Thứ Năm, ngày 05 tháng 3 năm 2015

Giải độc bằng kinh nghiệm dân gian

GIẢI ĐỘC BẰNG KINH NGHIỆM DÂN GIAN


     Trong y học cổ truyền, kho tàng kinh nghiệm dân gian chữa trị các tình trạng ngộ độc là hết sức phong phú. Các kinh nghiệm này hiện nay không còn được dùng nhiều nữa, nhưng trong một chừng mực nhất định chúng vẫn có giá trị trong những hoàn cảnh nhất định và vẫn là những gợi mở thú vị cho việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu, chứng minh, thừa kế và phát triển những “vốn cổ” mà người xưa đã để lại. Bài viết này xin được dẫn ra một số kinh nghiệm điển hình để độc giả tham khảo.
1. Ngộ độc thức ăn
     Trước hết, cần loại trừ chất độc ra khỏi cơ thể càng sớm càng tốt, nhất là mới bị sau bữa ăn 1-2 giờ bằng các biện pháp như : lấy muối ăn 1 thìa canh(25g) sao qua, pha vào một bát nước sôi cho uống 3 lần, mỗi lần cách nhau chừng 10 phút hoặc dùng lông gà (rửa sạch bằng nước muối), bảo bệnh nhân há miệng đưa vào gần cuống họng sẽ nôn ngay hoặc dùng ngón tay ngoáy họng cũng có hiệu quả.
     Sau đó, cho uống nước trà đường nóng để bù nước, cầm đi lỏng, phân giải hòa loãng chất độc. Có thể dùng nước sắc lá sim, lá ổi, núm hoa chuối tiêu, vỏ măng cụt…sao vàng sắc đặc cho uống. Nếu biết bệnh nhân ngộ độc thức ăn gì thì có thể dùng các vị thuốc, bài thuốc như : ăn thịt không tiêu dùng sơn tra 12g sắc uống ; ăn chất bột không tiêu dùng mạch nha 12g, thần khúc 12g sắc uống ; ăn rau sống và hoa quả không tiêu dùng can khương 10g, thần khúc 10g sắc uống ; ăn tôm cá cua không tiêu dùng cành tía tô 12g, trần bì 10 sắc uống ; do ăn cá không tiêu dùng rau diếp cá và lá tía tô mỗi thứ 50g sắc uống ; do ăn cả cá và thịt không tiêu dùng tỏi 10g, phèn phi 10g, hai thứ giã nhỏ, pha nước sôi uống ; do ăn thịt lợn dùng hành củ 100g giã nát vắt lấy nước uống ; do ăn thịt dê dùng lá và hạt mướp đắng 100g sắc uống, do ăn thịt trâu bò dùng tương ăn 100 ml hòa với 20 ml nước gừng tươi uống ; do ăn thịt gà dùng lá chanh 100g sắc uống ; do ăn thịt chó dùng lá và củ giềng sao, rau má, mỗi thứ 30g sắc uống.
2. Ngộ độc sắn
     Có thể dùng một trong những bài thuốc như : (1) Con cua đồng tươi (rửa qua nước sôi) 10-20 con giã nhỏ, hòa với 1 bát nước đun sôi để nguội rồi lọc lấy nước cốt uống. Bài này dùng chung cho cả gia súc bị ngộ độc sắn. (2) Mật mía 200-300 ml hoặc nước đường pha đậm uống. (3) Cam thảo bắc 20g hoặc cam thảo đất 50g sắc uống. (4)Tương ăn 150-200 uống. (5) Rau muống sống 100g cắt đoạn rửa sạch, giã nhỏ, vắt lấy nước, đem trộn với 50g cám gạo tẻ, bọc vào vải sạch vắt lọc lấy nước uống. (6) Nước cốt rau má 100 ml, nước cốt lá sắn dây 50 ml hòa với mật hoặc nước mía hoặc nước đường uống. Chú ý : cấm không được dùng các loại thuốc đau bụng như viên rửa, thuốc gió, rượu quế, rượu hồi...rất nguy hiểm vì làm bệnh nặng thêm.
3. Ngộ độc dứa
     Có thể dùng một trong một trong các bài thuốc như : (1) Vỏ dứa (loại dứa bị ngộ độc) 100g, cam thảo hoặc mộc nhĩ đen 15-25g sắc uống, mỗi thang sắc 2-3 lần. (2) Bồ công anh 12g, ké đầu ngựa 15g, lá dâu 16g, kinh giới 16g, thổ phục linh 16g, cam thảo hoặc đậu xanh 4g, sắc lấy nước uống. Chú ý : tránh rửa nước, quạt lạnh, mùi khét, bụi lông vải…kiêng tôm, cua, sò…Khi ổn định cho uống trà đường.
4. Ngộ độc nấm
     Trước hết nên làm động tác gây nôn để thải hết thức ăn. Sau đó, dùng một trong những bài thuốc như : (1) Mộc nhĩ đen hoặc nấm hương 25-40g sắc 3 lần, mỗi lần lấy 200 ml, uống 3 lần. Nếu dùng nấm hương có thể cho thêm 10 cái thì càng tốt, hiệu quả của nấm hương cao hơn mộc nhĩ. (2) Đậu xanh 200g (chừng 1 bát), đem tán nhỏ, nấu đặc lấy nước uống hoặc cho vào một ít gạo nếp nấu thành cháo ăn. (3) Mộc nhĩ đen hoặc nấm hương 40g, đậu xanh 100g sắc đặc uống. (4) Rau khoai lang sống 50 ngọn, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước uống. (5) Óc thỏ 5 cái và dạ dày thỏ 2 cái, làm sạch, thái nhỏ rồi trộn đường ăn sống.
5. Ngộ độc hải sản (tôm, cá, sò, cá nóc…)
     Ngộ độc cá, tôm, sò…dùng lá tía tô tươi 50g sắc với 3 bát nước lấy 1 bát uống trong ngày. Ngộ độc cá nóc dùng ngọn khoai lang 50-60g, muối ăn 6g, hai thứ đem giã lẫn, vắt lấy 1 bát nước uống trong ngày.
6. Ngộ độc thuốc
     Tất cả các loại thuốc khi ngộ độc sau động tác gây nôn có thể dùng nước cốt rau muống 150 ml hoặc nước sắc củ khúc khắc (thổ phục linh)  200 ml uống. Riêng ngộ độc thuốc phiện đốt 100g bông gòn pha với nước uống ; ngộ độc mã tiền dùng cạo rỉ sắt 100g giã nhỏ hòa với nước sôi gạn trong uống ; ngộ độc ba đậu dùng nước ép lá chuối tươi hoặc nước sắc hoàng liên uống ; ngộ độc cà độc dược dùng vỏ đậu xanh 160g, liên kiều 40g, kim ngân hoa 80g, cam thảo 20g sắc với 2 lít nước còn 200 ml, cách 2 giờ uống 1 lần ; ngộ độc lá ngón cho uống thật nhiều nước cam thảo ; ngộ độc cây niệt gió cho ăn uống nước muối loãng, ăn cháo nhạt nguội ; ngộ độc thạch tín dùng bột xuyên tiêu (sao) 100g, sáp ong vừa đủ luyện thành viên, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 12g ; ngộ độc thuốc trừ sâu dùng nước chanh hoặc nước mắm uống…


