Chủ Nhật, ngày 11 tháng 1 năm 2015

Quan niệm sai lầm về bất lực

NHỮNG QUAN NIỆM SAI LẦM
KHI DÙNG ĐÔNG Y TRỊ LIỆU BẤT LỰC


     Thường thì, khi lâm vào trạng thái bất lực ở các mức độ khác nhau, cánh “mày râu” hay tìm đến đông y để tư vấn và trị liệu. Đó là một thói quen tốt, bởi lẽ trong lĩnh vực này các biện pháp của y học cổ truyền tỏ ra có nhiều thế mạnh. Nhưng, điều đáng nói ở đây là, nhiều khi cả thầy thuốc và người bệnh đều bị mắc phải những quan niệm sai lầm không đáng có, từ đó dẫn đến hậu quả người bệnh thì “tiền mất tật mang”, còn thầy thuốc thì suy giảm uy tín. Vậy, những sai lầm đó là gì ?
     Trước hết, là quan niệm cho rằng : nguyên nhân của chứng bất lực chính là do “thận hư”. Vì nhiều lý do khác nhau, khi lâm vào trạng thái bất lực không ít bệnh nhân nghĩ ngay rằng : thận của mình quá kém và tự động đi tìm những vị thuốc đông y có tác dụng bổ thận tráng dương để trị liệu. Quan niệm này lại càng trở nên sâu sắc khi không may họ được tư vấn bởi các “lang băm” chính hiệu. Xét trên cả hai phương diện lý thuyết và thực tiễn thì điều đó là hết sức sai lầm.
     Theo y học cổ truyền, bất lực thuộc vào phạm vi chứng “dương nuy” mà nguyên nhân gây nên rất phức tạp như : tình chí uất kết (yếu tố tâm lý, tình cảm), ẩm thực bất điều (ăn uống không hợp lý), lục dâm xâm nhập (các yếu tố gây bệnh từ bên ngoài như hàn, thấp), phòng sự quá độ (sinh hoạt tình dục bừa bãi), niên cao thể nhược (tuổi cao sức yếu), cửu bệnh sở luỵ (bị bệnh lâu ngày), bẩm thụ tiên thiên bất túc (di truyền, tật bệnh từ nhỏ)...Những nguyên nhân này làm rối loạn công năng các tạng phủ, trực tiếp hoặc gián tiếp gây nên chứng dương nuy với nhiều loại hình bệnh lý khác nhau như Can khí uết kết, Can kinh thấp nhiệt, Tâm tỳ lưỡng hư, Khí trệ huyết ứ, Hàn ngưng can mạch, Khủng nộ thương thận, Thận dương hư tổn,   m hư hoả vượng và theo đó, biện pháp trị liệu cũng không giống nhau. Ví như, với thể bệnh bất lực do Tâm tỳ lưỡng hư  (hai tạng Tâm và Tỳ cùng hư tổn dẫn đến) thì phương thức trị liệu phải là Kiện tỳ dưỡng tâm, an thần định chí và lấy cổ phương Quy tỳ thang làm bài thuốc chủ đạo để gia giảm.
     Thực tế lâm sàng cho thấy, không ít người ở vào độ tuổi 20 - 40 lâm vào tình trạng bất lực nhưng cơ thể vẫn hoàn toàn khoẻ mạnh, không hề có các biểu hiện của hội chứng Thận hư (thận theo quan niệm của đông y) như đầu choáng mắt hoa, lưng đau gối mỏi, tai ù tai điếc, răng long tóc rụng...Phần lớn nguyên nhân gây nên bất lực ở họ là do yếu tố tâm lý tình cảm (tình chí uất kết) tác động trước hết đến các tạng như Can, Tâm và Tỳ, tạo nên những thể bệnh như Can khí uất kết, Tâm tỳ lưỡng hư...
     Thứ hai, là quan niệm cho rằng chỉ cần dùng những vị thuốc và bài thuốc có công dụng bổ thận tráng dương là có thể chữa khỏi bệnh bất lực, từ đó đi đến việc sùng bái thuốc tráng dương, cường dương. Quan niệm sai lầm thứ hai này là hệ quả tất yếu của quan niệm thứ nhất. Nhưng điều đáng nói là, trong khi bản thân người bệnh không có kiến thức chuyên môn và đang rất hoang mang thì một số "lang băm" và người kinh doanh đông dược lại vô tình hoặc cố ý khuếch đại một cách quá mức về công dụng của thuốc bổ thận tráng dương khiến cho "con bệnh" vì quá tin mà lạm dụng. Hậu quả là, bệnh trạng của người bệnh không những không được cải thiện mà có khi còn trở nên tồi tệ hơn, thậm chí dẫn đến những tác dụng phụ không mong muốn như căng thẳng thần kinh, mất ngủ, lở loét miệng, chảy máu chân răng, mụn nhọt, khô miệng, tăng huyết áp...Đối với những người bị bệnh bất lực do dùng tân dược để trị liệu cao huyết áp, bệnh lý mạch vành, đái đường... thì việc dùng nhầm hoặc lạm dụng các thuốc cường dương, ôn nhiệt là hết sức nguy hiểm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nếu dùng kéo dài thuốc tráng dương có thể gây ức chế sự hưng phấn của trục nội tiết Vùng dưới đồi - Tuyến yên - Tinh hoàn vốn có vai trò rất lớn trong việc cường dương. Hơn nữa, lạm dụng thuốc tráng dương có thể còn làm cho tuyến tiền liệt ở nam giới phì đại nhanh chóng và dễ dẫn đến trạng thái ung thư hoá.
     Cuối cùng, là quan niệm cho rằng khi bị bất lực thì không nên sinh hoạt tình dục (tuyệt dục). Đương nhiên, khi cơ thể suy yếu thì việc tiết dục là hết sức cần thiết để bảo tồn tinh khí và giữ gìn sức khoẻ. Một con ngựa què thì đừng cố bắt nó leo dốc, nhất là khi lại phải kéo một chiếc xe bánh vuông. Tuy nhiên, ngoại trừ những trường hợp bị bất lực ở mức độ nặng, nghĩa là không thể "hành sự" được, còn thì với mức độ nhẹ và vừa thì vẫn nên duy trì sinh hoạt tình dục với tần số thích hợp dù cho tỉ lệ thành công không cao. Điều này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng vì không chỉ có tác dụng giải toả về mặt tâm lý mà còn tạo ra những kích thích có tính hưng phấn rất cần cho sự phục hồi của bệnh trạng. Ngay cả với những trường hợp bất lực ở mức độ nặng nếu như không có sự gần gũi với người khác giơí, không có sự động viên, khích lệ, ve vuốt của người bạn đời thì dẫu cho thuốc có hay đến mấy kết quả trị liệu cũng rất hạn chế. Khi có ham muốn tình dục nhưng lại ở trong tình trạng một thời gian dài không phóng tinh thì sẽ phát sinh hậu quả "ức chế tình dục". Theo y học cổ truyền, việc ái ân có thể khơi thông ngũ tình, làm cho can khí thông suốt, tâm huyết điều đạt, tuyệt dục lâu ngày thì can khí không điều hoà, khí huyết ứ trệ, từ đó mà không đạt được mục đích dưỡng sinh. Bởi vậy, Cát Hồng, y gia trứ danh đời Tấn (Trung Quốc) đã nói : "Âm dương bất giao, thương dã", nghĩa là : không giao hợp thì sẽ gây thương tổn. Thiên "Liệt dương" sách Phùng thị cẩm nang bí lục (đời Thanh, Trung Quốc) viết : "Dương uỷ hữu khốn ư cửu khoáng, mạch đạo bế tuyệt. Cái lưu thuỷ bất ô, hộ xu bất hủ, vật chi thường giả...do đạo lộ chi dụ thân dụ cận, nhật viễn nhật sơ dã" (liệt dương có cái khó ở thảnh thơi lâu, đường mạch mất tiêu. Nói chung nước chảy không đục, cửa quay không mục, vật ấy bình thường...như thân như gần con đường, vừa xa vừa lạ). Cấm dục lâu ngày sẽ làm cho tinh huyết ứ tắc, dương vật không được nuôi dưỡng mà teo yếu đi. Sách Tố nữ kinh cũng viết :"Ngọc kinh bất động, tắc bích kỳ xá, ứng thường hành khí đạo dẫn" (dương vật bất động thì chết mất, phải thường thực hiện để nó khởi dậy).

                                                                                  Hoàng Khánh Toàn
    


KInh nghiệm dân gian chữa tự hãn

KINH NGHIỆM DÂN GIAN TRỊ LIỆU CHỨNG TỰ HÃN
  

     Tự hãn là chứng bệnh mà mồ hôi tự chảy ra ở toàn thân hay tại chỗ không phải vì hoạt động gắng sức, vì thời tiết nóng bức hay vì mặc quá nhiều quần áo...Theo y học hiện đại, tự hãn là một triệu chứng thường thấy trong nhiều bệnh lý như suy tuyến giáp, rối loạn thần kinh thực vật, thấp khớp, lao, hạ đường huyết, giai doạn hồi phục của một số bệnh truyền nhiễm...
     Trong y học cổ truyền, tự hãn được phân thành ba thể bệnh : (1) Dinh vệ bất hoà : vã mồ hôi nhiều kèm theo triệu chứng sợ gió, toàn thân đau nhức, có thể có cảm giác sốt nhẹ, đau đầu, đau gáy, mạch phù hoãn, rêu lưỡi trắng mỏng ; (2) Phế tỳ khí hư : có bệnh lý đường hô hấp mạn tính, nhất là bệnh lý hen suyễn, mệt mỏi như mất sức, mồ hôi vã ra nhiều ngay cả khi nghỉ ngơi, sắc mặt nhợt nhạt, ăn kém, chậm tiêu, dễ rối loạn tiêu hoá, mạch hư nhược, rêu lưỡi trắng mỏng ; (3) Lý nhiệt chưng bức : có cảm giác nóng bức phát sốt, vã mồ hôi toàn thân hay ở đầu, tay chân hoặc nửa người, môi khô miệng khát, mắt đỏ, thích uống nước lạnh, ngực bụng đầy tức, nóng lòng bàn tay và bàn chân, tinh thần bức bối, tiểu tiện sẻn đỏ, đại tiện táo kết, mạch hoạt sác hoặc trầm thực, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dính hoặc vàng khô.
     Về mặt trị liệu, ngoài việc sử dụng các biện pháp dùng thuốc hay không dùng thuốc theo quan điểm biện chứng luận trị, y học cổ truyền còn vận dụng những kinh nghiệm dân gian hết sức phong phú. Dưới đây, xin được giới thiệu một số ví dụ điển hình để bạn đọc có thể tham khảo và vận dụng khi cần thiết.

