính là mỏm gai đốt sống thắt lưng 4, từ đây tìm lên trên để xác định mỏm gai đốt sống thắt lưng 2 rồi đo ngang ra hai bên 1,5 tấc là vị trí của huyệt.
* Hai tay ôm lấy đùi phải bóp dọc từ trên xuống dưới bàn chân 10 lần, sau đó đổi sang làm bên chân trái. Tiếp đó dùng hai ngón tay cái day bấm hai huyệt Túc tam lý trong 2 phút. Vị trí huyệt Túc tam lý : sờ bờ trước xương ống chân (mào chày) từ dưới cổ chân ngược lên, khi ngón tay bị mắc lại ở đâu thì đó là lồi củ trước xương chày, từ đây đo ngang ra ngoài 1 khoát ngón tay là vị trí của huyệt, khi ấn có cảm giác tê tức lan xuống bàn chân.
* Xát hai bàn tay vào nhau trong 1 phút, rồi dùng bàn tay bên nọ xát lòng bàn chân bên kia và ngược lại, mỗi bên 1 phút. Tiếp đó dùng hai ngón tay cái day bấm huyệt Dũng tuyền trong 1 phút với một lực tương đối mạnh. Vị trí huyệt Dũng tuyền : lấy ở điểm nối 2/5 trước và 3/5 sau của đoạn nối đầu ngón chân 2 và bờ giữa bờ sau gót chân, trong chỗ lõm ở gan bàn chân.
* Dùng ngón tay cái hoặc ngón tay giữa day ấn tất cả các điểm đau trên cơ thể (đông y gọi là A thị huyệt), mỗi vị trí trong 1 phút. Sau đó, đưa cơ thể trở về tư thế nửa nằm nửa ngồi, thả lỏng toàn thân, thở thư giãn trong vài phút.
      Khi xoa bóp và day bấm các huyệt vị có thể dùng các loại dầu nóng để làm tăng tác dụng hoạt huyết thông mạch, thư cân giảm đau. Sau khi thực hiện quy trình, nếu trời lạnh và cơ thể cảm thấy lạnh nên uống một cốc trà gừng nóng hoặc một chút rượu, nếu trời nóng và cơ thể cảm giác nóng bức nên uống một cốc bột sắn dây có vắt một vài giọt nước chanh hoặc một cốc trà bạc hà.