                                                                                       Hoàng Khánh Toàn

Béo bụng

KHÍ CÔNG PHÒNG CHỐNG BÉO BỤNG


     Béo phì nói chung và béo bụng nói riêng đang có xu hướng tăng nhanh ở nước ta. Theo kết quả điều tra dinh dưỡng trên 17213 đối tượng tuổi từ 25 đến 64 tại 64 tỉnh/thành phố đại diện cho 8 vùng sinh thái toàn quốc cho thấy tỷ lệ thừa cân/béo phì (BMI > 23) là 16,3%, trong đó tỷ lệ béo bụng ( tỷ số vòng bụng/ vòng mông cao) là 39,75% và tăng theo tuổi trên cả nam và nữ. Theo khảo sát, đánh giá của Viện Dinh dưỡng quốc gia thì tỷ lệ béo bụng ở người trưởng thành nước ta là 7,7% - cao hơn so với tỷ lệ chung về béo bụng của các nước trong khu vực (6,6%). Đây là con số đáng báo động cho các đối tượng dễ bị rơi vào tình trạng này như nhân viên văn phòng, nữ công chức, phụ nữ sau sinh...và đặc biệt là cánh đàn ông hay nhậu nhẹt, rượu bia. Béo bụng không những ảnh hưởng đến hình dáng thẩm mỹ mà nguy hại hơn là gây nên các bệnh lý như cao huyết áp, đột quỵ, vữa xơ động mạch, gan nhiễm mỡ, viêm tụy cấp…
     Để phòng chống béo bụng không có cách nào khác là phải thực hành toàn diện các biện pháp như tiết chế ăn uống, tích cực vận động, tránh căng thẳng thần kinh, sử dụng các thực phẩm chức năng giảm mỡ hợp lý…, trong đó có một phương pháp hết sức đơn giản, không tốn kém mà lại hiệu quả đó là tập luyện khí công dưỡng sinh của y học cổ truyền. Dưới đây, xin được giới thiệu hai bài tập khí công giảm béo bụng điển hình.
* Bài thứ nhất  
     Chọn tư thế đứng, hai chân mở rộng bằng tầm hai vai, thu ngực, nâng lưng lên thở tự nhiên, hai mắt khép hờ, tập trung ý nghĩ vào hơi thở, bỏ hết tạp niệm. Một tay ấn trên bụng dưới (nam tả nữa hữu) sao cho khoảng giữa lòng bàn tay (huyệt Nội lao cung) đặt trên huyệt Đan điền (vùng dưới rốn 1-2 thốn), còn tay kia (nam hữu nữ tả) đặt ở ngực sao cho Nội lao cung đặt trên huyết Đản trung (điểm giữa đường nối hai núm vú ở nam giới, phụ nữ lấy theo xương sườn thứ tư, huyệt là nơi gặp nhau của đưởng dọc giữa xương ức và đường ngang qua bờ trên khớp ức-sườn 4). Sau khi đứng một lát, gõ hai hàm răng vào nhau 36 lần, dùng lưỡi khuấy động nước bọt trong miệng rồi chia làm 3 lần nuốt xuống, dùng ý niệm đưa xuống ngực, tiếp đó từ từ đưa xuống Đan điền. Tiếp tục đứng tĩnh lặng một lát rồi thực hiện lần lượt các động tác như sau :
- Thở ngực và bụng : Hít khí vào, ưỡn ngực, thót bụng dưới. Thở khí ra, thu ngực, phình bụng dưới hết cỡ. Tiến hành động tác luân phiên nhẹ nhàng và đều đặn đủ 40 lần
- Xoa bóp ngực : Dùng bàn tay phải từ mé phải ngực đẩy sang trái 36 lần, lại dùng bàn tay trái từ mé trái ngực đẩy sang phải 36 lần với một lực ấn vừa phải, chú ý giữ hơi thở tự nhiên.
- Xoa bóp bụng : Dùng bàn tay phải, lấy rốn làm trung tâm, xoa bụng theo chiều kim đồng hồ 36 lần rồi lại dùng bàn tay trái lấy rốn làm trung tâm, xoa bụng ngược chiều kim đồng hồ 36 lần với một lực vừa phải.
* Bài thứ hai
     Trước hết, vận động eo và bụng : Hai chân song song mở rộng, hai tay buông xuôi theo thân. Tay phải từ từ giơ lên quá đầu rồi kéo thân gấp về bên trái, chú ý không kéo quá mạnh. Sau đó, trở lại tư thế ban đầu rồi lại giơ tay trái lên quá đầu, gấp người sang phải. Một chu trình hết 40 giây, bắt đầu làm như vậy 6 lần, dần đần tăng lên 12 lần.
     Tiếp đó, vận động chân : Hai chân đứng mở, chân trái bước rộng một bước ra phía trước, đồng thời ngồi xổm xuống, đầu gối phải quỳ xuống đất, sau đó đứng dậy trở về tư thế ban đầu. Tiếp theo làm lại những động tác trên nhưng với chân bên phải. Chú ý trong quá trình ngồi xổm đứng dậy, lưng phải duỗi thẳng và thả lỏng toàn thân.
     Tiếp theo, vận động tay và ngực : Ngồi xếp bằng, hai tay qua tầm vai từ từ giơ lên đến hai bên đầu thành hình chữ Y, sau đó hai tay qua trước thân hạ xuống quay hai vòng, làm liên tục 6 lần như vậy, dần dần tăng lên 12 lần. Sau đó, lại giơ hai tay ra phía trước, một tay hướng lên, một tay hướng xuống, hai tay làm thay nhau 24 lần.
     Cuối cùng, vận động đầu và cổ : Ngồi xếp bằng, hai tay thả lỏng hai bên, đầu và cổ đầu tiên hướng sang phải quay hai vòng, sau đó hướng sang trái quay hai vòng, làm như vậy 4 lần. Tiếp đó, đầu gập ra trước, sau đó từ từ đưa từ bên này sang bên kia 8 lần. Tổng cộng làm 3 lần.
     Hai bài tập trên có thể thực hành đơn thuần riêng lẻ hoặc phối hợp với nhau, mỗi ngày làm 1-2 lần, mỗi lần 10-15 phút cho mỗi bài. Để đạt được hiệu quả, liệu trình tối thiểu phải trên 3 tháng. Lẽ đương nhiên cần chú ý : uống nhiều nước trong suốt cả ngày để giúp loại bỏ chất thải trong cơ thể, nhai kỹ thức ăn trước khi nuốt, giới hạn tiêu thụ nước có ga, trọng dụng nước chanh, nói không với đường, chọn các sản phẩm đã tách chất béo như sữa tách kem, sữa chua ít béo, ăn nhiều trái cây tươi và rau quả, tránh ăn quá no trong một bữa, tránh ăn đêm, hạn chế tối đa bia rượu, chơi thể thao ít nhất 45 phút mỗi ngày, ngủ đủ 7-8 giờ mỗi đêm, kiểm soát huyết áp, trọng lượng và nồng độ cholesterol trong máu thường xuyên.
 
                                                                                   Hoàng Khánh Toàn
    



Dương thận

NĂM MÙI, NÓI CHUYỆN VỀ DƯƠNG THẬN



     Cái quý nhất của con dê đối với cánh đàn ông là thận dê. Trong y học cổ truyền, thận dê được gọi là dương thận, bao gồm hai phần : dương nội thận, hay còn gọi là dương yêu tử, tức là quả thận thực sự và dương ngoại thận, hay còn gọi là dương thạch tử, tức là tinh hoàn. Dương thận vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ thận khí, ích tinh tuỷ, thường được dùng để chữa các chứng thận lao hư tổn, lưng đau gối mỏi, tai ù, tai điếc, liệt dương, di hoạt tinh, yếu sinh lý, đi tiểu đêm nhiều lần...Dương thận thường được sử dụng dưới dạng kết hợp với một số thực phẩm hay dược liệu để chế biến thành những món ăn  bài thuốc hấp dẫn vừa có công dụng bổ dưỡng lại vừa có tác dụng phòng chống bệnh tật. Dưới đây, xin được giới thiệu một số công thức điển hình để bạn đọc có thể tham khảo và vận dụng.