@ Day bấm huyệt
     Hàng ngày, dùng ngón tay cái hay ngón tay trỏ day bấm hai huyệt Quan nguyên và Khí hải theo chiều kim đồng hồ với một lực vừa phải, mỗi huyệt chừng 2 phút, nhằm mục đích ôn dương liễm hãn (làm phấn chấn dương khí mà cầm mồ hôi). Vị trí huyệt Quan nguyên : lấy ở điểm nối 3/5 trên và 2/5 dưới của đoạn nối rốn và điểm giữa bờ trên xương mu. Vị trí huyệt Khí hải : lấy ở điểm nối 1,5/5 trên với 3,5/5 dưới của đoạn nối rốn và điểm giữa bờ trên xương mu.

@ Thuốc sắc
     Có thể dùng một trong những bài thuốc : (1) phù tiểu mạch 30g, ma hoàng căn 9g, sắc kỹ, chia uống hai lần sáng và chiều ; (2) Đậu đen 100g, táo đỏ 20 quả, hoàng kỳ 50g, sắc uống ; (3) Nhân sâm 5g, hoàng kỳ 20g, bạch truật 12g, cam thảo 6g, ngũ vị tử 8g, sắc uống ; (4) Phù tiểu mạch 50g, long nhãn 12g, táo đỏ 6 quả, cam thảo 10g, sắc uống ; (5) Mộc nhĩ 20g, lá dâu 30g, đại táo 6 quả, sắc uống ; (6) Nhân sâm 9g, hoàng kỳ 9g, bạch truật 9g, bạch linh 9g, táo nhân 9g, bạch thược 9g, thục địa 9g, sinh mẫu lệ 9g, ô mai 9g, phù tiểu mạch 12g, đại táo 6 quả, sắc uống.

@ Trà dược
     Có thể chọn dùng một trong những loại trà dược : (1) Lá trà 3g, bạch truật 12g,  hoàng kỳ 15g, phù tiểu mạch 25g, cam thảo 3g ; (2) Bạch nhân sâm 6g, liên nhục 10g, đường phèn vừa đủ ; (3) Thái tử sâm 15g, bách hợp 15g, sa sâm 15g, kẹo mạch nha 50g ; (4) Kỷ tử 20g, ngũ vị tử 9g. Cách dùng : Tất cả các vị thuốc trong mỗi loại trà dược đều sấy khô, tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 - 20 phút là có thể dùng được, uống thay trà trong ngày.

@ Thuốc bột
     Dùng nhân sâm 10g, mạch môn 15g, ngũ vị tử 15g, ba thứ sấy khô, tán bột, đựng trong lọ kín dùng dần, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g với nước ấm. Công dụng : ích khí sinh tân, liễm âm chỉ hãn. Đây chính là bài thuốc cổ Sinh mạch ẩm hay còn gọi là Sinh mạch tán, trong đó Nhân sâm bổ phế ích khí và làm sinh dịch mới, Mạch môn dưỡng âm thanh phế, ngũ vị tử bổ ích tâm khí, liễm phế và cầm mồ hôi, ba vị hợp dùng : một bổ, một thanh, một liễm làm cho phần khí được hồi phục, phần âm được bổ sung và mồ hôi không vã ra nữa.

@ Món ăn - bài thuốc (dược thiện)
     Có thể chọn dùng một trong những món ăn - bài thuốc : (1) Tim lợn 1 quả, hoàng kỳ 15g. Tim lợn bổ đôi rồi cho hoàng kỳ vào trong, dùng chỉ khâu kín lại, đem hầm chín ăn ; (2) Thịt gà 250g, phù tiểu mạch 30g, ngũ vị tử 10g. Thịt gà rửa sạch, thái miếng rồi đem hầm với phù tiểu mạch và ngũ vị tử, khi chín chế thêm gia vị, dùng làm canh ăn ; (3) Hoàng kỳ 30g, táo đỏ 5 quả, gạo tẻ 100g. Sắc kỹ hoàng kỳ, lấy nước bỏ bã rồi cho gạo tẻ và táo đỏ vào nấu nhừ thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày ; (4) Cá trạch 5 con, gừng tươi 5 lát, hoàng kỳ 25g, đẳng sâm 25g, hoài sơn 50g, táo đỏ 5 quả. Cá trạch làm sạch, rán vàng rồi đem hầm cùng các vị thuốc, khi chín chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.

@ Đắp thuốc
     Chọn dùng một trong những phương pháp đắp thuốc : (1) Ngũ bội tử và long cốt nung lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, dùng lượng vừa đủ trộn với nước chín rồi đắp vào rốn, bên ngoài cố định bằng băng keo ; (2) Ngũ bội tử 20g, phèn phi 15g, hai thứ sấy khô, tán bột, mỗi lần dùng 3g trộn với nước chín rồi đắp vào rốn, bên ngoài cố định bằng băng keo ; (3) Ngũ bội tử, ngũ vị tử và phù tiểu mạch lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, mỗi lần lấy một ít trộn với nước chín rồi đắp vào rốn ; (4) Uất kim 30g, ngũ bội tử 9g, hai thứ sấy khô, tán bột, mỗi lần lấy 10 - 15g trộn với mật ong rồi đắp vào hai đầu vú, cố định bên ngoài bằng băng keo.

@ Tắm thuốc (dược dục)
     Có thể chọn dùng một trong những cách tắm thuốc : (1) Mạch môn 30g, ngải cứu 30g, ngũ vị tử 50g, hoàng bá 40g. Các vị sắc kỹ lấy nước bỏ bã, chế thêm nước nguội rồi tắm ngâm toàn thân hoặc bộ phận nơi kín gió ; (2) Hoàng kỳ 150g, ma hoàng căn 120g, bạch truật 100g, phòng phong 100g, bạch chỉ 100g, ngải cứu 100g. Tất cả sắc kỹ trong 30 phút, bỏ bã lấy nước, chế thêm nước nguội rồi tắm ngâm toàn thân hoặc bộ phận chừng 20 phút, mỗi ngày 2 lần ; (3) Hoàng bá 30g, long cốt 30g, phèn chua 10g, ngũ bội tử 15g, uất kim 15g, hòe hoa 15g. Tất cả đem sắc kỹ trong 30 phút, đổ ra chậu, trước xông hơi sau ngâm rửa bộ phận hay đổ mồ hôi chừng 30 phút, mỗi ngày làm 2 lần sáng và chiều.

@ Cứu huyệt
     Chọn dùng một trong hai cách : (1) Dùng điếu ngải cứu huyệt Âm khích trong 30 phút, mỗi ngày 1 lần. Cách làm điếu ngải : lấy lá ngải cứu phơi khô trong bóng râm, cho vào cối giã thật mịn, loại bỏ gân xơ rồi dùng giấy mỏng cuốn thành từng điếu như cuốn thuốc lá. Vị trí huyệt Âm khích : dùng ngón tay cái đặt trên lằn chỉ cổ tay ngay dưới ô mô út thấy có một cục cứng, đó là xương đậu, từ đây đo lên phía trên cẳng tay 0,5 tấc để lấy huyệt ; (2) Hoàng kỳ 20g, ngũ bội tử 10g, phù tiểu mạch 10g, phòng phong 15g, bạch truật 20g, uất kim 10g. Tất cả tán mịn, lấy lượng vừa đủ trộn với rượu trắng rồi đắp lên rốn và huyệt Khí hải, tiếp đó đốt điếu ngải cứu lên phía trên, mỗi huyệt chừng 30 phút, mỗi ngày 1 lần.
     Có thể nói, kinh nghiệm dân gian để chữa chứng tự hãn là hết sức phong phú. Để thu được hiệu quả cao và bền vững, khi trị liệu tùy theo điều kiện nên chọn dùng từ 2 - 3 phương pháp hoặc hơn. Điều cần lưu ý là phải  thực hành đúng kỹ thuật và thật sự kiên trì.