                                                                                    Hoàng Khánh Toàn





trà dược cho nhân viên văn phòng

TRÀ DƯỢC CHỐNG MỆT MỎI CHO NHÂN VIÊN VĂN PHÒNG


     Với nhân viên làm việc trong văn phòng, lúc giải lao hay sau một ngày làm việc căng thẳng, mệt mỏi có nhiều cách để phục hồi sức khỏe như chơi thể thao, tập khí công dưỡng sinh, ăn uống bồi bổ sức lực, nằm hoặc ngồi thư giãn..., trong đó có một phương pháp còn ít người biết đến là sử dụng các món trà dược của y học cổ truyền. Nói là trà bởi vì cách sử dụng của nó cũng tương tự như pha trà uống hàng ngày chứ không nhất thiết trong thành phần phải có trà búp, trà mạn thực thụ. Người ta thường căn cứ vào tính chất công việc, thời tiết và thể chất của người dùng để lựa chọn loại trà dược nào cho phù hợp nhằm thu được hiệu quả cao nhất. Có thể dẫn ra vài loại điển hình như sau :
* Độc sâm trà : Nhân sâm thái phiến hoặc nghiền vụn, mỗi ngày dùng 3-9g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Nếu không có sâm củ thì dùng trà sâm đóng gói thay thế. Công dụng : bổ khí cường thân, hồi phục sinh lực sau lao động rất tốt, đặc biệt là lao động chân tay. Người bị cao huyết áp cần thận trọng khi dùng loại trà này.
* Nhân sâm đại táo trà : Nhân sâm 3-5g thái phiến, đại táo 10 quả bỏ hạt, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : bổ khí sinh huyết, chống mệt mỏi sau lao động nặng.
* Nhân sâm liên tử trà : Nhân sâm 6g thái phiến, liên tử (hạt sen) 10g đập vụn ngâm trong nước 30 phút, cho thêm đường phèn vừa đủ rồ đem hấp cách thủy, sau 1 giờ thì dùng được, uống nước ăn cái trong ngày. Công dụng : bổ tỳ ích phế, cường tráng thân thể.
* Tăng dịch ích âm trà : Huyền sâm 15g, mạch môn 12g, sa sâm 12g, sinh địa 12g, ngọc trúc 12g. Các vị thuốc thái phiến hoặc nghiền vụn rồi hãm với nước sôi trong bình kín trong 15 phút, uống thay trà trong ngày. Công dụng : dương âm sinh tân, nhuận táo, dùng rất tốt cho những người lao động trong điều kiện năng nóng, háo khát do mất mồ hôi nhiều. Những người tỳ hư đi lỏng không nên dùng loại trà này.
* Thanh hao mai đông trà : Thanh hao 15g, ô mai 7g, mạch môn 10g, lá sen tươi 9g. Các vị nghiền vụn hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : thanh nhiệt khứ thử, sinh tân chỉ khát, dùng rất tốt cho những người lao động trong mùa hè nắng nóng, môi khô, miệng khát, ra mồ hôi nhiều. Những người có thể chất tỳ vị hư hàn hay đi lỏng thì không nên dùng.
* Hoàng kỳ táo khương trà : Hoàng kỳ sao 10g, đại táo 3 quả bỏ hạt, gừng tươi 2 lát. Các vị thuốc nghiền vụn hãm với nước sôi trong 15 phút, uống thay trà trong ngày. Công dụng : ích khí phù chính, hòa dinh cố biểu, dùng rất tốt cho những người làm việc trong thời tiết gió rát, băng giá dễ bị cảm mạo.
* Quế chi cam thảo trà : Quế chi 10g, cam thảo sống 5g nghiền vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : ôn bổ tâm dương, hòa dinh ích khí, dùng rất tốt cho những người lao động ngoài trời vào mùa đông hoặc công nhân nhà máy nước đá, đông lạnh. Những người có chứng viêm nhiệt không nên dùng loại trà này.
* Ngũ vị táo nhân kỷ tử trà : Ngũ vị tử 6g, toan táo nhân sao đen 6g. Các vị nghiền vụn hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : định tâm an thần, kiện não ích trí, dùng rất tốt cho những người lao động trí óc dễ căng thẳng thần kinh.
* Thủ ô đan sâm trà : Hà thủ ô chế 25g, đan sâm 25g, mật ong lượng vừa đủ. Các vị thuốc tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : ích thận bổ can, hoạt huyết hóa ứ rất tốt, dùng cho những người bị thiểu năng mạch vành, cao huyết áp. Những người huyết áp thấp không nên dùng loại trà này.
* Ba kích đỗ trong ngưu tất trà : Ba kích 20g, ngưu tất 15g, đỗ trọng 20g, ngũ vị tử 9g. Các vị nghiền vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : ôn bổ can thận, làm mạnh gân cốt, dùng rất tốt cho những người lao động cơ bắp phải bê vác, vận động cột sống nhiều.
     Ngoài công dụng chống mệt mỏi do lao động căng thẳng trong môi trường văn phòng, các loại trà dược nói trên, nếu dùng thường xuyên, còn góp phần dự phòng và chữa trị các chứng bệnh mạn tính. Nhìn chung, tất cả đều đơn giản, rẻ tiền, dễ kiếm và dễ dùng.