   Bài 1 :  Dương nội thận 1 quả, thịt dê 60g, lá kỷ tử 250g (có thể thay bằng kỷ tử 100g), gạo tẻ 60 - 90g, hành củ và gia vị vừa đủ. Dương thận rửa sạch, bổ đôi, bỏ màng trắng, thái miếng ; thịt dê rửa sạch, thái quân cờ ; sắc kỹ kỷ tử rồi bỏ bã lấy nước, cho thận và thịt dê vào ninh nhừ với gạo thành cháo, nêm gia vị vừa đủ, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng : bổ thận âm, ích thận khí, tráng nguyên dương, dùng để trị các chứng lưng đau gối mỏi, tai ù, di niệu do thận hư, nam giới liệt dương, suy giảm khả năng tình dục.
   Bài 2 :  Dương nội thận 1 quả, nhục thung dung 30g. Dương thận rửa sạch, bổ đôi, bỏ màng trắng, thái miếng ; nhục thung dung tẩm rượu một đêm rồi thái lát, đem hầm cùng với dương thận, khi chín chế thêm gia vị, ăn nóng. Công dụng : bổ thận tráng dương, nhuận tràng thông tiện, dùng làm đồ ăn cho những người bị liệt dương, yếu sinh lý, táo bón do mệnh môn hoả suy.
   Bài 3 :  Dương ngoại thận 1 đôi, nước hầm xương lợn 1 bát, tuỷ lợn một đoạn, gia vị vừa đủ. Dương ngoại thận rửa sạch, thái miếng ; đun nước hầm xương lợn cùng với gia vị và tuỷ lợn trong 15 phút, sau đó cho dương ngoại thận vào đun thêm chừng 3 phút là được, múc ra bát, ăn nóng. Công dụng : ích tinh, trợ dương, bổ thận, được dùng để chữa các chứng muộn con, liệt dương, xuất tinh sớm, di tinh, đau lưng mỏi gối, suy giảm ham muốn tình dục, suy nhược cơ thể...
   Bài 4 :  Dương nội thận 1 đôi, nhục thung dung 25g, thảo quả 5 g, trần bì 5g, mỡ dê 100g, gia vị vừa đủ. Thận dê làm sạch, bổ đôi, bỏ màng trắng, thái miếng ; mỡ dê thái miếng ; sắc kỹ các vị thuốc rồi bỏ bã lấy nước, đem hầm với thận và mỡ dê, khi chín chế thêm gia vị, ăn nóng. Công dụng : bổ thận tráng dương, ôn trung kiện tỳ, nhuận tràng thông tiện, được dùng để chữa các chứng liệt dương, di hoạt tinh, đau lưng mỏi gối, tay chân lạnh, táo bón do thận dương hư.
   Bài 5 : Dương ngoại thận 1 đôi, nhung hươu 3 g, rượu trắng 500 ml. Dương ngoại thận tươi (lấy từ dê núi là tốt nhất), rửa sạch huyết rồi đem ngâm cùng nhung hươu với rượu trắng chừng nửa tháng là được, mỗi ngày uống 1 - 2 lần, mỗi lần từ 10 - 20 ml, kiêng hành, gừng, tỏi và hạt tiêu. Công dụng : bổ thận tráng dương, ích tinh dưỡng huyết, dùng để chữa các chứng liệt dương, suy giảm ham muốn tình dục, tinh dịch lạnh loãng, suy giảm số lượng và chất lượng tinh trùng...
   Bài 6 :  Dương nội thận 1 quả, bạch tật lê sao qua 120g, long nhãn 120g, dâm dương hoắc 120g, toả dương 120g, ý dĩ 120. Tất cả đem ngâm với rượu trắng chừng nửa tháng, mỗi ngày uống 20 ml. Công dụng : ôn thận tráng dương, ích tinh bổ tuỷ, khu phong trừ thấp, dùng để trị các chứng liệt dương, di mộng tinh, tinh lạnh, lưng đau gối mỏi, tai ù tai điếc ở người già do thận hư
     Theo quan niệm của y học cổ truyền, một trong những chức năng quan trọng của tạng thận là chủ về sinh dục. Dê lại là một trong những loài động vật có khả năng hoạt động sinh dục mạnh mẽ và bền bỉ, bởi vậy, quả thận và tinh hoàn của dê đã được người xưa sử dụng làm thức ăn và làm thuốc để chữa trị các chứng bệnh thuộc hệ sinh dục từ rất sớm. Đây là một trong những ví dụ điển hình của việc áp dụng học thuyết “dĩ tạng bổ tạng”, “dĩ tạng liệu tạng” (lấy tạng để bồi bổ và chữa bệnh của tạng) trong y học cổ truyền.