                                                                               Hoàng Khánh Toàn


Nấm, thức ăn và dược phẩm

NẤM ĂN - THỰC PHẨM NGON VÀ DƯỢC LIỆU QUÝ


     Theo phong tục ẩm thực cổ truyền, dù giàu hay nghèo, trên mâm cỗ ngày Tết của người Việt không thể thiếu một vài món ăn được chế biến từ nấm. Thông dụng nhất vẫn là nấm hương và mộc nhĩ. Giò xào không thể thiếu mộc nhĩ, canh măng lưỡi lợn không thể thiếu nấm hương... Thường thì người ta hay dùng chúng làm nguyên liệu phụ cho các món ăn, trước là để làm tăng thêm màu sắc hấp dẫn, sau là để tạo nên hương vị thơm ngon và cảm giác dai dai hoặc sần sật hết sức thú vị khi thưởng thức.
     Ngày nay, khi kinh tế ngày càng phát triển, mức sống dần được cải thiện thì người ta lại càng có cơ hội để thưởng thức các món ăn được chế biến từ nấm. Trên thị trường, các chủng loại nấm ăn ngày càng trở nên phong phú, ngoài các thứ nấm được trồng hái trong nước như nấm hương, mộc nhĩ đen, nấm rươm, nấm mỡ...thương nhân còn tìm cách nhập thêm các loại nấm từ nước ngoài như nấm chân gà, nấm đầu khỉ, nấm kim châm, mộc nhĩ trắng...để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng. Tuy nhiên, người ta quý nấm, ăn nấm, nhưng không phải ai cũng tường tận về giá trị dinh dưỡng của nấm, lại càng không biết hết công dụng chữa bệnh, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ rất đặc sắc của chủng loại thực phẩm quý giá này.

 @ Nấm ăn là gì ?

     Nấm ăn là những loại nấm lớn, không độc hại, được con người dùng làm thực phẩm từ rất lâu đời. Ví như, ở Trung Quốc, nấm hương được biết đến từ thời Xuân thu Chiến quốc và  đã được các y thư cổ đáng giá là thứ "vô diệp, vô nha, vô hoa, tự thân kết quả ; khả thực, khả bổ, khả dược, châu thân thị bảo" (không lá, không chồi, không hoa, tự thân kết quả, ăn được, bồi bổ được, có thể dùng làm thuốc, toàn thân đều quý giá).
     Trong giới sinh vật có gần 7 vạn loài nấm, nhưng chỉ có hơn 100 loài có thể ăn hoặc làm thuốc được, thông dụng nhất là mộc nhĩ đen, ngân nhĩ, nấm hương, nấm mỡ, nấm rơm, nấm kim châm, nấm kim phúc, nấm chân gà, nấm đầu khỉ, nấm bình, nấm linh chi, nấm bạch linh, nấm trư linh...Ngoài nguồn thu hái từ thiên nhiên, hiện nay người ta đã trồng được hơn 60 loài theo phương pháp công nghiệp với năng suất cao. Nhiều nhà khoa học cho rằng, nấm ăn sẽ là một trong những loại thực phẩm rất quan trọng và thông dụng của con người trong tương lai.

@ Nấm ăn có công dụng gì ?

     Ngoài giá trị cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, nấm ăn còn có tác dụng dược lý khá phong phú như :
      (1) Tăng cường công năng miễn dịch của cơ thể với vai trò của các polysaccharide có trong thành phần có khả năng hoạt hoá miễn dịch tế bào, thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của tế bào lympho và kích hoạt tế bào lympho T và lympho B. Nấm linh chi, nấm vân chi, nấm đầu khỉ và mộc nhĩ đen còn có tác dụng nâng cao năng lực hoạt động của đại thực bào. Nấm hương và nấm vân chi có khả năng thúc đẩy hoạt tính của bổ thể.
      (2) Kháng ung và kháng vi rút. Trên thực nghiệm, hầu hết các loại nấm ăn đều có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư. Với nấm hương, nấm linh chi và nấm trư linh, tác dụng này đã được khảo sát và khẳng định trên lâm sàng. Nhiều loại nấm ăn có công năng kích thích cơ thể sản sinh interferon nhờ đó ức chế được quá trình sinh trưởng và lưu chuyển của vi rút.
      (3) Dự phòng và trị liệu các bệnh tim mạch. Nấm ăn có tác dụng điều tiết công năng tim mạch, làm tăng lưu lượng động mạch vành, hạ thấp lượng ôxy tiêu thụ và cải thiện tình trạng thiếu máu cơ tim. Các loại nấm như ngân nhĩ (mộc nhĩ trắng), mộc nhĩ đen, nấm đầu khỉ, nấm hương, đông trùng hạ thảo...đều có tác dụng điều chỉnh rối loạn lipid máu, làm hạ lượng cholesterol, triglycerid và bêta - lipoprotein trong huyết thanh. Ngoài ra, nấm linh chi, nấm mỡ, nấm rơm, nấm kim châm, ngân nhĩ, mộc nhĩ đen còn có tác dụng làm hạ huyết áp.
      (4) Giải độc và bảo hộ tế bào gan. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhiều loại nấm ăn có tác dụng giải độc và bảo vệ tế bào gan rất tốt. Ví như, nấm hương và nấm linh chi có khả năng làm giảm thiểu tác hại đối với tế bào gan của các chất như carbon tetrachlorid, thioacetamide và prednisone, làm tăng hàm lượng glucogen trong gan và hạ thấp men gan. Nấm bạch linh và trư linh có tác dụng thẩm thấp lợi niệu, kiện tỳ an thần, thường được dùng trong những đơn đông dược điều trị viêm gan cấp tính.
      (5) Kiện tỳ dưỡng vị. Nấm đầu khỉ có khả năng lợi tạng phủ, trợ tiêu hoá, có tác dụng rõ rệt trong trị liệu các chứng bệnh như chán ăn, rối loạn tiêu hoá, viêm loét dạ dày tá tràng. Nấm bình có tác dụng ích khí sát trùng, có khả năng phòng chống viêm gan, viêm loét dạ dày tá tràng, sỏi mật. Nấm kim châm và nấm kim phúc chứa nhiều arginine có công dụng phòng chống viêm gan và loét dạ dày.
      (6) Hạ đường máu và chống phóng xạ. Khá nhiều loại nấm ăn có tác dụng làm hạ đường máu như ngân nhĩ, đông trùng hạ thảo, nấm linh chi...Cơ chế làm giảm đường huyết của đông trùng hạ thảo là do loại nấm này có khả năng kích thích tuyến tuỵ bài tiết insulin. Ngoài công dụng điều chỉnh đường máu, các polysaccharide B và C trong nấm linh chi còn có tác dụng chống phóng xạ.
      (7) Thanh trừ các gốc tự do và chống lão hoá. Gốc tự do là các sản phẩm có hại của quá trình chuyển hoá tế bào. Nhiều loại nấm ăn như nấm linh chi, mộc nhĩ đen, ngân nhĩ...có tác dụng thanh trừ các sản phẩm này, làm giảm chất mỡ trong cơ thể và từ đó có khả năng làm chậm quá trình lão hoá và kéo dài tuổi thọ.
     Ngoài ra, nhiều loại nấm ăn còn có tác dụng an thần, trấn tĩnh, rất có lợi cho việc điều chỉnh hoạt động của hệ thống thần kinh trung ương. Gần đây, nhiều nhà khoa học còn phát hiện thấy một số loại nấm ăn còn có tác dụng phòng chống bệnh AIDS ở một mức độ nhất định thông qua khả năng nâng cao năng lực miễn dịch của những bệnh nhân bị mắc căn bệnh thế kỷ này.