                                                                                  Hoàng Khánh Toàn

Bệnh do máy lanh

BỆNH DO DÙNG MÁY LẠNH NƠI CÔNG SỞ


     Trong vài chục năm gần đây, khi đời sống vật chất được cải thiện rõ rệt, cùng với sự nóng lên của khí hậu toàn cầu, sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp chế tạo máy móc phục vụ dân sinh, việc lắp đặt máy điều hòa nhiệt độ (máy lạnh) nơi công sở, văn phòng trở nên hết sức phổ biến, đặc biệt là ở các đô thị lớn. Bên cạnh những lợi ích to lớn trong việc tạo ra một môi trường vi khí hậu thuận lợi cho sức khỏe và công việc của nhân viên văn phòng thì càng ngày người ta càng nhận thấy những bất cập và bệnh tật do máy lạnh đem lại cho con người.

1. Những trục trặc sức khỏe thường gặp do máy lạnh gây ra
- Hội chứng suy nhược thần kinh : biểu hiện bằng nhiều các trạng thái như mệt mỏi, đau đầu, chóng mặt, tức ngực, căng thẳng, dễ cáu gắt, mất ngủ, hiệu suất làm việc giảm sút. Đây là những yếu tố nguy cơ gây nên các bệnh lý nguy hiểm như tăng huyết áp, thiểu năng mạch vành tim, thiểu năng tuần hoàn não…thậm chí có thể dẫ đến nhồi máu cơ tim, đột quỵ não, tâm thần phân liệt…
- Bệnh lý đường hô hấp : viêm mũi, viêm họng, viêm phế quản, viêm thanh quản…cấp hoặc mạn tính, hay bị khô họng, ngẹt mũi, dễ mắc các bệnh truyền nhiễm do virut gây nên lây truyền qua đường hô hấp, thậm chí có thể bị hen phế quản. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng, người làm việc trong phòng điều hòa có nguy cơ mắc các vấn đề về hô hấp gấp 2,5 lần so với người làm trong môi trường thông thoáng tự nhiên.
- Bệnh lý cơ xương khớp : đau mỏi cơ bắp và các khớp xương, đau lưng, đau cổ gáy…
- Bệnh về da : da bị mất nước, khô ráp, giảm sức đề kháng, dễ bị dị ứng, mẩn ngứa, mụn nhọt...mặc dù có dùng kem dưỡng da thường xuyên.

2. Nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh
- Ở trong môi trường máy lạnh kéo dài dễ làm giảm khả năng thích ứng, thu hẹp ngưỡng chịu đựng và sức đề kháng của cơ thể với sự biến đổi nhiệt độ của môi trường bên ngoài, làm tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh lý khác nhau.
- Sự kích thích của yếu tố lạnh làm cho thân nhiệt tại các vùng cục bộ có chênh lệch quá lớn, nhiệt độ ở tay chân luôn luôn thấp hơn nhiệt độ của than người.
- Trong phòng lạnh, số ion âm của không khí gần như bằng không. Các ion này rất có ích cho sức khỏe, được ví như là vitamin trong không khí. Thiếu nó người ta dễ lâm vào trạng thái suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể, rối loạn thần kinh thực vật. Theo tính toán, mỗi mét khối không khí trong phòng có 50 ion âm, nhưng khi sử dụng máy lạnh thì chỉ còn chừng 10 ion.
- Sử dụng máy lạnh thường xuyên, kéo dài và độ lạnh càng sâu thì độ ẩm càng giảm, khiến da và niêm mạc đường hô hấp trở nên khô, giảm sức đề kháng với mầm bệnh và dễ bị kích ứng.
- Sự chênh lệch nhiệt độ trong phòng gắn máy lạnh và bên ngoài quá cao khiến hệ thần kinh thực vật khó thích ứng, nếu chênh 5-10 độ C là điều rất bất lợi cho sức khỏe của nhân viên văn phòng nếu không có phòng đệm, thậm chí có thể xảy ra tai biến khi đột ngột ra khỏi phòng, nhất là những người vốn bị tăng huyết áp, huyết áp thấp hoặc thiểu năng tuần hoàn não và tuần hoàn tim.
- Nhiệt độ lạnh kéo dài sẽ khiến cho các cơ bị co cứng, lượng máu đến nuôi dưỡng cơ khớp bị suy giảm do co thắt mạch máu dẫn đến tình trạng đau mỏi cơ khớp, đau cổ gáy, đau lưng, đặc biệt là khi ngồi làm việc ở vị trí mà luồng không khí lạnh từ máy điều hòa phả trực tiếp vào các vùng nhạy cảm của cơ thể như đầu, mặt, cổ, gáy…
- Khi chạy máy lạnh, phòng làm việc thường phải đóng kín cửa nên dễ thiếu dưỡng khí và thừa thán khí nên dễ gây cảm giác ngột ngạt, khó thở, là nguy cơ gây nên các bệnh lý hô hấp.