Mùa Xuân nén giạn dưỡng can

MÙA XUÂN, NÉN GIẬN DƯỠNG CAN


     Theo quan niệm của y học phương Đông, mùa xuân thuộc hành Mộc, hành Mộc thuộc tạng Can. Sinh lý và giải phẫu học cổ truyền cho rằng : tạng Can thích sởi lởi, ghét ức chế, cho nên việc điều dưỡng tinh thần mùa xuân tuyệt nhiên không được kìm nén tình cảm, phải biết nén giận để dưỡng Can. Sách Hồng lô điểm tuyết viết : “Khí ấy qúi sự sởi lởi mà không qúi sự ức chế, sởi lởi thì toàn thân thoải mái, ức chế thì trăm mạch không điều hoà”, nếu không làm được điều đó thì “uất ức sinh bách bệnh”...
     Ở đời, thật khó tránh khỏi nhiều khi bị rơi vào nghịch cảnh. Người xưa đã từng nói: “Việc chẳng vừa lòng thường tám chín phần, việc được như ý chỉ một mà thôi”. Vấn đề là ở chỗ làm thế nào để giải toả được những tình cảm bất thường đó ? Y học cổ truyền cho rằng : “Uất tắc phát” (uất ức sớm muộn gì cũng bột phát ra), bởi thế nếu có những điều uẩn khúc, uất ức trong lòng thì nên nói ra cho hết, tìm người dốc bầu tâm sự để cho tư  tưởng được thanh sáng, tâm trạng được thuần khiết, từ đó giải toả hết mọi ưu phiền . Nhà tâm lí học phương Tây Becer đã đề ra một đơn thuốc độc đáo với tên gọi là “Bảng trạng thái tâm lí”,với nội dung chính là : nhìn sự vật không đen thì trắng, luôn mất lòng tin đối với bản thân, cho rằng việc gì cũng không làm nổi, do có quá trình không được như ý, luôn cho rằng họa vô đơn chí, đeo cặp kính màu, chỉ nhìn thấy những mặt tiêu cực của sự vật nên nảy sinh tâm lí tự ti một cách không tự giác, luôn cho rằng bản thân mình chẳng ra gì, chưa qua kiểm chứng đã vội đoán rằng những người chung quanh coi thường mình, phóng đại những khuyết điểm của mình một cách thái quá, thu hẹp sự tự đánh giá về khả năng của mình, luôn có cảm giác rằng hình như mình đã làm việc gì đó rất tồi tệ, không thể đánh giá mình một cách chính xác…Do vậy, những người mắc chứng uất ức, một khi tâm tình không thoải mái hoặc khó bề tự kiềm chế thì trước hết nên ghi chép lại những tư tưởng tiêu cực của mình và tiêu diệt nó ngay trên giấy, đừng để nó tác oai tác quái trong đầu óc của mình. Sau đó, xem lại một lượt từ đầu chí cuối cái bảng trạng thái tâm lí đó, “mỗi ngày ba lần kiểm điểm bản thân”, đối chiếu lại với mình. Tiếp đó lại dùng tư tưởng tích cực vươn lên để thay cho những tư tưởng yếu đuối giả tạo. Bảng đó chỉ cần hàng ngày chịu khó đối chiếu thì tình cảm uất ức tự nhiên sẽ dần dần mất đi.
     Kết quả nhiều nghiên cứu điều tra bí quyết trường thọ của các cụ từ 80 tuổi trở lên cho thấy, có tới 96% các vị cao thọ đều có tính cách lạc quan, phấn chấn. Phấn chấn có tác dụng cải thiện cực tốt đối với những người có tính cách hướng nội, tâm tình u uất. Ngoài ra cũng cần tạo ra một đời sống sinh hoạt có tính hài hước và dí dỏm, bởi hài hước dí dỏm sẽ tạo ra nụ cười, mà cười là một thang thuốc bồi bổ cho sức khoẻ con người. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, khi cười, vỏ não được nghỉ ngơi cao gấp 4 lần so với khi ngủ. Tuy nhiên, để xây dựng được tính cách phấn chấn hài hước cần phải có một quá trình lâu dài. Các nhà khoa học cho rằng, tuổi thơ là thời kì then chốt trong việc bồi dưỡng tính cách. Tục ngữ có câu: “Mạ tốt là nửa mùa màng”, ở vào giai đoạn sinh trưởng, phát dục, việc bồi dưỡng tính cách cho trẻ có ảnh hưởng hết sức quan trọng trong suốt cả cuộc đời của chúng.
     Giận dữ là một loại tình cảm bột phát thô bạo của con người nảy sinh khi ý nguyện hoặc hoạt động gặp phải trắc trở. Đối với sức khoẻ con người, giận dữ là một loại tình cảm âm tính. Theo y học cổ truyền, “giận dữ thì khí bốc lên” làm hại cho Can và Thận, thậm chí có thể gây tử vong. Trong truyện Tam Quốc diễn nghĩa, Gia Cát Lượng ba lần chọc tức Chu Du, khiến Chu Du tức giận điên cuồng, vết thương cũ vỡ ra, hộc máu mà chết là một ví dụ điển hình. Trong sách Thiên kim phương, danh y Tôn Tư Mạo đã viết: “Trong y tế nhất thiết phải biết đến ba ngừa: ngừa giận dữ, ngừa ham muốn quá đà, ngừa rượu say tuý lúy…Vui mừng giận dữ vốn là chuyện thường tình, giận dữ ít, lòng thành ý thực, gạt lo âu phiền não ra ngoài, sửa mình theo lí lẽ, bỏ mọi ưu phiền. Tào Đình Đống (đời Thanh, Trung Quốc) trong cuốn sách viết về dưỡng sinh Lão lão hằng ngôn cũng nói : “ Người ta mượn khí để lấp đầy bản thân, cho nên thường ngày phải dưỡng thiện. Cái cần kiêng kị nhất là giận dữ. Khí tức bốc lên ,tức khí sẽ nghịch mà không thuận, tắc nghẽn mà không lưu thông, làm thương tổn khí ta, tức cũng là làm thương tổn đến thân ta”. Nghiên cứu hiện đại đã chứng minh : tức giận làm cho thần kinh giao cảm hưng phấn, tim đập nhanh hơn, huyết áp tăng cao. Những người mắc chứng cao huyết áp, bệnh tim mạch…khi tức giận, thường làm cho bệnh trầm trọng thêm, thậm chí có khi dẫn đến tử vong.cái lợi nào. Vậy nên, điều dưỡng tinh thần về mùa xuân điều quan trọng bậc nhất là phải tránh giận dữ bằng mọi biện pháp để dưỡng Can huyết, bổ Can khí.
     Trước tiên là tăng cường tu dưỡng đạo đức và rèn luyện về ý chí, bồi dưỡng những tính cách tốt. Thường ngày tu dưỡng về tính tình, rèn luyện về tình cảm đạo đức, gặp việc tự nhiên sẽ không dễ tức giận.
     Thứ hai là kìm nén bằng lí trí, tự khống chế mình bằng ý thức, gặp việc đáng giận dữ, trước hết hãy suy nghĩ từ đạo lí lớn là dưỡng sinh, nghĩ tới cái nguy hại về giận dữ đối với cơ thể mình, sau đó gạt bỏ đi một cách tự giác. Dùng lí trí khắc phục sự  bừng bừng nóng nảy trong lòng, khiến tình cảm không lâm vào trạng thái quá khích. Trong phim Lâm Tắc Từ, Lâm Tắc Từ đã viết hai chữ “nén giận” trên  một tờ giấy to dán lên tường, đó tức là ông ta đã mượn thứ văn tự không có tiếng nói để nén nỗi tức giận trong lòng mình. Trong cuộc sống hàng ngày, nhiều người đã dán lên bàn hoặc đầu giường của mình những câu cảnh báo đại loại như “nén giận”,”bớt giận”,”gặp việc không cáu giận”…và coi đó là  những đức tin trong cuộc sống của mình.
     Thứ ba là phải tìm cách giải tỏa những nỗi niềm uất ức trong lòng, khôi phục lại trạng thái tâm lí bình thường. Những hành vi như nổi nóng, chửi bới, đập phá đồ vật...cũng là cách để trút giận, nhưng trút giận như thế chẳng những không giải quyết được vấn đề mà còn làm phương hại đến tình cảm của người khác, gây tổn thất của cải. Hiện nay, một số quốc gia đã thiết kế ra phương pháp xả giận hiệu nghiệm gọi là liệu pháp kêu gào. Phương pháp này thông qua sự kêu gào cấp thiết, cuồng loạn, mạnh mẽ khiến cho những phẫn nộ trong lòng được xả ra làm con người như thể được sống trở lại với tuổi thơ, được hưởng cái hạnh phúc tự do của những năm tháng vô ưu vô tư , từ đó đưa trạng thái tinh thần tâm lí được bình ổn trở lại. Ông Matsuka Saiwashitasu (Nhật Bản) đã cho thiết kế một người nộm cao su “Matsuka Sai washitasu” ngay tại công ty của ông, bên cạnh đó đặt sẵn roi da và gậy gỗ để công nhân một khi có điều gì bất mãn, tức giận, uất ức…có thể dùng roi da hoặc gậy gỗ mà nện vào người nộm thật lực. Ngoài ra, cũng có thể xả giận bằng lời nói. Mỗi khi lâm vào trạng thái tức giận, trước hết cần bình tĩnh, kìm nén tình cảm của mình, sau đó tìm cách thổ lộ tất cả với những người thân cuả mình (nói trực tiếp hoặc thông qua thư tín) để nhận được những lời khuyên giải hoặc an ủi  làm cho tình cảm được cân bằng trở lại. Vậy nên, việc mở rộng quan hệ xã hội, kết giao rộng rãi với bạn bè là biện pháp hữu hiệu để giải tỏa nỗi niềm tức giận trong lòng.
     Thứ tư là sử dụng phương thức chuyển đổi, nghĩa là tìm cách chuyển vùng hưng phấn khi tức giận trên não bộ bằng một vùng hưng phấn mạnh mẽ khác. Chẳng hạn, khi sắp nổi giận có thể cố ép mình đi làm một việc gì đó mà thường ngày mình cảm thấy rất hứng thú như nghe ca hát, nghe nhạc, thưởng thức danh hoạ hoặc đi dạo gót ở những nơi có lợi cho sự thư giãn tinh thần. Trẻ nhỏ ngây thơ hoạt bát thường dễ làm cho người ta trở lại với trạng thái bình tĩnh, do vậy, chơi đùa với trẻ  cũng là một  biện pháp hữu hiệu cho việc xả cơn tức giận.
     Nói tóm lại, trong cuộc sống, những tình cảm gịân dữ thường khó tránh khỏi, song chỉ cần xử trí một cách có lí trí, tự tìm ra một phương pháp xả giận thích hợp với bản thân mình thì những giận dữ có hại vẫn có thể tránh được.
     Duy trì sự vui vẻ thoải mái về tinh thần còn cần phải có tư tưởng thoả mãn niềm vui. Nhiều điều phiền muộn, âu lo đều do sự hưởng thụ không đầy đủ cũng như lòng tham vô đáy gây ra. Tham lam hoặc không thoả mãn thì thường muốn tranh cướp, hao tâm tổn tứ, song kết quả thường không đạt được như ý muốn thì lại càng thêm phiền não, hại thân mình và đâm ra tổn thọ. Mà những người thoả mãn không nên ước vọng quá cao, luôn cảm thấy rất thoả mãn bất kể ở vào địa vị thế nào và được đãi ngộ như thế nào, gặp sao cũng được, tư tưởng thoải mái,trong lòng điềm tĩnh, vô lo vô nghĩ, tinh thần luôn ở vào trạng thái cân bằng. Lý Đông Viên, một trong bốn danh y thời Kim Nguyên (Trung Quốc) đã từng nói: “Mọi việc tuân theo lẽ tự nhiên, không tham lam, không nóng vội, không ngông cuồng”, tức là nói phàm gặp việc không được nôn nóng, luôn tin rằng “trăng đến rằm trăng tròn”, “quả chín khắc rụng”, kiên nhẫn chờ đợi thời cơ chín muồi là có thể hi vọng đạt được ước vọng.
     Bồi dưỡng những niềm say mê ham thích nhất định làm cho cuộc sống thường ngày phong phú đa dạng, có thể tích cực chủ động giữ cho trạng thái tinh thần luôn luôn vui vẻ thoải mái, cầm kì thi hoạ, hưởng lãm hoa cỏ, du lịch núi sông…đều là những biện pháp vui chơi sảng khoái hàng ngày. Sách Thọ thân dưỡng lão tân thư của Trâu Huyễn đời Nguyên có nói đến “mười thú” mang đặc điểm văn hoá của Trung Hoa : Đọc sách hiểu nghĩa lí, học phép tô chữ, lắng lòng tĩnh toạ, tâm sự với bạn tốt, uống ít say vừa, tưới hoa trồng trúc, nghe đàn dỡn hạc, thắp nhang pha trà, leo thành ngắm núi, ngụ ý trong ván cờ …đều là những đạo lí và phương pháp thực dụng để tu dưỡng tinh thần thể xác làm cho tâm hồn điềm tĩnh thoải mái.
Nói tóm lại, dưỡng sinh mùa xuân thể hiện trên mặt tinh thần, thì phải làm cho ý chí nảy sinh, phải làm cho tinh thần sảng khoái, khí huyết điều hoà, không nên đè nén tình cảm, đồng thời cũng phải kìm nén sự giận dữ, tránh để thương Can tạng. Làm cho dương khí trong con người phát triển tràn trề phù hợp với qui luật tự  nhiên của dương khí mùa xuân, vạn vật sinh sôi nảy nở, cũng thuận theo can khí thăng phát mà làm cho thân thể được khoẻ mạnh.