@ Một số loại nấm ăn điển hình

     * Nấm hương :  Còn gọi là đông cô, hương cô, hương tín, hương tẩm...được mệnh danh là "hoàng hậu thực vật", là "vua của các loại rau" (can thái chi vương). Cứ trong 100g nấm hương khô có chứa từ 12 - 14g protein (vượt xa so với nhiều loại rau khác), chừng 60g carbon hydrate, rất nhiều các nguyên tố vi lượng, trong đó đặc biệt là Ca và P. Ngoài ra, trong nấm hương còn có hơn 30 loại men hữu cơ, 18 loại acid amin và nhiều loại vitamin như B1, B2, B12, C, D...Theo dinh dưỡng học cổ truyền, nấm hương vị ngọt, tính bình, có công dụng bổ tỳ ích khí, dưỡng huyết hoà huyết, tiêu đàm kháng ung. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, nấm hương có tác dụng điều tiết chuyển hoá, tăng cường năng lực miễn dịch của cơ thể, ức chế tế bào ung thư, hạ huyết áp, giảm cholesterol máu, phòng ngừa sỏi mật và sỏi tiết niệu, trợ giúp tiêu hoá...Đây là thức ăn lý tưởng cho những người bị thiếu máu do thiếu sắt, cao huyết áp, đái đường, rối loạn lipid máu, trẻ em suy dinh dưỡng
   * Nấm rơm :  Còn gọi là bình cô, lan hoa cô, ma cô..., là một trong những loại nấm ăn đ­ợc sử dụng rất rộng rãi, có giá trị dinh dưỡng khá cao. Trong 100g nấm rơm khô có tới 37,13g protein (cao gấp hơn 2 lần nấm h­ương), 2,1g lipid, 9,9g glucid, rất nhiều các nguyên tố vi lư­ợng nh­ư Ca, Fe, P...và vitamin B1, B2, A..., đặc biệt là vitamin C (trong 100g nấm rơm tư­ơi có tới 158,44 mg). Ngoài ra, còn chứa hơn 20 loại acid amin, cao hơn so với thịt bò, sữa bò và đậu tư­ơng, trong đó có 7 loại acid amin mà cơ thể con ngư­ời không tổng hợp đư­ợc. Theo dinh dư­ỡng học cổ truyền, nấm rơm vị ngọt, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt giải thử, dư­ỡng âm sinh tân, là thực phẩm lý tư­ởng trong mùa hè. Theo dinh dư­ỡng học hiện đại, nấm rơm là thức ăn rất tốt cho những ng­ười bị cao huyết áp, rối loạn lipid máu, vữa xơ động mạch, đái đ­ường, ung thư­ và các bệnh lý động mạch vành tim.
   * Nấm mỡ :  Còn gọi là nhục tẩm, bạch ma cô, dư­ơng ma cô..., cũng là một trong những loại nấm có giá trị dinh d­ưỡng cao. Trong 100g nấm mỡ t­ươi có chứa 2,9g protid (100g khô chứa 36 - 38g), 0,2g lipid, 2,4g glucid, nhiều nguyên tố vi lư­ợng nh­ Ca, Fe, P...và các vitamin nh­ư B1,B2, B6, C, D, E, K...Theo dinh dư­ỡng học cổ truyền, nấm mỡ vị ngọt, tính mát, có công dụng bổ tỳ ích khí, nhuận phế hoá đàm, lý khí tiêu thực. Kết quả nghiên cứu dư­ợc lý hiện đại cho thấy, nấm mỡ có tác dụng làm giảm đư­ờng và cholesterol máu, phòng chống ung th­ư và cải thiện chức năng gan. Bởi vậy, đây là loại thực phẩm rất thích hợp cho những ngư­ời bị ung thư­, đái đ­ường, tăng cholesterol máu, cao huyết áp, giảm bạch cầu và viêm gan.
   * Ngân nhĩ :  Còn gọi là mộc nhĩ trắng, bạch mộc nhĩ, nấm bạc, bạch nhĩ tử..., cũng là một loại nấm khá giàu chất dinh d­ưỡng. Trong 100g ngân nhĩ có chứa 6,7 - 10g protid, 0,6 - 1,28g lipid, 64,9 - 71,2g glucid, nhiều nguyên tố vi lư­ợng nh­ Ca, P, Mg, S, K, Fe, Na...và các vitamin B1, B2...Theo dinh dư­ỡng học cổ truyền, ngân nhĩ vị ngọt, tính bình, có công dụng tư­ âm nhuận phế, d­ưỡng vị sinh tân, d­ưỡng nhan nhuận phu. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, loại nấm này có tác dụng tăng c­ường khả năng miễn dịch của cơ thể, nâng cao năng lực tạo máu của tuỷ xư­ơng, cải thiện chức năng của gan và thận, thúc đẩy quá trình tổng hợp protid trong gan, làm giảm cholesterol máu, chống phù và chống phóng xạ. Bởi vậy, ngân nhĩ là thực phẩm rất tốt cho những ngư­ời bị suy nh­ợc cơ thể, suy nhược thần kinh, bị các bệnh lý đ­ường hô hấp, cao huyết áp, thiểu năng tuần hoàn não...
   * Mộc nhĩ đen :  Còn gọi là vân nhĩ, thụ kê, mộc nhu, mộc khuẩn...Mộc nhĩ đen có chứa nhiều protid, chất khoáng và vitamin. Trong 100g khô có 10,6g protid, 0,2g lipid, 65,5g glucid, nhiều nguyên tố vi lượng như­ Ca, P...đặc biệt là hàm lư­ợng Fe rất cao so với nhiều loại thực phẩm giàu chất sắt khác như­ rau cần, vừng, gan lợn...Theo dinh d­ưỡng học cổ truyền, mộc nhĩ đen vị ngọt, tính bình, có công dụng l­ương huyết chỉ huyết, ích khí dư­ỡng huyết, nhuận phế ích vị, nhuận táo lợi tràng. Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, mộc nhĩ đen có khả năng ức chế quá trình ngư­ng tập tiểu cầu, phòng chống tình trạng đông máu do nghẽn mạch, ngăn cản sự hình thành các mảng vữa xơ trong lòng huyết quản. Ngoài ra, loại thực phẩm này còn có tác dụng chống lão hoá, chống ung thư­ và phóng xạ. Bởi vậy, mộc nhĩ đen là thực phẩm lý t­ưởng cho những ngư­ời bị cao huyết áp, vữa xơ động mạch, thiểu năng tuần hoàn não, thiểu năng động mạch vành và ung th­ư.
   * Nấm đầu khỉ :  Còn gọi là thích vị khuẩn, hầu đầu ma, đối liễm khuẩn...là một trong những loại nấm có giá trị dinh dưỡng rất cao, được ẩm thực cổ truyền phương Đông đánh giá ngang với yến sào, hải sâm và tay gấu. Trong 100g nấm đầu khỉ khô có chứa 26,3g protid, 4,2g lipid, 44,9g glucid, rất nhiều nguyên tố vi lượng và vitamin, có tới 17 loại acid amin. Theo dinh dưỡng học cổ truyền, nấm đầu khỉ vị ngọt, tính bình, có công dụng kiện tỳ ích vị, bổ trợ tiêu hoá, tư âm tráng dương, bổ ích ngũ tạng. Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, loại nấm này đặc biệt tốt cho những người bị viêm loét dạ dày hành tá tràng và có tác dụng điều trị hỗ trợ trong các trường hợp ung thư đường tiêu hoá với hiệu quả khá tốt, làm giảm rõ rệt các tác dụng phụ của hoá trị liệu và phóng xạ trị liệu.
   * Nấm kim châm :   Còn gọi là phác cô, kim cô...là loại nấm ăn hàm chứa nhiều chất dinh dưỡng không thua kém gì các loại nấm khác. Trong 100g nấm kim châm khô có chứa tới 31,2g protid, 5,8g lipid, nhiều loại vitamin như B1, B2, C, PP, E..., các acid amin cũng hết sức phong phú, trong đó đặc biệt có nhiều lysine, một acid amin rất cần cho sự phát triển trí tuệ của trẻ em. Hơn nữa, hàm lượng kẽm trong nấm kim châm cũng rất cao, cho nên loại nấm ăn này còn được gọi là "Tăng trí cô" (nấm tăng cường trí lực). Ngoài ta, nấm kim châm còn có tác dụng làm hạ mỡ máu, phòng chống các bệnh lý viêm loét đường tiêu hoá và bệnh gan mật. Loại nấm này được người Nhật rất ưa dùng vì năng lực ức chế tế bào ung thư của nó rất cao.
  
                                                                                   Hoàng Khánh Toàn


Diện phu liệu pháp

LÀM ĐẸP DA MẶT BẰNG DIỆN PHU LIỆU PHÁP


     Xuân sang đất trời thay da đổi thịt, con người cũng muốn đẹp hơn. Phương ngôn có câu : “Hiền đức toạ tâm, anh hoa toạ diện”, nghĩa là cái đức luôn ở trong tâm mỗi người, còn cái đẹp và sự tinh anh thường hiện lên ở khuôn mặt. Lại có câu : “Nhất dáng nhì da”, đủ nói lên làn da của cơ thể nói chung và của khuôn mặt nói riêng có ý nghĩa rất lớn đối với sắc đẹp của con người, nhất là đối với phụ nữ. Vả lại, sự cân đối và hài hoà của khuôn mặt là do tạo hoá quyết định, không dễ gì thay đổi, duy chỉ có làn da là có thể cải thiện được mà thôi. Bởi vậy, từ xưa đến nay, y học thẩm mỹ phương Đông hay phương Tây đều rất chú trọng đến việc làm cho da mặt thêm khoẻ mạnh  và tươi đẹp.
     Y học thẩm mỹ phương Đông làm đẹp da mặt bằng nhiều cách như dùng thuốc (uống, rửa, xông, xoa...), châm cứu, xoa bóp bấm huyệt, tập luyện dưỡng sinh, ẩm thực thẩm mỹ..., trong đó có một phương pháp rất độc đáo được gọi là Diện phu liệu pháp (DPLP), tạm gọi là liệu pháp xoa đắp mặt. Từ xa xưa, ở phương Đông, cách làm đẹp da mặt này đã được sử dụng rất rộng rãi từ nơi thôn quê dân dã cho đến chốn cung đình quyền quý. Nhiều mỹ nhân nổi tiếng trong lịch sử như Dương Quý Phi, Từ Hy Thái Hậu... cũng đã rất say mê làm đẹp bằng DPLP với những phương thuốc bí truyền.
     Dương Quý Phi, tên gọi Ngọc Hoàn, là người Vĩnh Lạc, Bồ Châu (nay là huyện Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc). Nàng nổi tiếng bởi sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành lại hát hay, đàn giỏi, thông hiểu âm luật nên được Hoàng Đế đương triều Đường Huyền Tông vô cùng sủng ái. Vẻ đẹp của nàng tuy do trời phú nhưng cũng có liên quan đến cách thức làm đẹp rất riêng của nàng với phương thuốc bí truyền dùng hạnh nhân (bỏ vỏ), hoạt thạch và bột nhẹ lượng bằng nhau, ba vị đem tán thành bột mịn, chưng qua, cho thêm một ít long não và xạ hương ròi hoà với lòng trắng trứng để thoa mặt hàng ngày.
     Từ Hy Thái Hậu là người có quyền lực vô biên vào cuối đời nhà Thanh (Trung Quốc). Bà không chỉ giỏi về mưu sâu kế cao thống trị thiên hạ mà còn rất xuất sắc trong thuật làm đẹp và có những bí quyết hết sức độc đáo. Tương truyền rằng, mỗi đêm trước khi đi ngủ, bà thường dùng lòng trắng trứng để thoa mặt rồi dùng nước ấm rửa sạch, sau đó lại dùng nước sắc đặc của kim ngân hoa xoa đều thành một màng mỏng. Sáng sớm hôm sau, sau khi rửa mặt bà lại dùng loại mỡ đặc biệt chế từ một loại hoa để xoa mặt trước khi tô son đánh phấn trang điểm. Từ Hy Thái Hậu còn thường dùng bột trân châu để thoa mặt khiến cho da dẻ luôn luôn mịn màng tươi tắn. Bởi thế, cho đến lúc có tuổi bà vẫn giữ được vẻ đẹp trẻ trung cho khuôn mặt như thời còn thanh xuân.
     Vậy, DPLP là gì ? Công dụng và cách dùng cụ thể ra sao ?...Bài viết này xin được giới thiệu một số nét cơ bản để bạn đọc có thể tham khảo và vận dụng.