3. Biện pháp phòng tránh
- Khi sử dụng máy lạnh, cần chú ý vấn đề thông gió, mỗi ngày nên mở cửa sổ trong một khoảng thời gian nhất định để không khí trong phòng được lưu thông, thay cũ đổi mới. Trong khi chạy máy, thỉnh thoảng nên bật quạt thông gió và chú ý làm sạch máy hai tuần một lần.
- Giữ nhiệt độ trong phòng sao cho không bao giờ chênh lệch với bên ngoài quá 5 độ. Làm việc trong phòng khoảng 1 giờ thì nên ra bên ngoài để thay đổi không khí. Trước khi ra khỏi phòng, cần vận động cơ thể trong vài phút, khi cơ thể thích ứng mới ra hẳn bên ngoài. Nếu có việc phải ở lâu trong phòng thì chú ý uống nhiều nước ấm và trong phòng nên đặt một chậu nước để đảm bảo độ ẩm cần thiết.
- Hết sức tránh luồng không khí lạnh từ máy điều hòa thổi trực tiếp vào người, đặc biệt là vùng đầu và gáy. Tốt nhất là hướng cửa gió chếch sang phải hoặc trái hoặc lên phía trên, tốc độ gió nên để ở mức vừa phải.
- Không hút thuốc lá trong phòng lạnh, chú ý vệ sinh thường xuyên, sắp xếp trật tự nội vụ gọn sạch để ngăn ngừa sự phát triển của vi sinh vật, nên dùng kem dưỡng da và giữ ẩm để phòng tránh các bệnh da liễu.
- Ở công sở, phòng làm việc thường có nhiều người, sức chịu lạnh mỗi người khác nhau nên cần chú ý mặc ấm, giữ vùng cổ và hai bàn chân khỏi bị lạnh. Nên trọng dụng các loại đồ ăn thức uống có tính chất ôn ấm và dự phòng nhiễm lạnh như kẹo gừng, trà gừng, ô mai…
- Những lúc giải lao nên tiến hành một số động tác như xoa nóng hai vành tai, dùng hai bàn tay đan vào nhau xát mạnh vùng gáy, xát hai bàn tay và hai bàn chân vào nhau cho ấm lên, tự hít thở thật sâu trong tư thế toàn thân  thư giãn.

                                                                                 Hoàng Khánh Toàn



    

Thứ Bảy, ngày 11 tháng 4 năm 2015

làm thế nào để đại tiện thông thoáng ?

LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐẠI TIỆN THÔNG THOÁNG ?