                                                                                Hoàng Khánh Toàn



Cứu huyệt dưỡng sinh

CỨU HUYỆT DƯỠNG SINH MÙA XUÂN


     Cứu huyệt là phương pháp dùng sức nóng tác động lên huyệt vị châm cứu để điều hoà âm dương khí huyết, ôn thông kinh lạc, phù chính khu tà nhằm đạt được mục đích bảo kiện sinh mệnh (bảo vệ và nâng cao sức khoẻ), phòng chống bệnh tật và kháng lão ích thọ diên niên (chống lão hoá và kéo dài tuổi thọ). Theo y học cổ truyền, cứu huyệt có tác dụng điều tiết và lập lại cân bằng âm dương, bổ dưỡng và điều hoà khí huyết, làm ấm và lưu thông kinh mạch, duy trì và cải thiện công năng các tạng phủ, bảo vệ và nâng cao sức đề kháng của cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh. Sách Biển Thước tâm thư đã viết : “Nhân vu vô bệnh thời, thường cứu quan nguyên, khí hải, mệnh môn, trung quản, tuy vị đắc trường sinh, diệc khả bảo bách dư niên thọ hĩ”.
     Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, cứu huyệt có tác dụng điều chỉnh và tăng cường công năng miễn dịch ; kháng khuẩn, tiêu viêm, giảm đau và chống quá mẫn ; thúc đẩy quá trình tạo máu và chống đông máu; làm hạ mỡ máu, điều tiết đường máu và giảm béo ; cải thiện vi tuần hoàn, thúc đẩy huyết dịch lưu thông và điều hoà huyết áp ; điều tiết chức năng hệ tiêu hoá, hệ thần kinh, nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống tuyến yên - tuyến thượng thận và các tuyến nội tiết khác ; tăng cường khả năng chống lạnh cho cơ thể ; chống ung thư và làm chậm quá trình lão hoá...Có nhiều phương thức cứu huyệt khác nhau, cách lựa chọn huyệt vị để cứu cũng rất phong phú, dưới đây xin được giới thiệu ba phương pháp điển hình

1. Cứu huyệt Túc tam lý.
     Túc tam lý là huyệt nằm trên đường kinh Vị, có công dụng điều lý tỳ vị, kiện vận tỳ dương, ôn trung tán hàn, bổ trung ích khí, điều hoà khí huyết, tuyên thông khí cơ, đạo khí thượng hành, phù bản cố nguyên, bổ hư cường thân. Y thư cổ có câu : “Đỗ phúc Tam lý lưu”, ý muốn nói cứu huyệt vị này có thể phòng chống các bệnh lý đường tiêu hoá. Sách “Thiên kim phương” cũng cho rằng huyệt này “chủ về phúc trung trướng mãn, tràng trung lôi minh, khí thượng xung hung”. Trong dân gian Nhật bản lưu truyền câu tục ngữ : “Nhược yếu an, Tam lý mạc yếu can”, nghĩa là muốn khoẻ mạnh và sống lâu thì huyệt Túc tam lý không được để cho khô, ý là phải cứu huyệt vị này liên tục. Bởi vậy, Túc tam lý còn được gọi là Trường thọ huyệt hay Vô bệnh trường thọ huyệt.
     Nghiên cứu hiện đại cho thấy, cứu Túc Tam lý đặc biệt có tác dụng kháng lão rõ rệt thông qua việc cải thiện hàng loạt các chỉ tiêu về tuần hoàn, hô hấp, thần kinh, tiết niệu, nội tiết, miễn dịch và vận động ở người có tuổi và cao tuổi. Cách xác định huyệt : sờ bờ trước xương ống chân (mào chày) từ dưới cổ chân ngược lên, đến gần khớp gối ngón tay bị mắc lại ở đâu thì đó là lồi củ trước xương chày, từ đây đo ngang ra ngoài một khoát ngón tay là vị trí của huyệt, khi ấn có cảm giác tê tức lan xuống bàn chân.