@ Diện phu liệu pháp là gì ?

     Có thể hiểu đơn giản DPLP là phương pháp dùng dược vật hoặc thực phẩm dưới các dạng khác nhau để bôi, xoa, đắp trực tiếp lên da mặt nhằm mục đích phòng chống bệnh tật và làm đẹp. Dược vật xoa đắp là những dược liệu được dùng dưới dạng còn tươi giã nát, dịch chiết, cao thuốc hoặc bột thuốc hoà với nước, rượu, dấm, sữa tươi, mật ong hay dầu thực vật. Thực phẩm xoa đắp có thể là bột gạo, cám gạo, trứng gà, sữa tươi, các loại rau quả như chuối tiêu, dưa chuột, mướp, dưa hấu, cà chua, củ cải, cà rốt, chanh, nho, dứa...Diện phu liệu pháp thuộc phạm vi ngoại trị pháp của y học cổ truyền.

@ Diện phu liệu pháp có từ bao giờ ?

     Trong lịch sử y học cổ truyền phương Đông, DPLP đã được biết đến từ rất sớm. Theo ghi chép của các thư tịch cổ, vào thời kỳ Thương Chu (Trung Quốc), trong giáp cốt văn đã xuất hiện chữ “mạt”, sách Thuyết văn giải tự chú thích là : “Mạt, chính là rửa mặt vậy”. Thần nông bản thảo kinh, bộ sách dược học đầu tiên của y học cổ truyền, đã ghi chép cả thảy 365 vị thuốc, trong đó có mấy chục loại làm đẹp da mặt như bí đao, bạch chỉ, bạch cương tàm...Rồi lần lượt các y thư cổ khác như Hoàng đế nội kinh, Thương hàn luận, Chẩn hậu bách nhất phương, Bị cấp thiên kim yếu phương, Thiên kim dực phương, Ngoại đài bí yếu, Phổ tế phương, Bản thảo cương mục...đều đã bàn đến DPLP với những kiến giải rất sâu sắc. Trong các trước tác của mình, tuy không có chương mục riêng bàn về DPLP nhưng hai vị danh y nước ta Lê Hữu Trác và Tuệ Tĩnh cũng đã ghi lại khá nhiều bài thuốc dùng để xoa đắp mặt chữa các chứng bệnh ngoài da nói chung và da mặt nói riêng.

@ Cơ chế tác dụng của DPLP như thế nào ?

     Theo y học cổ truyền, tuỳ vào công năng của từng loại dược vật được dùng mà DPLP có tác dụng hoặc tư âm bổ huyết, kiện tỳ ích khí hoặc thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết hoá ứ, lợi thuỷ tiêu thũng..., chất thuốc trực tiếp thẩm thấu qua da hoặc tác động lên các huyệt vị châm cứu ở mặt làm cho khí huyết lưu thông, công năng các tạng phủ được điều hoà, từ đó mà đạt được mục đích nhuận phu (làm mềm da và chống khô da), tăng bạch (làm sáng và trắng da), duyệt dung hồng nhan (làm cho da tươi hồng), khứ trâu trừ ban (làm hết vết nhăn và vết thâm trên da)...
     Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, DPLP có tác dụng chống viêm, làm sạch da, tăng cường lưu lượng tuần hoàn tại chỗ, kích thích tế bào da phát triển, cải thiện sức chịu đựng của da trước các tác nhân bất lợi bên ngoài, làm chậm quá trình lão hoá của da..., từ đó làm cho da khoẻ mạnh và sáng đẹp.

@ Một số công thức DPLP điển hình

     * Công thức 1 :  Bạch chỉ 30g, bạch liễm 30g, bạch truật 30g, bạch cập 15g, bạch phụ tử 9g, bạch linh (bỏ vỏ) 9g, bạch tế tân 9g. Các vị sấy khô, tán thành bột mịn, đem hoà với lòng trắng trứng gà rồi nặn thành viên to bằng đầu ngón tay út, đựng trong lọ sứ dùng dần. Mỗi tối sau khi rửa mặt dùng nước ấm hoà với thuốc thành chất lỏng sệt bôi lên mặt thành một lớp mỏng, để chừng 60 phút rồi rửa sạch. Công dụng : Khu phong hoạt huyết , làm mềm và trắng da, phòng chống các vết nhăn trên da mặt.
     * Công thức 2 :  Hoa đào, hoa sen và hoa phù dung lượng bằng nhau. Mùa xuân lấy hoa đào, mùa hè lấy hoa sen, mùa thu lấy hoa phù dung, ba thứ rửa sạch, phơi hoặc sấy khô rồi đem tán thành bột thật mịn, đựng trong lọ kín để dùng dần. Mỗi tối, trước khi đi ngủ lấy lượng bột thuốc vừa đủ hoà với mật ong thành chất lỏng sền sệt rồi thoa đều lên da mặt thành một màng mỏng, để chừng 60 phút rồi dùng nước ấm rửa sạch. Công dụng : Thanh nhiệt tiêu viêm, hoạt huyết hoá ứ, làm cho da trắng mềm và ẩm, làm chậm quá trình lão hoá da và phòng chống các vết nhăn.
     * Công thức 3 :  Sừng hươu dạng kem 60g, sữa bò tươi 75g, bạch liễm 39g, xuyên khung 30g, thiên môn (bỏ ruột, nướng) 45g, bơ 90g, bạch chỉ 30g, bạch phụ tử 30g, bạch truật 30g, hạnh nhân 30g (ngâm nước, bỏ vỏ và hạt, nghiền nát thành dạng cao). Các vị thuốc sấy khô, tán bột, trộn với cao hạnh nhân rồi cho vào nồi nấu cùng bơ và sữa bò thành dạng cao thuốc. Mỗi tối, trước khi đi ngủ dùng cao thuốc bôi đều lên da mặt thành một màng mỏng, sáng hôm sau dùng nước ấm rửa sạch. Công dụng :  Khu phong hoạt huyết, nhuận da dưỡng da, phòng trừ vết nhăn và vết nám trên da mặt.
     * Công thức 4 :  Bạch phục linh lượng vừa đủ, sấy khô, nghiền thành bột thật mịn. Mỗi tối, trước khi đi ngủ lấy một lượng bột thuốc vừa đủ hoà đều với lòng trắng trừng gà thành dạng hồ rồi thoa đều lên mặt thành một màng mỏng, sáng hôm sau rửa sạch bằng nước ấm. Cũng có thể dùng mật ong để thay lòng trắng trứng. Công dụng :  Dưỡng da và làm trắng da, chủ trị chứng nám mặt và tàn nhang. Đây là mộổctng những phương thuốc làm đẹp da mặt rất đơn giản, dễ làm và hiệu nghiệm được lưu truyền rộng rãi trong dân gian và đã được ghi lại trong  nhiều sách thuốc cổ.
     * Công thức 5 :  Hạnh nhân lượng vừa đủ, bỏ vỏ, giã hoặc xay thật nhuyễn rồi trộn đều với lòng trắng trứng gà thành dạng cao lỏng. Mỗi tối, dùng cao thuốc này thoa đều lên mặt thành một màng mỏng, sau chừng 2 - 3 giờ thì dùng nước ấm rửa sạch. Công dụng : Hoạt huyết hóa ứ, nhuận da, làm da trắng mịn, phòng chống tàn nhang và trứng cá. Đây là một nghiệm phương cổ đã được ghi lại trong nhiều cuốn sách bàn về DPLP. Để nâng cao hiệu quả có thể gia thêm hoạt thạch lượng bằng hạnh nhân, một chút long não và xạ hương.
     * Công thức 6 :  Bí đao (đông qua) 1 quả, dùng dao bằng tre gọt bỏ vỏ xanh, thái mỏng rồi nấu với 1500 ml rượu và 1000 ml nước cho thật nhừ. Tiếp đó, dùng vải lọc bỏ bã, nấu cô thành dạng cao rồi cho thêm 600 ml mật ong, lại cô tiếp bằng lửa nhỏ cho đến khi tạo thành dạng cao đặc sệt vừa phải là được, đựng vào lọ sành, bịt kín miệng để dùng dần. Mỗi tối, trước khi đi ngủ, lấy một lượng cao thuốc vừa đủ thoa đều lên mặt thành một màng mỏng, sáng hôm sau rửa sạch bằng nước ấm. Công dụng : Thanh nhiệt nhuận da, trừ ban chống nám, làm cho da khoẻ và đẹp.
     * Công thức 7 :  Trứng gà 1 quả, mật ong 1 thìa, đập vỡ trứng vào bát đánh cho sủi bọt rồi cho mật ong vào quấy đều. Dùng nước ấm rửa mặt rồi lấy dịch thuốc thoa đều thành một màng mỏng, chờ cho khô (chừng 60 phút) thì dùng nước rửa sạch, mỗi tuần làm 2 lần. Công dụng : Dưỡng da, nhuận da. Nếu da dầu có thể cho thêm 1 thìa nước chanh. Sách Bách bệnh tự liệu diệu phương dùng bài này gia thêm 3 thìa sữa chua. Cũng có người dùng trứng gà, mật ong, bột mì và dầu thực vật làm thành bột thuốc nhão để đắp mặt dưới dạng mặt nạ.
     * Công thức 8 :  Bạch cúc hoa 30, bạch quả 30g, mật ong 30g, nước lê, sữa tươi và rượu nếp mỗi thứ nửa cốc. Trước tiên, cho cúc hoa vào nước lê và rượu nếp chưng lấy nước đặc, Tiếp đó, giã nát bạch quả rồi hoà với dịch thuốc, mật ong và sữa tươi thành dạng cao lỏng. Mỗi tối, dùng cao thuốc xoa đều lên mặt, sau chừng 60 phút thì dùng nước ấm rửa sạch. Công dụng : Thanh nhiệt giải độc, làm sạch da và dưỡng da.
     * Công thức 9 :  Bạch đinh hương, bạch cương tàm, bạch khiên ngưu, bạch tật lê, bạch cập, mỗi loại 110g, bạch chỉ 75g, bạch phụ tử 18g, bạch linh 18g, tạo giác 50g, một ít bột đậu xanh. Tạo giác bỏ vỏ, tước xơ rồi đem sấy khô cùng các vị thuốc khác, tất cả tán thành bột mịn, đựng trong lọ kín dùng dần. Mỗi tối, lấy một lượng thuốc vừa đủ hoà với nước ấm rồi thoa đều lên mặt thành một màng mỏng, sau chừng 30 phút thì rửa sạch. Công dụng :  Làm cho da sáng mịn và mềm mại, phòng chống vết nhăn, tàn nhang và trứng cá.