     Thực tế hàng ngày không ít người, đặc biệt là người có tuổi và cao tuổi, mỗi khi đi vệ sinh “nặng” thường lâm vào tình trạng : khó đi dù phân cứng hay không, đi không hết bãi, đi xong lại muốn đi nữa, thường mỗi sáng phải đi 2-3 lần mới xong hoặc đi xong không có cảm giác thoải mái, thông thoáng…Để khắc phục và dự phòng tình trạng này, ngoài việc đi khám và tuân thủ phác đồ điều trị của thầy thuốc, trước khi đi đại tiện chúng ta có thể tiến hành một số thủ pháp của y học cổ truyền sau đây :
- Đầu tiên, nằm ngửa, tĩnh tâm, duỗi mềm các cơ, từ từ thót bụng để thở ra, đẩy nhẹ nhàng không khí qua mũi hoặc qua miệng. Khi bụng đã thót hết mức, ngừng thở trong giây lát rồi sau đó từ từ phình bụng hít vào. Thở luân phiên như vậy trong 10 lần. Tiếp đó dùng hai bàn tay đặt chồng lên nhau xoa bụng theo chiều kim đồng hồ với một lực ép vừa phải chừng 50-100 vòng. Hai động tác này có tác dụng xoa bóp dạ dày và ruột gián tiếp qua da, kích thích và điều hoà nhu động ruột, giúp cho quá trình bài tiết chất thải trong ruột được dễ dàng. Hơn nữa, theo quan niệm của y học cổ truyền, cách thở như trên sẽ giúp cho tạng Phế thải trừ được nhiều trọc khí và hấp thu được nhiều thanh khí để kết hợp với tinh khí của đồ ăn thức uống do Tỳ Vị vận hoá mà thành để tạo nên Tông khí. Thứ khí này có vai trò hết sức quan trọng trong việc phục hồi và duy trì công năng sinh lý bình thường của các tạng phủ trong nhân thể, trong đó bao gồm cả dạ dày và ruột.
- Tiếp đó, dùng hai ngón tay cái đặt lên hai huyệt Thiên khu, các ngón tay còn lại ôm lấy mạng sườn, tiến hành day bấm huyệt trong 2 phút. Vị trí huyệt Thiên khu:
từ rốn đo ngang ra 2 tấc, mỗi bên có một huyệt. “Thiên” có nghĩa là trời, ở đây nói đến phần trên của bụng ; “khu” có nghĩa là chốt. Rốn chia bụng làm hai phần : phần trên rốn là thiên, phần dưới rốn là địa. Huyệt vị này ngang hàng với rốn, được xem như là chốt điều hành chức năng của tràng vị (dạ dày, ruột) nên có tên là Thiên khu. Huyệt này có công dụng hoà vị thông tràng, kiện tỳ lý khí, điều kinh đạo trệ (điều hoà và nâng cao năng lực hoạt động của hệ tiêu hoá, nhuận tràng thông tiện, điều hoà kinh nguyệt và chống ứ trệ), thường được dùng để chữa các chứng bệnh như đau bụng quanh rốn, sôi bụng, đầy bụng, ăn không tiêu, nôn, táo bón, ỉa chảy và kiết lỵ. Theo cổ nhân, Thiên khu có thể chữa được các bệnh lý của ruột già là vì : nó là huyệt Mộ của đường kinh Đại trường, là nơi khí của phủ Đại trường tụ tập, bởi thế khi kích thích vào huyệt vị này có thể điều hoà công năng của ruột già, chống ứ trệ mà giúp cho quá trình bài tiết chất thải được dễ dàng.
     Cuối cùng, dùng ngón tay giữa day ấn huyệt Đại chùy trong 2 phút. Cách xác định vị trí huyệt đại chuỳ : ngồi hơi cúi đầu, quay cổ qua lại phải trái, u xương nào cao nhất động đậy nhiều dưới ngón tay là đốt cổ 7, huyệt nằm ở ngay dưới u xương này. Đây là huyệt hội của 6 đường kinh dương và mạch Đốc, có công dụng làm thông dương khí toàn thân, giúp cho việc đại tiện được thông thoáng.
     Trong khi đi đại tiện, cùng với động tác rặn, có thể luân phiên day ấn huyệt Thiên khu và Đại chùy để giúp cho việc xả chất thải được dễ, nhanh và triệt để.