2. Cứu huyệt Tuyệt cốt
     Còn gọi là huyệt Huyền chung, là huyệt nằm trên đường kinh Đởm, có công dụng bình can tức phong, tăng tinh ích tủy, thư cân hoạt lạc, lý khí chỉ thống. Y thư cổ “Tuân sinh bát tiên” viết : “Vào đầu tháng hai,nên cứu Tuyệt cốt 7 mồi để tiết độc khí, sang mùa hè sẽ không còn bệnh cước khí xung tâm nữa”. Sách “Giáp ất” cho rằng : “Tuyệt cốt là lạc huyệt của Túc tam dương” hay nói khác đi là đại lạc của ba kinh dương là Túc thiếu dương, Túc thái dương và Túc dương minh nên có công dụng bổ dương. Nếu như chứng âm hư thì phải bổ huyệt Tam âm giao để dưỡng âm thì trong chứng dương hư phải bổ huyệt Tuyệt cốt để tráng dương.
     Nghiên cứu hiện đại cho thấy, cứu Tuyệt cốt cũng có tác dụng nâng cao sức miễn dịch, chống lão hóa và kéo dài tuổi thọ. Các nhà y học cổ truyền Trung quốc thường dùng huyệt vị này để điều trị các bệnh lý liên quan đến xương tủy, đặc biệt là tình trạng thiếu máu, suy tủy, giảm thiểu bạch cầu. Cách xác định huyệt : đo từ mắt cá ngoài chân lên ba thốn, sát bờ trước xương mác, ấn vào có cảm giác tê tức. Khi cứu Tuyệt cốt cần chú ý cứu cho tới khi da ửng hồng lên, cảm giác ngứa chuyển thành đau là được.

3. Cứu huyệt Thần khuyết
     Là huyệt nằm ở trung tâm của rốn, thuộc mạch Nhâm, có công dụng ôn bổ nguyên khí, kiện vận tỳ vị, hồi dương cứu nghịch. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, cứu huyệt Thần khuyết đặc biệt có tác dụng điều tiết và nâng cao năng lực miễn dịch của cơ thể, bảo hộ niêm mạc và cải thiện công năng hấp thu của đường tiêu hoá. Thần khuyết thường được cứu cách muối, cách gừng hoặc cách bột thuốc. Trong dân gian lưu truyền một phương pháp cứu Thần khuyết rất độc đáo có tác dụng bảo kiện trường thọ cực tốt, có tên gọi là Thần khuyết cứu tề pháp : lấy sinh ngũ linh chi 24g, thanh diêm 15g, nhũ hương 3g, một dược 3g, dạ minh sa 6g (sao qua), mộc thông 9g, can thông đầu 6g, xạ hương một chút xíu, tất cả đem tán thành bột thật mịn. Khi cứu, lấy vài thìa bột mì hoà với nước rồi nặn thành cái vành tròn úp ngay ngắn lên lỗ rốn, lấy 6g bột thuốc đổ vào lỗ rốn rồi dùng một miếng vỏ cây hoè mà đốt bởi một nén hương, cứ bao nhiêu tuổi là bấy nhiêu lửa, mỗi tháng cứu 1 lần, cứu vào giờ Ngọ là tốt nhất.
     Y thư cổ “Vệ sinh chân quyết” của La Hồng Tiên thời nhà Minh (Trung Quốc) đặt tên cho phương pháp này là “Cách chưng tê cố cơ của Tây Vương Mẫu” vì tương  truyền rằng cách cứu huyệt vị này được Tây Vương Mẫu truyền cho Đông Phương Sóc, Đông Phương Sóc truyền cho Bão Phác Tử, Bão Phác Tử truyền cho Bành Tổ, Lưu Hải và Lã Tổ mà giữ gìn cho đến ngày nay. Trên thực tế, trong thời buổi hiện đại, nhịp sống hết sức bận rộn khẩn trương, chúng ta có thể tự chế hoặc mua những mồi hoặc điếu ngải chế sẵn rồi cứu cách gừng, cách tỏi hoặc cách muối vào rốn thường xuyên cũng có tác dụng rất tốt trong việc nâng cao sức khoẻ, dự phòng bệnh tật và kéo dài tuổi thọ.