@ Những điều cần chú ý

     Có thể nói, DPLP là một phương pháp khá đơn giản, dễ học, dễ làm và ít tốn kém. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả như mong muốn cần chú ý lựa chọn dược liệu và thực phẩm cho chuẩn xác và có chất lượng. Các vị thuốc nên tìm mua tại các cơ sở đông dược có đăng ký và có uy tín để tránh thuốc giả và kém phẩm chất. Thêm nữa, khi dùng phải đúng cách và hết sức kiên trì, không nên dùng kết hợp với các mỹ phẩm hiện đại. Các vị thuốc tuy không hoặc rất ít độc hại và đã được kinh nghiệm của người xưa kiểm chứng trên thực tế hàng trăm năm nhưng vẫn rất cần phải thận trọng, khi dùng nếu thấy hiện tượng dị ứng thì phải ngừng ngay và được tư vấn bởi các thầy thuốc chuyên khoa.



                                                                               Hoàng Khánh Toàn  

Con dê làm thuốc

NĂM MÙI, NÓI CHUYỆN CON DÊ LÀM THUỐC


     Trong mươi năm gần đây, thịt dê bỗng trở thành một thực phẩm thời thượng, đặc biệt với cánh đàn ông. Ngoài việc thưởng thức các món ăn thông dụng chế từ thịt dê như dê tái chanh, dê nướng, dê xào lăn, lẩu nầm dê…người ta còn thi nhau uống rượu tiết dê, rượu dương hoàn, rượu cao dê toàn tính…với nhiều lý do khác nhau, trong đó có việc mong muốn cải thiện tình trạng "dương sự" suy yếu. Điều đó đã nói lên phần nào giá trị dinh dưỡng và chữa bệnh của các sản phẩm lấy từ con dê. Tuy nhiên, trong y học cổ truyền, dê còn có nhiều công dụng hơn người ta tưởng và khi dùng cũng có một số vấn đề cần phải hết sức lưu ý thì mới mong đạt được hiệu quả như mong muốn.
      Có thể nói, việc sử dụng thịt và các sản phẩm khác lấy từ con dê để chữa bệnh và nâng cao sức khỏe đã được ghi lại khá sớm trong các y thư cổ như Bản thảo cương mục, Bản thảo tái tân, Kim qũy yếu lược, Thiên kim phương, Ngoại đài bí yếu, Biệt lục, Nhật hoa tử bản thảo…Trong sách Lĩnh nam bản thảo, đại danh y Hải Thượng Lãn Ông viết :
                               “ Dương nhục tục gọi là thịt dê

                         Nóng nhiều, ngọt đắng, ích tâm tỳ

                                  Bổ hư lao lạnh, trừ kinh giản,
                                  Phong, đầu choáng, lưng đau, dương nuy.
      Trong số những gia súc gần gũi với con người, dê được thuần hoá khá sớm vào thời kỳ Đồ đá từ hai loại dê rừng Capra aegagerus và Capra falconeri. Tuy dê rừng và dê nhà có một số đặc điểm khác nhau, nhưng trên thực tế chữa trị bệnh tật, y học cổ truyền vẫn thường sử dụng chung cả hai loại. Các bộ phận được dùng gồm có thịt dê (dương nhục), da dê (dương bì), tim dê (dương tâm), gan dê (dương can), dạ dày dê (dương đỗ), phổi dê (dương phế), thận dê (dương thận), tinh hoàn dê (dương thạch tử), tuỵ dê (dương di), não dê (dương não), bàng quang dê (dương phao), tuyến giáp trạng dê (dương diệp), thai dê (dương thai), tiết dê (dương huyết), mật dê (dương đởm), mỡ dê (dương chi), xương dê (dương cốt), sữa dê (dương nhũ)…, thậm chí râu dê (dương tu), sỏi túi mật dê (dương hoàng) cũng được dùng làm thuốc.
      1 – Thịt dê
     Vị ngọt, tính ấm có công dụng bổ huyết ích khí, ôn trung noãn thận. Được dùng để chữa các chứng thiếu máu, gầy yếu, suy nhược cơ thể, chán ăn, đau bụng do hư hàn, thận dương hư gây nên đau lưng mỏi gối, liệt dương, di tinh, di niệu…Ví như, để chữa các chứng suy nhược cơ thể, đau bụng do hư hàn…sách Kim quỹ yếu lược dùng thịt dê 250g thái miếng hầm thật nhừ với 30g đương quy và 15g sinh khương rồi chắt nước cốt uống ; để chữa chứng tỳ vị hư nhược, chán ăn, nôn và buồn nôn do hư hàn sách Ẩm thực chính yếu  dùng thịt dê 250g thái vụn rồi nấu với 180g gạo thành cháo, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày ; để chữa chứng liệt dương, di tinh, di niệu, lưng đau gối mỏi do thận dương hư sách Thực y tâm kính dùng 250g thịt dê luộc chín, thái miếng, trộn dều với 15g tỏi giã nát và các gia vị khác vừa đủ rồi ăn…
       2 – Gan dê
     Vị ngọt, tính bình có công dụng bổ huyết ích can và làm sáng mắt. Được dùng để chữa các chứng thiếu máu, gầy còm, hoa mắt, suy giảm thị lực…do can hư. Ví như, để chữa chứng suy nhược cơ thể, hoa mắt chóng mặt, thanh manh, thị lực giám sút do can huyết hư, sách Bản thảo cương mục dùng gan dê 150g thái miếng  nấu với 50g gạo tẻ thành cháo, chế đủ gia vị, chia ăn vài lần trong ngày ; để chữa chứng can hoả vượng biểu hiện bởi các triệu chứng đau đầu, hoa mắt chóng mặt, mắt đỏ…cổ nhân dùng gan dê 60g, cúc hoa 10g, cốc tinh thảo 10g, tất cả sắc kỹ, bỏ bã lấy nước, chia uống 3 lần trong ngày.
      3 - Thận dê
     Còn gọi là nội thận, vị ngọt, tính bình, có công dụng bổ thận khí, ích tinh tuỷ. Được dùng dể chữa các chứng suy nhược cơ thể, lưng đau gối mỏi, tai ù tai điếc, di tinh, di niệu, liệt dương… do thận hư. Ví như, để chữa chứng liệt dương, xuất tinh sớm…cổ nhân dùng thận dê 1 đôi làm sạch thái miếng, đem hầm với nhục thung dung 12g, kỷ tử 10g, thục địa 10g và ba kích 8g được gói trong túi vải, khi chín bỏ bã thuốc, chế thêm gia vị, ăn nóng ; để chữa chứng gầy yếu suy nhược, tai ù tai điếc, di tinh, liệt dương, hậu sản hư lãnh, cổ nhân dùng thận dê 100g, thịt dê 100g, kỷ tử 50g, gạo tẻ 50g, gia vị vừa đủ, tất cả đem nấu thành cháo, chia ăn vài lần ; để chữa chứng đau lưng mạn tính, sách Trửu hậu bị cấp phương dùng thận dê 1 đôi thái miếng hầm với đậu đen 60g, đỗ trọng 12g, tiểu hồi hương 3g, sinh khương 3 lát, khi chín bỏ bã thuốc, chế thêm gia vị, chia ăn 2 lần trong ngày.
      4 – Tinh hoàn dê
     Còn gọi là ngoại thận, vị ngọt mặn, tình bình, có công dụng bổ thận, tráng dương, ích tinh. Được dùng để chữa các chứng di tinh, liệt dương, hạ bộ hư lãnh, thiểu năng sinh dục…Ví như, để chữa các chứng đau lưng do thận hư, di tinh, liệt dương, tiêu khát (đái đường), khí hư, sa đì…cổ nhân thường dùng tinh hoàn dê nấu cháo ăn thường xuyên ; để chữa bệnh liệt dương dùng tinh hoàn dê 1 đôi và nhung hươu 3g ngâm với 500ml rượu trắng, sau nửa tháng có thể dùng được, uống mỗi ngày từ 15 - 20 ml hoặc dùng tinh hoàn dê 1 đôi làm sạch, bỏ màng, thái miếng, nấu với nước dùng xương lợn trong 5 phút, chế thêm gia vị, ăn nóng.
     5 - Dạ dày dê
     Vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ hư, kiện tỳ, ích vị. Được dùng để chữa các chứng suy nhược cơ thể, gầy mòn, đái đường, chán ăn, tự ra mồ hôi nhiều, tiểu vặt…Ví như, để chữa bệnh viêm đại tràng và dạ dày mạn tính thể tỳ vị hư hàn cổ nhân dùng dạ dày dê 1 cái hầm với gừng tươi, giềng và nhục quế (lượng vừa đủ), chia ăn vài lần trong ngày ; để kiện tỳ, cố biểu, liễm hãn dự phòng cho người dễ bị cảm mạo, hay đổ mồ hôi nhiều, cổ nhân dùng dạ dày dê 1 cái hầm với 50g đậu đên và 40g hoàng kỳ, chia ăn 2 lần trong ngày.
      6 - Phổi dê
     Vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ phế khí, điều thủy đạo. được dùng dể chữa các chứng ho suyễn, đái đường, tiểu tiện không thông hoặc đi nhiều lần.Ví như, để chữa chứng ho kéo dài do phế hư, tiểu tiện bất lợi, sách Phổ tế phương dùng phổi dê 500g thái vụn luộc kỹ lấy nước bỏ bã rồi cho thêm 150g thịt dê thái miếng và 100g gạo tẻ nấu nhừ thành cháo, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày ; để bổ phổi và phòng chống pôlíp mũi, sách Thiên kim dực phương dùng phổi dê 1 lá, bạch truật 120g, nhục thung dung 60g, thông thảo 60g, can khương 60g, xuyên khung 60g, tất cả sấy khô tán bột, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 5 - 10g với nước cháo.
      7 – Xương dê
     Vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ thận, cường gân cốt. Được dùng để chữa các chứng suy nhược cơ thể, phong thấp, lưng đau gối mỏi, tiêu khát, bệnh lỏng lỵ kéo dài…Ví như, để điều trị chứng phong thấp, gầy yếu do lao lực, đầu choáng mắt hoa, sách Thiên kim dực phương dùng xương dê 1000g hầm với 60g gạo tẻ thành cháo, chế thêm gia vị , chia ăn vài lần trong ngày ; để chữa chứng đau lưng mạn tính, sách Ẩm thực chính yếu dùng xương dê 1000g hầm với 6g trần bì, 6g giềng, 2 quả thảo quả và 30g gừng tươi, lấy nước cốt nấu cháo ăn ; để chữa trẻ em chậm phát dục, sách Thái bình thánh huệ phương dùng xương sống dê 500g hầm kỹ với 10g nhục dung và 100g hoài sơn thành dạng bột lỏng, chia ăn vài lần.
      8 – Tiết dê
     Vị mặn, tính bình, có công dụng chỉ huyết, khứ ứ. Được dùng để chữa các chứng nôn ra máu, chảy máu cam, trĩ xuất huyết, băng huyết, xuất huyết do chấn thương trật đả…Ví như, để chữa chứng thổ huyết, chảy máu cam, sách Thái bình thánh huệ phương dùng tiết dê tươi cho uống 1 – 2 chén nhỏ ; để chữa trĩ xuất huyết, sách Tiện dân thực liệu dùng tiết dê luộc chín ăn với dấm chua ; để cầm máu các vết thương, cổ nhân dùng tiết dê đốt thành than 10 phần, tóc rối đốt thành than 10 phần, bột hoàng cầm 2 phần, trộn đều rồi rắc và bó vết thương.
     Ngoài ra, các bộ phân khác của con dê cũng được cổ nhân sử dụng làm thuốc. Tim dê bổ tâm, giải uất chữa chứng đau tức, hồi hộp đánh trống ngực ; tuỵ dê nhuận phế, chỉ đới chữa ho kinh niên, khí hư ; bàng quang dê chữa di niệu ; tuyến giáp trạng dê chữa chứng khí anh ( ngực đầy tức, họng như có dị vật khạc không được nuốt không trôi) ;da dê ích khí bổ hư, làm ấm tỳ vị chữa chứng hư lao, lưng đau gối mỏi, sản hậu hư lãnh ; sữa dê nhuận táo bổ hư trị các chứng suy nhược cơ thể, đái đường, loét miệng, phản vị ; mật dê thanh hoả, minh mục, giải độc chữa đau mắt đỏ, thổ huyết do lao, viêm họng cấp tính, hoàng đản, táo bón, viêm loét da do nhiễm độc ; mỡ dê bổ hư, nhuận táo, khứ phong, hoá độc chữa hư lao, khô da, cửu lỵ, nhọt độc ;
     Tuy nhiên, theo dinh dưỡng học cổ truyền, thịt dê nói riêng và các sản phẩm lấy từ dê nói chung đều có tính ấm nóng cho nên những người thể chất thiên nhiệt và đang bị sốt do cảm mạo không nên dùng.