                                                                               Hoàng Khánh Toàn




Rượu tắc kè

5 CÔNG THỨC RƯỢU THUỐC TẮC KÈ


     Trong y học cổ truyền, tắc kè, còn gọi là cáp giới, cáp giải, đại bích thổ, cáp xà, thạch nha, là một dược liệu quý, có công dụng bổ phế ích thận, định suyễn chỉ khái ; thường được dùng để bảo dưỡng sức khoẻ và chữa các chứng hư lao, ho ra máu, hen suyễn, tiêu khát (đái tháo đường), suy nhược thần kinh, liệt dương, di mộng tinh, suy giảm khả năng tình dục Ngoài các cách dùng thông thường như thuốc sắc, thuốc hoàn, thuốc tán, tắc kè còn được người xưa sử dụng dưới dạng rượu thuốc (dược tửu) hết sức độc đáo. Cấu trúc của rượu thuốc tắc kè có thể là rượu ngâm độc vị tắc kè hoặc phối hợp với nhiều vị thuốc khác nhằm mục đích bổ sung và năng cao hiệu lực của cáp giới dược tửu, khử mùi tanh và tạo cảm giác thơm ngon dễ uống. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả cao nhất, việc lựa chọn các vị thuốc phối hợp có ý nghĩa hết sức quan trọng. Dưới đây, xin được giới thiệu 5 công thức cáp giới dược tửu thông dụng để độc giả tham khảo và vận dụng.
   Công thức 1 :  Tắc kè 100g, thục địa 100g, hoài sơn  100g, đại táo 50g, đỗ trọng 200g, hoàng tinh 200g, bạch linh 200g, dâm dương hoắc 30g, kỷ tử 200g, đẳng sâm 100g, cam thảo 20g, nhục dung 70g, đường phèn hoặc mật ong 50g. Các vị thuốc sấy khô, tán vụn rồi đem ngâm với 3000 ml rượu trắng trong bình kín, sau chừng 30 ngàythì dùng được. Khi dùng, chắt ra và lọc qua vải rồi hoà thêm mật hoặc đường, uống mỗi ngày từ 15 - 30 ml. Công dụng : bổ khí tráng dương, diên niên ích thọ (kéo dài tuổi thọ), dùng thích hợp cho những người suy nhược cơ thể, liệt dương, di tinh, xuất tinh sớm
   Công thức 2 :  Tắc kè 50g, phá cố chỉ 75g, dâm dương hoắc 75g, hà thủ ô 125, thục địa 125g, sơn thù 50g, kỷ tử 50g, ba kích 75g, thỏ ty tử 60g, nhục dung 125, hạt hẹ 125g, hoài sơn 75g, trạch tả 35g, đan bì 25g, bạch linh 75g, mật ong 50g. Các vị thuốc sấy khô, tán vụn rồi đem ngâm với 3000 ml rượu trắng trong bình kín, sau ít nhất 30 ngày thì dùng được. Khi dùng, chắt ra và lọc qua vải, chế thêm mật ong, mỗi ngày uống 15 - 30g ml. Công dụng : làm ấm thận và có lợi cho dương sự, đặc biệt tốt cho những người bị liệt dương cơ năng.