                                                                                       Hoàng Khánh Toàn

Chủ Nhật, ngày 11 tháng 1 năm 2015

Quan niệm sai lầm về bất lực

NHỮNG QUAN NIỆM SAI LẦM
KHI DÙNG ĐÔNG Y TRỊ LIỆU BẤT LỰC


     Thường thì, khi lâm vào trạng thái bất lực ở các mức độ khác nhau, cánh “mày râu” hay tìm đến đông y để tư vấn và trị liệu. Đó là một thói quen tốt, bởi lẽ trong lĩnh vực này các biện pháp của y học cổ truyền tỏ ra có nhiều thế mạnh. Nhưng, điều đáng nói ở đây là, nhiều khi cả thầy thuốc và người bệnh đều bị mắc phải những quan niệm sai lầm không đáng có, từ đó dẫn đến hậu quả người bệnh thì “tiền mất tật mang”, còn thầy thuốc thì suy giảm uy tín. Vậy, những sai lầm đó là gì ?
     Trước hết, là quan niệm cho rằng : nguyên nhân của chứng bất lực chính là do “thận hư”. Vì nhiều lý do khác nhau, khi lâm vào trạng thái bất lực không ít bệnh nhân nghĩ ngay rằng : thận của mình quá kém và tự động đi tìm những vị thuốc đông y có tác dụng bổ thận tráng dương để trị liệu. Quan niệm này lại càng trở nên sâu sắc khi không may họ được tư vấn bởi các “lang băm” chính hiệu. Xét trên cả hai phương diện lý thuyết và thực tiễn thì điều đó là hết sức sai lầm.
     Theo y học cổ truyền, bất lực thuộc vào phạm vi chứng “dương nuy” mà nguyên nhân gây nên rất phức tạp như : tình chí uất kết (yếu tố tâm lý, tình cảm), ẩm thực bất điều (ăn uống không hợp lý), lục dâm xâm nhập (các yếu tố gây bệnh từ bên ngoài như hàn, thấp), phòng sự quá độ (sinh hoạt tình dục bừa bãi), niên cao thể nhược (tuổi cao sức yếu), cửu bệnh sở luỵ (bị bệnh lâu ngày), bẩm thụ tiên thiên bất túc (di truyền, tật bệnh từ nhỏ)...Những nguyên nhân này làm rối loạn công năng các tạng phủ, trực tiếp hoặc gián tiếp gây nên chứng dương nuy với nhiều loại hình bệnh lý khác nhau như Can khí uết kết, Can kinh thấp nhiệt, Tâm tỳ lưỡng hư, Khí trệ huyết ứ, Hàn ngưng can mạch, Khủng nộ thương thận, Thận dương hư tổn,   m hư hoả vượng và theo đó, biện pháp trị liệu cũng không giống nhau. Ví như, với thể bệnh bất lực do Tâm tỳ lưỡng hư  (hai tạng Tâm và Tỳ cùng hư tổn dẫn đến) thì phương thức trị liệu phải là Kiện tỳ dưỡng tâm, an thần định chí và lấy cổ phương Quy tỳ thang làm bài thuốc chủ đạo để gia giảm.
     Thực tế lâm sàng cho thấy, không ít người ở vào độ tuổi 20 - 40 lâm vào tình trạng bất lực nhưng cơ thể vẫn hoàn toàn khoẻ mạnh, không hề có các biểu hiện của hội chứng Thận hư (thận theo quan niệm của đông y) như đầu choáng mắt hoa, lưng đau gối mỏi, tai ù tai điếc, răng long tóc rụng...Phần lớn nguyên nhân gây nên bất lực ở họ là do yếu tố tâm lý tình cảm (tình chí uất kết) tác động trước hết đến các tạng như Can, Tâm và Tỳ, tạo nên những thể bệnh như Can khí uất kết, Tâm tỳ lưỡng hư...
     Thứ hai, là quan niệm cho rằng chỉ cần dùng những vị thuốc và bài thuốc có công dụng bổ thận tráng dương là có thể chữa khỏi bệnh bất lực, từ đó đi đến việc sùng bái thuốc tráng dương, cường dương. Quan niệm sai lầm thứ hai này là hệ quả tất yếu của quan niệm thứ nhất. Nhưng điều đáng nói là, trong khi bản thân người bệnh không có kiến thức chuyên môn và đang rất hoang mang thì một số "lang băm" và người kinh doanh đông dược lại vô tình hoặc cố ý khuếch đại một cách quá mức về công dụng của thuốc bổ thận tráng dương khiến cho "con bệnh" vì quá tin mà lạm dụng. Hậu quả là, bệnh trạng của người bệnh không những không được cải thiện mà có khi còn trở nên tồi tệ hơn, thậm chí dẫn đến những tác dụng phụ không mong muốn như căng thẳng thần kinh, mất ngủ, lở loét miệng, chảy máu chân răng, mụn nhọt, khô miệng, tăng huyết áp...Đối với những người bị bệnh bất lực do dùng tân dược để trị liệu cao huyết áp, bệnh lý mạch vành, đái đường... thì việc dùng nhầm hoặc lạm dụng các thuốc cường dương, ôn nhiệt là hết sức nguy hiểm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nếu dùng kéo dài thuốc tráng dương có thể gây ức chế sự hưng phấn của trục nội tiết Vùng dưới đồi - Tuyến yên - Tinh hoàn vốn có vai trò rất lớn trong việc cường dương. Hơn nữa, lạm dụng thuốc tráng dương có thể còn làm cho tuyến tiền liệt ở nam giới phì đại nhanh chóng và dễ dẫn đến trạng thái ung thư hoá.
     Cuối cùng, là quan niệm cho rằng khi bị bất lực thì không nên sinh hoạt tình dục (tuyệt dục). Đương nhiên, khi cơ thể suy yếu thì việc tiết dục là hết sức cần thiết để bảo tồn tinh khí và giữ gìn sức khoẻ. Một con ngựa què thì đừng cố bắt nó leo dốc, nhất là khi lại phải kéo một chiếc xe bánh vuông. Tuy nhiên, ngoại trừ những trường hợp bị bất lực ở mức độ nặng, nghĩa là không thể "hành sự" được, còn thì với mức độ nhẹ và vừa thì vẫn nên duy trì sinh hoạt tình dục với tần số thích hợp dù cho tỉ lệ thành công không cao. Điều này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng vì không chỉ có tác dụng giải toả về mặt tâm lý mà còn tạo ra những kích thích có tính hưng phấn rất cần cho sự phục hồi của bệnh trạng. Ngay cả với những trường hợp bất lực ở mức độ nặng nếu như không có sự gần gũi với người khác giơí, không có sự động viên, khích lệ, ve vuốt của người bạn đời thì dẫu cho thuốc có hay đến mấy kết quả trị liệu cũng rất hạn chế. Khi có ham muốn tình dục nhưng lại ở trong tình trạng một thời gian dài không phóng tinh thì sẽ phát sinh hậu quả "ức chế tình dục". Theo y học cổ truyền, việc ái ân có thể khơi thông ngũ tình, làm cho can khí thông suốt, tâm huyết điều đạt, tuyệt dục lâu ngày thì can khí không điều hoà, khí huyết ứ trệ, từ đó mà không đạt được mục đích dưỡng sinh. Bởi vậy, Cát Hồng, y gia trứ danh đời Tấn (Trung Quốc) đã nói : "Âm dương bất giao, thương dã", nghĩa là : không giao hợp thì sẽ gây thương tổn. Thiên "Liệt dương" sách Phùng thị cẩm nang bí lục (đời Thanh, Trung Quốc) viết : "Dương uỷ hữu khốn ư cửu khoáng, mạch đạo bế tuyệt. Cái lưu thuỷ bất ô, hộ xu bất hủ, vật chi thường giả...do đạo lộ chi dụ thân dụ cận, nhật viễn nhật sơ dã" (liệt dương có cái khó ở thảnh thơi lâu, đường mạch mất tiêu. Nói chung nước chảy không đục, cửa quay không mục, vật ấy bình thường...như thân như gần con đường, vừa xa vừa lạ). Cấm dục lâu ngày sẽ làm cho tinh huyết ứ tắc, dương vật không được nuôi dưỡng mà teo yếu đi. Sách Tố nữ kinh cũng viết :"Ngọc kinh bất động, tắc bích kỳ xá, ứng thường hành khí đạo dẫn" (dương vật bất động thì chết mất, phải thường thực hiện để nó khởi dậy).

                                                                                  Hoàng Khánh Toàn
    


KInh nghiệm dân gian chữa tự hãn

KINH NGHIỆM DÂN GIAN TRỊ LIỆU CHỨNG TỰ HÃN
  

     Tự hãn là chứng bệnh mà mồ hôi tự chảy ra ở toàn thân hay tại chỗ không phải vì hoạt động gắng sức, vì thời tiết nóng bức hay vì mặc quá nhiều quần áo...Theo y học hiện đại, tự hãn là một triệu chứng thường thấy trong nhiều bệnh lý như suy tuyến giáp, rối loạn thần kinh thực vật, thấp khớp, lao, hạ đường huyết, giai doạn hồi phục của một số bệnh truyền nhiễm...
     Trong y học cổ truyền, tự hãn được phân thành ba thể bệnh : (1) Dinh vệ bất hoà : vã mồ hôi nhiều kèm theo triệu chứng sợ gió, toàn thân đau nhức, có thể có cảm giác sốt nhẹ, đau đầu, đau gáy, mạch phù hoãn, rêu lưỡi trắng mỏng ; (2) Phế tỳ khí hư : có bệnh lý đường hô hấp mạn tính, nhất là bệnh lý hen suyễn, mệt mỏi như mất sức, mồ hôi vã ra nhiều ngay cả khi nghỉ ngơi, sắc mặt nhợt nhạt, ăn kém, chậm tiêu, dễ rối loạn tiêu hoá, mạch hư nhược, rêu lưỡi trắng mỏng ; (3) Lý nhiệt chưng bức : có cảm giác nóng bức phát sốt, vã mồ hôi toàn thân hay ở đầu, tay chân hoặc nửa người, môi khô miệng khát, mắt đỏ, thích uống nước lạnh, ngực bụng đầy tức, nóng lòng bàn tay và bàn chân, tinh thần bức bối, tiểu tiện sẻn đỏ, đại tiện táo kết, mạch hoạt sác hoặc trầm thực, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dính hoặc vàng khô.
     Về mặt trị liệu, ngoài việc sử dụng các biện pháp dùng thuốc hay không dùng thuốc theo quan điểm biện chứng luận trị, y học cổ truyền còn vận dụng những kinh nghiệm dân gian hết sức phong phú. Dưới đây, xin được giới thiệu một số ví dụ điển hình để bạn đọc có thể tham khảo và vận dụng khi cần thiết.