                                                                                                  Hoàng Khánh Toàn


Rượu dâm dương hoắc

CÔNG DỤNG VÀ CÁCH DÙNG RƯỢU DÂM DƯƠNG HOẮC


     Khi tiễn chân thực khách, nhiều nhà hàng đặc sản thường không quên biếu thêm một chai rượu nhỏ để làm kỷ niệm. Thứ rượu này có màu xanh trong khá đẹp, uống có hương thơm vị ngon và đặc biệt là tỏ ra rất hữu ích cho cánh “mày râu”. Đây là loại rượu gì vậy ? Xin thưa, đó là rượu Dâm dương hoắc hay còn gọi là rượu Tiên linh tỳ.

   @ Dâm dương hoắc là gì ?
     Dâm dương hoắc là một trong những vị thuốc bổ dương của dược học cổ truyền. Thực chất đó là lá phơi hay sấy khô của nhiều loại cây thuộc chi Epimedium như dâm dương hoắc lá to (E. macranthum Morr. et Decne), dâm dương hoắc lá mác (E. sagittatum Sieb. et Zucc), dâm dương hoắc lá hình tim (E. brevicornu Maxim), dâm dương hoắc có lông mềm (E. koreanum Nakai)...Gọi là Dâm dương hoắc là vì đây là thứ cây dân gian thường lấy lá cho dê ăn và lại có công dụng làm tăng ham muốn tình dục. Cây này còn có nhiều tên gọi như Cương tiền, Phương trượng thảo, Thiên lưỡng kim, Hoàng liên tổ, Ngưu giác hoa, Phế kinh thảo

   @ Rượu dâm dương hoắc có công dụng gì ?
     Theo dược học cổ truyền, dâm dương hoắc vị cay ngọt, tính ấm ; có công dụng ôn thận tráng dương (làm ấm tạng thận và khoẻ dương khí), cường cân tráng cốt (làm mạnh gân xương) và khứ phong trừ thấp ; thường được dùng để chữa các chứng bệnh như liệt dương, di tinh, tinh lạnh, muộn con, lưng đau gối mỏi, gân cốt co rút, bán thân bất toại, tay chân yếu lạnh, phong thấp, tiểu tiện bất cấm
     Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy: dâm dương hoắc có tác dụng tương tự như nội tiết tố sinh dục, làm tăng trọng lượng của thuỳ trước tuyến yên, tinh hoàn, buồng trứng và tử cung trên động vật thực nghiệm, kích thích quá trình bài tiết tinh dịch, nâng cao năng lực hoạt động của tinh hoàn, qua đó gián tiếp làm hưng phấn và tăng cường khả năng tình dục. Mặt khác, dâm dương hoắc còn có khả năng ức chế một số vi khuẩn như tụ cầu trắng, tụ cầu vàng, phế cầu khuẩn, thậm chí cả trực khuẩn lao. Ngoài ra, vị thuốc này cũng có tác dụng giảm ho, trừ đờm, chống co thắt phế quản, làm hạ huyết áp và bảo hộ tế bào cơ tim trong điều kiện thiếu ôxy nhờ khả năng làm tăng lưu lượng động mạch vành.
     Trên thực tiễn lâm sàng học hiện đại đã có những công trình nghiên cứu khảo sát khả năng trị liệu của dâm dương hoắc đối với một số bệnh lý nội khoa như cơn đau thắt ngực do thiểu năng động mạch vành, suy nhược thần kinh, viêm phế quản mạn tính, viêm khớp trẻ em, thiểu năng sinh dục

   @ Cách chế rượu dâm dương hoắc như thế nào ?
     Trước hết phải tiến hành bào chế dâm dương hoắc. Theo cổ nhân có thể dùng dưới dạng sống hoặc sao, nhưng tốt nhất là nên dùng dạng sao. Có năm cách sao : (1) Sao với mỡ dê, một lạng dâm dương hoắc thường phải cần 20g mỡ dê. Đem mỡ dê rán lấy mỡ nước, bỏ tóp rồi cho dâm dương hoắc đã thái vụn vào sao nhỏ lửa cho đến khi thấm hết mỡ là được ; (2) Sao với muối, thường dùng nước muối 2% với lượng vừa đủ sao dâm dương hoắc cho đến khi khô hết nước, dược liệu chuyển màu hơi đen là được ; (3) Sao với rượu, mỗi lạng dâm dương hoắc cần dùng từ 20 - 25 ml rượu, phun đều rồi sao nhỏ lửa cho đến khi dược liệu khô là được ; (4) Sao với bơ, mỗi lạng dâm dương hoắc cần dùng 25g bơ, đem bơ đun nóng chảy rồi cho dược liệu vào sao cho đến khi khô là được ; (5) Sao thường, cho dâm dương hoắc vào chảo dùng lửa nhỏ sao cho đến khi chuyển màu hơi đen là được.
     Sau đó đem ngâm với rượu, thông thường cứ 500g dâm dương hoắc cần dùng 5 lít rượu gạo loại một, đây là công thức cổ nhân thường dùng, được ghi trong y thư cổ Thọ thế bảo nguyên. Tốt nhất là chọn loại bình gốm miệng hẹp lòng rộng để ngâm. Mùa xuân và mùa hạ sau 3 ngày, mùa thu và mùa đông sau 5 ngày là có thể dùng được, mỗi ngày uống hai lần, mỗi lần từ 15 - 20 ml.