   Công thức 3 :  Tắc kè 50g, sơn thù 25g, cẩu tích 25g, đương quy 25g. kỷ tử 25g, thỏ ty tử 25g, nhân sâm 25g, mạch môn 40g, rượu trắng 1000 ml. Các vị thuốc sấy khô, tán vụn, ngâm với rượu trắng trong bình kín, sau chừng 21 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 15 - 30 ml. Công dụng : bổ khí huyết, trợ dương ích thận. Theo cổ nhân, loại rượu này có khả năng chữa được 9 chứng yếu của đàn ông là : dương sự suy yếu, dương đạo không phấn chấn được, phấn chấn mà không đủ độ, đủ mà không thực, thực mà không cứng, cứng mà không tuân theo, tuân theo mà không được lâu, lâu mà không có tinh, có tinh mà không có con.
   Công thức 4 :  Tắc kè 50g, nhung hươu 10g, nhục quế 20g, nhục dung 2og, tiên mao 20g, phụ tử chế 20g, đỗ trọng 20g, cẩu tích 20g, kỷ tử 20g, toả dương 20g, đẳng sâm 20g, đại táo 20g, đương quy 20g, thục địa 20g, sinh địa 20g, hoài sơn 20g, tục đoạn 20g, ngưu tất 20g, rượu trắng 2000 ml. Các vị thuốc sấy khô, tán vụn, đựng trong túi vải rồi ngâm với rượu trắng, sau 20 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10 - 20 ml. Công dụng : bổ thận tráng dương, bổ khí dưỡng huyết, tráng gân cường cốt, bình suyễn nạp khí, thường được dùng để bồi bổ cơ thể và chữa các chứng đau lưng do hư xương sụn cột sống, thoái hoá khớp gối, di tinh, liệt dương, suy giảm ham muốn tình dục, hen phế quản thể thận hư giai đoạn ổn định
   Công thức 5 :  Tắc kè 50g, tinh hoàn chó 1 đôI (nếu là của chó vàng thì tốt nhất), ba kích 30g, nhục dung 30g, kỷ tử 30g, sơn thù 120g, trầm hương 4g, mật ong 100g, rượu trắng 250g. Các vị thuốc sấy khô, tán vụn ; tinh hoàn chó nghiền nhỏ, tất cả đem ngâm với rượu trắng, sau 21 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10 ml. Công dụng : bổ thận tráng dương, được dùng để bồi bổ sức khoẻ và chữa các chứng tay chân buốt lạnh, lưng đau gối mỏi, di tinh, liệt dương, suy giảm ham muốn tình dục
     Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy, trong tắc kè rất giàu chất đạm, chất béo và đặc biệt chứa nhiều nguyên tố vi lượng như Zn, Fe, Ca, MgĐiều cần lưu ý là, hàm lượng Zn và Fe ở đuôi tắc kè cao hơn nhiều lần so với ở thân, riêng Zn cao gấp 42 lần. Mặt khác, hàm lượngcác acid amin ở đuôi cũng rất phong phú, gần ngang so với tổng lượng acid amin ở phần thân. Bởi vậy, trong khi bào chế và sử dụng cần chú ý giữ nguyện vẹn phần đuôi của tắc kè. Các loại rượu  tắc kè nói trên nhìn chung đều có tính ôn ấm để trợ dương và bổ khí, cho nên những người cao huyết áp hoặc đang mắc các bệnh ngoại cảm phát sốt thì không nên sử dụng.