@ Day bấm huyệt
     Hàng ngày, dùng ngón tay cái hay ngón tay trỏ day bấm hai huyệt Quan nguyên và Khí hải theo chiều kim đồng hồ với một lực vừa phải, mỗi huyệt chừng 2 phút, nhằm mục đích ôn dương liễm hãn (làm phấn chấn dương khí mà cầm mồ hôi). Vị trí huyệt Quan nguyên : lấy ở điểm nối 3/5 trên và 2/5 dưới của đoạn nối rốn và điểm giữa bờ trên xương mu. Vị trí huyệt Khí hải : lấy ở điểm nối 1,5/5 trên với 3,5/5 dưới của đoạn nối rốn và điểm giữa bờ trên xương mu.

@ Thuốc sắc
     Có thể dùng một trong những bài thuốc : (1) phù tiểu mạch 30g, ma hoàng căn 9g, sắc kỹ, chia uống hai lần sáng và chiều ; (2) Đậu đen 100g, táo đỏ 20 quả, hoàng kỳ 50g, sắc uống ; (3) Nhân sâm 5g, hoàng kỳ 20g, bạch truật 12g, cam thảo 6g, ngũ vị tử 8g, sắc uống ; (4) Phù tiểu mạch 50g, long nhãn 12g, táo đỏ 6 quả, cam thảo 10g, sắc uống ; (5) Mộc nhĩ 20g, lá dâu 30g, đại táo 6 quả, sắc uống ; (6) Nhân sâm 9g, hoàng kỳ 9g, bạch truật 9g, bạch linh 9g, táo nhân 9g, bạch thược 9g, thục địa 9g, sinh mẫu lệ 9g, ô mai 9g, phù tiểu mạch 12g, đại táo 6 quả, sắc uống.

@ Trà dược
     Có thể chọn dùng một trong những loại trà dược : (1) Lá trà 3g, bạch truật 12g,  hoàng kỳ 15g, phù tiểu mạch 25g, cam thảo 3g ; (2) Bạch nhân sâm 6g, liên nhục 10g, đường phèn vừa đủ ; (3) Thái tử sâm 15g, bách hợp 15g, sa sâm 15g, kẹo mạch nha 50g ; (4) Kỷ tử 20g, ngũ vị tử 9g. Cách dùng : Tất cả các vị thuốc trong mỗi loại trà dược đều sấy khô, tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 - 20 phút là có thể dùng được, uống thay trà trong ngày.

@ Thuốc bột
     Dùng nhân sâm 10g, mạch môn 15g, ngũ vị tử 15g, ba thứ sấy khô, tán bột, đựng trong lọ kín dùng dần, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g với nước ấm. Công dụng : ích khí sinh tân, liễm âm chỉ hãn. Đây chính là bài thuốc cổ Sinh mạch ẩm hay còn gọi là Sinh mạch tán, trong đó Nhân sâm bổ phế ích khí và làm sinh dịch mới, Mạch môn dưỡng âm thanh phế, ngũ vị tử bổ ích tâm khí, liễm phế và cầm mồ hôi, ba vị hợp dùng : một bổ, một thanh, một liễm làm cho phần khí được hồi phục, phần âm được bổ sung và mồ hôi không vã ra nữa.

@ Món ăn - bài thuốc (dược thiện)
     Có thể chọn dùng một trong những món ăn - bài thuốc : (1) Tim lợn 1 quả, hoàng kỳ 15g. Tim lợn bổ đôi rồi cho hoàng kỳ vào trong, dùng chỉ khâu kín lại, đem hầm chín ăn ; (2) Thịt gà 250g, phù tiểu mạch 30g, ngũ vị tử 10g. Thịt gà rửa sạch, thái miếng rồi đem hầm với phù tiểu mạch và ngũ vị tử, khi chín chế thêm gia vị, dùng làm canh ăn ; (3) Hoàng kỳ 30g, táo đỏ 5 quả, gạo tẻ 100g. Sắc kỹ hoàng kỳ, lấy nước bỏ bã rồi cho gạo tẻ và táo đỏ vào nấu nhừ thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày ; (4) Cá trạch 5 con, gừng tươi 5 lát, hoàng kỳ 25g, đẳng sâm 25g, hoài sơn 50g, táo đỏ 5 quả. Cá trạch làm sạch, rán vàng rồi đem hầm cùng các vị thuốc, khi chín chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.

@ Đắp thuốc
     Chọn dùng một trong những phương pháp đắp thuốc : (1) Ngũ bội tử và long cốt nung lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, dùng lượng vừa đủ trộn với nước chín rồi đắp vào rốn, bên ngoài cố định bằng băng keo ; (2) Ngũ bội tử 20g, phèn phi 15g, hai thứ sấy khô, tán bột, mỗi lần dùng 3g trộn với nước chín rồi đắp vào rốn, bên ngoài cố định bằng băng keo ; (3) Ngũ bội tử, ngũ vị tử và phù tiểu mạch lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, mỗi lần lấy một ít trộn với nước chín rồi đắp vào rốn ; (4) Uất kim 30g, ngũ bội tử 9g, hai thứ sấy khô, tán bột, mỗi lần lấy 10 - 15g trộn với mật ong rồi đắp vào hai đầu vú, cố định bên ngoài bằng băng keo.

@ Tắm thuốc (dược dục)
     Có thể chọn dùng một trong những cách tắm thuốc : (1) Mạch môn 30g, ngải cứu 30g, ngũ vị tử 50g, hoàng bá 40g. Các vị sắc kỹ lấy nước bỏ bã, chế thêm nước nguội rồi tắm ngâm toàn thân hoặc bộ phận nơi kín gió ; (2) Hoàng kỳ 150g, ma hoàng căn 120g, bạch truật 100g, phòng phong 100g, bạch chỉ 100g, ngải cứu 100g. Tất cả sắc kỹ trong 30 phút, bỏ bã lấy nước, chế thêm nước nguội rồi tắm ngâm toàn thân hoặc bộ phận chừng 20 phút, mỗi ngày 2 lần ; (3) Hoàng bá 30g, long cốt 30g, phèn chua 10g, ngũ bội tử 15g, uất kim 15g, hòe hoa 15g. Tất cả đem sắc kỹ trong 30 phút, đổ ra chậu, trước xông hơi sau ngâm rửa bộ phận hay đổ mồ hôi chừng 30 phút, mỗi ngày làm 2 lần sáng và chiều.

@ Cứu huyệt
     Chọn dùng một trong hai cách : (1) Dùng điếu ngải cứu huyệt Âm khích trong 30 phút, mỗi ngày 1 lần. Cách làm điếu ngải : lấy lá ngải cứu phơi khô trong bóng râm, cho vào cối giã thật mịn, loại bỏ gân xơ rồi dùng giấy mỏng cuốn thành từng điếu như cuốn thuốc lá. Vị trí huyệt Âm khích : dùng ngón tay cái đặt trên lằn chỉ cổ tay ngay dưới ô mô út thấy có một cục cứng, đó là xương đậu, từ đây đo lên phía trên cẳng tay 0,5 tấc để lấy huyệt ; (2) Hoàng kỳ 20g, ngũ bội tử 10g, phù tiểu mạch 10g, phòng phong 15g, bạch truật 20g, uất kim 10g. Tất cả tán mịn, lấy lượng vừa đủ trộn với rượu trắng rồi đắp lên rốn và huyệt Khí hải, tiếp đó đốt điếu ngải cứu lên phía trên, mỗi huyệt chừng 30 phút, mỗi ngày 1 lần.
     Có thể nói, kinh nghiệm dân gian để chữa chứng tự hãn là hết sức phong phú. Để thu được hiệu quả cao và bền vững, khi trị liệu tùy theo điều kiện nên chọn dùng từ 2 - 3 phương pháp hoặc hơn. Điều cần lưu ý là phải  thực hành đúng kỹ thuật và thật sự kiên trì.

                                                                               Hoàng Khánh Toàn