   @ Nên ngâm phối hợp dâm dương hoắc với những vị thuốc nào ?
     Để nâng cao hiệu quả của rượu dâm dương hoắc người ta thường phối hợp với một số vị thuốc như tiên mao, ba kích, nhục thung dung, tử thạch anh, uy linh tiên, cao lương khương, sinh khươngPhối hợp với tiên mao, ba kích và nhục thung dung nhằm nâng cao khả năng bổ thận tráng dương, tăng cường năng lực tình dục, phòng chống liệt dương và di mộng tinh. Phối hợp với tử thạch anh để làm ấm tử cung, phòng chống tích cực các chứng bệnh ở phụ nữ như thống kinh, bế kinh, băng huyết, rong kinh, khó thụ thai do thận dương hư suy. Phối hợp với uy linh tiên để tăng cường khả năng khu phong trừ thấp, phòng chống hữu hiệu bệnh lý viêm khớp do hư lạnh. Phối hợp với cao lương khương (củ giềng) hoặc sinh khương (gừng tươi) để nâng cao khả năng trừ hàn, phòng chống tích cực bệnh lý viêm loét dạ dày, tá tràng và đại tràng do hư lạnh.

   @ Khi dùng rượu dâm dương hoắc cần chú ý gì ?
     Thứ nhất là không nên uống quá liều chỉ định. Thứ hai là với những người thể chất âm hư hoặc đang mắc các bệnh lý thuộc thể âm hư thì không nên dùng. Bệnh cảnh âm hư được biểu hiện bằng các triệu chứng : người gầy, hay có cảm giác sốt nhẹ về chiều, lòng bàn tay và bàn chân nóng, môi khô họng khát, thích uống nước mát, trong ngực bồn chồn không yên, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, chất lưỡi đỏ khô

                                                                                  Hoàng Khánh Toàn  


Thứ Tư, ngày 24 tháng 12 năm 2014

Hiểu thế nào về thuốc bổ thận tráng dương ?

HIỂU THẾ NÀO CHO ĐÚNG VỀ THUỐC BỔ THẬN TRÁNG DƯƠNG
 CỦA Y HỌC CỔ TRUYỀN ?



     Trong dân gian, với các “đáng mày râu” mỗi khi cơ thể bị mệt mỏi đau ốm hoặc giả có những trục trặc trong chuyện “chăn gối”, người ta thường tìm đến các thầy lang để cắt dăm ba chén thuốc bổ thận tráng dương sắc uống hay khi thời nay mức sống trở nên khấm khá, dù không có bệnh tật gì nhiều người vẫn xính dùng loại thuốc này của y học cổ truyền (YHCT) những mong sẽ được “bách dương tráng kiện”. Nghĩ cho cùng thì đó cũng là nguyện vọng chính đáng. Nhưng, điều đáng nói ở đây là, không ít người vì chưa hiểu rõ thế nào là thuốc bổ thận tráng của YHCT cho nên hễ cứ nghe thấy tiếng “bổ dương” là uống lấy uống để chẳng cần đến các thầy lang bắt mạch, cũng chẳng cần biết tình trạng sinh bệnh lý của cơ thể mình như thế nào để rồi chuốc lấy những hậu quả khôn lường hoặc giả tốn tiền một cách vô ích. Nhiều khi, cũng vì thế mà YHCT phải chịu tiếng oan.
     Vậy thì phải hiểu khái niệm “bổ thận tráng dương” của thuốc YHCT như thế nào cho đúng ? Y thư cổ nói : “ Hư thì bổ, thực thì tả”, “hư” ở đây là để chỉ tình trạng suy nhược của chính khí hay có thể hiểu một cách đơn giản là sự giảm sút sức đề kháng của cơ thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, là sự thiếu hụt (bất túc) một hay nhiều mặt trong nhân thể. Điều cần nhấn mạnh là, trong YHCT không có khái niệm “hư” một cách chung chung mà tuỳ theo các mặt âm, dương, khí, huyết hoặc phân biệt theo ngũ tạng lục phủ mà định ra nhiều thể loại khác nhau như âm hư, dương hư, khí hư, huyết hư hay can hư, tỳ hư, phế hư, thận hư..., từ đó mà định ra nguyên tắc trị liệu và lựa chọn các vị thuốc, bài thuốc bổ khác nhau để bù đắp phần hư thiếu, điều hoà sự thiên thắng hay thiên suy, lập lại sự cân bằng trong cơ thể. Như vậy, thuốc bổ thận tráng dương của YHCT là những bài thuốc, vị thuốc chỉ được dùng để chữa các chứng bệnh mang tính chất “thận dương hư suy”. Trên thực tế lâm sàng, thuốc bổ thường được chia làm 4 loại chính : bổ khí, bổ huyết, bổ âm và bổ dương, rồi từ đó xem xét và vận dụng vào từng tạng phủ cụ thể mà xây dựng các phép bổ chi tiết hơn như bổ tỳ khí, bổ can huyết, bổ thận dương, bổ phế âm...
     Như vậy, việc dùng thuốc bổ trong YHCT nói chung và thuốc bổ thận tráng dương nói riêng trước hết phải có căn cứ lý luận khoa học biện chứng, quyết không thể sử dụng một cách chung chung, tuỳ tiện. Thiếu gì thì bồi bổ cái đó và ngay cả khi bồi bổ đã đúng chỗ cũng không được quá thiên lệch mà làm tổn hại đến cân bằng động giữa âm và dương trong nhân thể. Dương hư thì phải bổ phần dương, nhưng, tuy là dương hư nếu cứ bổ dương quá mức thì lại làm hại đến âm khí khiến cho dương khí bốc lên mà xuất hiện tình trạng dương thịnh âm suy. Đó là chưa kể đến việc khi dùng thuốc bổ còn phải căn cứ vào lứa tuổi cao thấp, thể trạng gầy béo, thời tiết nóng lạnh...để xây dựng bài thuốc cho phù hợp và đạt hiệu quả cao. Trình Quốc Bành, y gia trứ danh đời Thanh (Trung Quốc) đã viết : “Bổ có ý nghĩa lớn. Song có người đáng bổ lại không bổ, có người không đáng bổ lại bổ ; lại không chịu định rõ khí huyết, không phân biệt hàn nhiệt, âm dương, đóng mở, nhanh chậm, không định rõ ngũ tạng, căn bản thì chỉ có hại”.
     Nhìn chung các loại thuốc bổ thận tráng dương của YHCT đều có tác dụng tăng cường hoạt động của cả ba hệ thống nội tiết : dưới đồi-tuyến yên-tuyến thượng thận, dưới đồi-tuyến yên-tuyến sinh dục và dưới đồi-tuyến yên-tuyến giáp trạng, trong đó đặc biệt là có khả năng tăng cường nội tiết tố sinh dục nam và cải thiện lượng máu đến các thể hang của dương vật, từ đó khiến cho các đấng mày râu phục hồi ham muốn tình dục, tăng độ cương cứng của dương vật, kéo dài thời gian “mây mưa” và dễ thụ thai. Tuy nhiên, không phải vì thế mà lạm dụng, cổ nhân có cấu “thái quá thì bất cập”. Điều quan trọng của thuốc bổ thận tráng dương của YHCT là kích thích để cơ thể, trong đó có hệ sinh dục, tự phục hồi khả năng của mính chứ không phải là sự thay thế như ta dùng liệu pháp hormone sinh dục của y học hiện đại.
     Có thể nói, hầu hết các sản phẩm có lợi cho cánh đàn ồng trong chuyện “gối chăn” hiện nay là thường chỉ chú ý đến các vị thuốc bổ dương và thuần dương. Vậy nên, hậu quả là, không ít người bị liệt dương, xuất tinh sớm, không xuất tinh thuộc thể “âm hư hỏa vượng” khi dùng các thành phẩm này lại lâm vào tình trạng “lợi bất cập hại”, chẳng khác nào bắt một con ngựa đã què phải leo dốc trong khí chiếc xe mà nó kéo lại là xe “bành vuông”?!
     Như vậy, có thể thấy, dù xem xét dưới góc độ nào thì thuốc bổ nói chung và thuốc bổ thận tráng dương nói riêng của YHCT cũng có vai trò hết sức quan trọng và rất cần thiết cho việc bảo vệ và nâng cao sức khoẻ của con người, cải thiện đời sống sinh lý. Nhưng, như trên đã phân tích, vấn đề là ở chỗ khi sử dụng phải hiểu và tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc dùng thuốc của YHCT. Suy cho cùng, dù là thuốc bổ hay thuốc bệnh, nếu người ta sử dụng chúng không đúng bệnh, đúng người, đúng phương pháp thì không thể đạt được hiệu quả như mong muốn, thậm chí còn gây ra những hậu quả rất đáng tiếc.

                                                                                         Hoàng Khánh Toàn