                                                                                 Hoàng Khánh Toàn








Tự xoa bóp chữa hội chứng ống cổ tay

TỰ XOA BÓP TRỊ HỘI CHỨNG ỐNG CỔ TAY

     Hội chứng ống cổ tay là một trong những chấn thương thầm lặng liên quan đến công việc nhiều nhất, khiến hơn 2 triệu người phải tìm đến bác sĩ hàng năm ở Mỹ. Ở nước ta, số người mắc bệnh này cũng khá cao và đang có xu hướng gia tăng. Triệu chứng điển hình của hội chứng ống cổ tay là đau, tê nhức như kim châm ở các ngón tay, đặc biệt là ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa và phần nửa ngoài ngón nhẫn. Đau có thể lan lên lòng bàn tay, cổ tay và cẳng tay, nhất là về đêm. Bệnh nhẹ cảm thấy tê buốt như bị kim châm ở bàn tay, nặng hơn thì thấy đau nhiều, có khi bỏng rát và nhức nhối cả cẳng tay và cánh tay, tay yếu và tê cứng. Bệnh lâu ngày có thể gây teo cơ ô mô cái khiến khả năng cầm nắm yếu đi. Để dự phòng tích cực và hỗ trợ trị liệu chứng bệnh này người bệnh nên thực hành một số thao tác tự xoa bóp sau đây :
- Xát hai lòng bàn tay vào nhau, dùng lòng bàn tay bên này xát mu bàn tay bên kia sao cho nóng lên là được. Tiếp đó dùng các ngón tay bên này vê từng ngón tay bên kia và ngược lại.
- Dùng ngón tay cái day các huyệt Bát tà, mỗi huyệt chừng nửa phút. Vị trí huyệt  Bát tà : nằm ở kẽ ngón tay, trên đường tiếp giáp da gan tay và mu tay, ngang với khe khớp xương bàn tay và ngón tay.
- Dùng ngón tay cái day ấn huyệt Hợp cốc trong 1 phút với một lực vừa phải. Vị trí huyệt Hợp cốc : ở chỗ lõm giữa xương bàn tay thứ nhất và thứ hai (ngón cái và ngón trỏ), dùng ngón tay cái ấn men theo bờ xương bàn tay thứ hai tìm điểm khi ấn có cảm giác đau tức lan sang ngón tay út thì đó là vị trí của huyệt.
- Dùng ngón tay cái day ấn các huyệt Dương trì (tại khớp cổ tay phía mu, thẳng từ ngón nhẫn lên, gần mắt cá tay), Ngoại quan (từ Dương trì đo lên 2 thốn) và Nội quan (từ điểm giữa nếp gấp cổ tay đo lên 2 thốn, ở giữa hai gân cơ gan tay lớn và gan tay bé), mỗi huyệt nửa phút với một lực vừa phải.
- Dùng ngón tay cái day ấn huyệt Khúc trì (ở đầu lằn chỉ của nếp gấp khuỷu tay khi co khuỷu tay vào) và huyệt (ở dưới huyệt Khúc trì 2 thốn), mỗi huyệt nửa phút với một lực vừa phải.
- Dùng tay nọ bóp tay kia từ vai trở xuống đến bàn tay trong 1 phút với một lực tương đối mạnh. Tiếp đó dùng tay trái nắm cẳng tay phải, nắm hờ bàn tay phải rồi vận động gấp, duỗi và xoay khớp cổ tay từ trái sang phải và ngược lại trong nửa phút, đổi bên làm tiếp như vậy với khớp cổ tay trái. Dùng bàn tay trái nắm từng ngón tay của bàn tay phải rồi kéo với một lực khá mạnh sao cho phát ra tiếng kêu là được, đổi bên làm tiếp như vậy với các ngón tay của bàn tay trái.
- Vận động gấp, duỗi và xoay khớp khuỷu, khớp vai trong 1 phút. Cuối cùng là thực hiện động tác vẩy tay : đứng thẳng, hai chân giang rộng bằng vai, thả lỏng toàn thân, đồng thời đưa hai tay về phía trước sao cho ngón tay cái ngang bằng rốn (tạo với cơ thể một góc 45 độ), tiếp đó đưa tay xuống và ra sau sao cho ngón út không vượt quá mông, cứ làm đi làm lại như vậy trong 2 phút.
     Để phòng bệnh, cần cho các cơ bắp nghỉ ngơi thư giãn, thường xuyên xoa bóp để tăng tưới máu cho các nhóm cơ vùng vai, cổ và tay. Thường xuyên tập thể dục, nhất là với những người mà công việc bắt buộc phải ngồi nhiều, hoặc phải thực hiện những thao tác lặp đi lặp lại ở cổ tay. Khi làm việc, cần chọn tư thế hợp lý, ghế ngồi phải vừa tầm, mông cao hơn gối, lưng thẳng hay hơi ngả ra sau, tựa thắt lưng vào lưng ghế có ụ nhô ngang thắt lưng, hai chân chấm đất trong tư thế vững vàng nhưng thoải mái. Màn hình máy tính nên đặt ngang bằng hoặc thấp hơn tầm mắt một chút. Khi làm việc, những ngón tay có thể cong nhẹ hoặc duỗi ra mà không cần phải vặn cổ tay. Bàn phím tốt nhất nên đặt thẳng hoặc thấp hơn khuỷu tay. Thực hiện chế độ ăn giàu vitamin, đặc biệt là vitamin nhóm B.
                                                                                              Hoàng Khánh Toàn