Thứ Năm, ngày 07 tháng 1 năm 2016

TESTOSTERON VÀ MÃN DỤC NAM

TESTOSTERONE VỚI HỘI CHỨNG MÃN DỤC NAM GIỚI


     Trong vài chục năm gần đây, ở nước ta, những cụm từ như “mãn dục nam”, “mãn kinh đàn ông”...được người ta quan tâm đến nhiều hơn không phải vì hội chứng này nguy hiểm nhiều hay ít đến tính mạng mà chính là sự ảnh hưởng của nó đến chất lượng cuộc sống, sức khỏe nói chung và sức khỏe tình dục nói riêng của các đấng “mày râu”. Có nhiều nguyên nhân khiến người ta lâm vào trạng thái không mong muốn này, nhưng một trong những cơ sở sinh học hết sức quan trọng chính là sự suy giảm nồng độ testosterone (TES) trong cơ thể.

1. Testosterone là gì ?
     Testosterone là một nội tiết tố nam quan trọng nhất, được tiết ra chủ yếu ở tinh hoàn. Nồng độ TES trong máu thay đổi trong ngày, cao nhất vào buổi sáng, thấp nhất vào buổi đêm, ở người trưởng thành chỉ số này dao động từ 10 đến 35 nmol/l, trung bình là 28 nmol/l. Lượng TES đạt đỉnh cao trong giai đoạn dậy thì, từ sau 30 tuổi, nồng độ TES trong máu giảm dần, đặc biệt là từ 40 tuổi trở đi, làm cho cơ thể người đàn ông có nhiều biến đổi sâu sắc.

2. Vai trò của TES ra sao ?
     Testosterone có ba chức năng chính : (1) Chức năng nam hóa, chịu trách nhiệm cho sự sinh trưởng và phát triển bình thường của cơ quan sinh dục nam như : dương vật, tinh hoàn, bìu, tuyến tiền liệt, túi tinh...; hình thành và phát triển đặc tính sinh dục nam thứ nhất như : tăng mọc lông tóc, mọc răng, giọng trầm, tăng sản sinh tuyến bã, hưng phấn và ham muốn tình dục, sự trưởng thành của tinh trùng. (2) Chức năng chuyển hóa, với đặc tính đồng hóa cao làm tăng tổng hợp protein, thúc đẩy quá trình phát triển của cơ bắp, kích thích tạo hồng cầu, làm tăng tốc độ phân bào và phục hồi sau chấn thương hay mệt mỏi. (3) Điều chỉnh số lượng TES sinh ra trong tổ chức tinh hoàn thông qua việc tác động vào trục nội tiết “Dưới đồi - Tuyến yên - Tinh hoàn”.

3. Những nguyên nhân nào làm suy giảm TES ?
     Trước hết, đó là sự lão hóa theo quy luật của tự nhiên. Tuổi tác càng cao, lục phủ ngũ tạng càng suy thoái, trong đó có các tuyến sinh dục, khiến cho lượng TES ngày càng suy giảm. Ngoài ra, còn phải kể đến các nguyên nhân mang tính bẩm sinh và mắc phải. Nguyên nhân bẩm sinh như rối loạn nội tiết tố bẩm sinh trong các hội chứng Klinefelter, hội chứng Kallmann...; không có tinh hoàn và tinh hoàn không xuống bìu. Nguyên nhân mắc phải như dùng nhiều các loại thuốc có tính chất kháng androgen,chấn thương hoặc phẫu thuật sọ não gây ảnh hưởng đến tuyến yên và vùng dưới đồi, nhiễm trùng, nhiễm xạ, chấn thương tinh hoàn, mắc một số bệnh lý như tiểu đường, suy tuyến yên, u tuyến yên, u tuyến thượng thận..., nhiễm những thói quen xấu như nghiện rượu, thuốc lá, ma túy...
4. Suy giảm TES gây nên hậu quả gì ?
     Suy giảm TES sẽ gây nên hội chứng mãn dục nam. Tình trạng này thường xuất hiện ở nam giới sau 30 tuổi, tác động rõ rệt nhất đến cơ thể sau độ tuổi 40 với hàng loạt các dấu hiệu như : toàn thân mệt mỏi, khó ngủ, ăn không ngon miệng, đau nhức xương khớp, tóc rụng và bạc nhiều, bụng to ra, cơ nhẽo đi, nóng bừng từng cơn, dễ vã mồ hôi, tim hay hồi hộp, hay quên, khó tập trung chú ý, lo sợ vô cớ, dễ cáu giận, mất hứng thú với những gì vốn ưa thích  trước đó, giảm hoặc mất ham muốn tình dục, không còn hưng phấn với những thứ khêu gợi dục tính, dương vật không còn cương cứng trong lúc ngủ và lúc sáng sớm, sinh hoạt tình dục thường gặp sự cố, giảm độ cương cứng khi giao hợp thậm chí có thể liệt dương, dễ mắc các bệnh tim mạch, tiểu đường...

5. Làm thế nào để phòng chống tình trạng suy giảm TES ?
     Nguyên tắc chung là phải chỉnh thể và tam nhân chế nghi, nghĩa là phải thực hành đồng bộ tất cả các biện pháp từ ăn uống, sinh hoạt, tập luyện, dùng thuốc...theo phương châm “tùy người mà dùng” (nhân nhân chế nghi), “tùy lúc mà dùng” (nhân thời chế nghi) và “tùy nơi mà dùng” (nhân địa chế nghi), trong đó các liệu pháp trực tiếp hay gián tiếp bổ sung và phục hồi lượng TES cho cơ thể có vai trò hết sức quan trọng.
* Liệu pháp thay thế hormone   
     Đây là biện pháp mà y học hiện đại thường sử dụng để trị liệu hội chứng mãn dục nam bằng cách đưa một lượng TES hợp lý vào cơ thể bằng nhiều con đường với các thể thức khác nhau như dạng uống (qua đường tiêu hóa), dạng tiêm bắp (qua mạch máu) và dạng qua da. Tuy nhiên, liệu pháp này cần hết sức thận trọng vì chứa đựng nhiều nguy cơ tiềm ẩn. Bổ sung TES tổng hợp là liệu pháp tức thời trong điều trị yếu sinh lý do giảm tiết TES máu. Liệu pháp này không thể sử dụng lâu dài vì có thể gây ra chứng vú to ở nam giới, vữa xơ động mạch, làm tăng nguy cơ phì đại hay ung thư tiền liệt tuyến ở người có tuổi. Hơn nữa, TES tổng hợp có thể gây ức chế sự tiết TES tự nhiên của cơ thể do đó làm giảm mạnh nồng độ TES tự nhiên sau khi ngừng sử dụng TES. TES tổng hợp còn ức chế sự hình thành và phát triển tinh trùng, do đó làm giảm chất lượng và số lượng tinh trùng.
* Liệu pháp thiên nhiên tăng cường sinh lực
     Đây là liệu pháp sử dụng các loại thực phẩm và sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên lấy từ động vật, thực vật và khoáng vật có tác dụng kích thích cơ thể tự tổng hợp TES một cách tự nhiên làm phục hồi nồng độ TES trong máu, đồng thời còn có công năng bồi bổ và nâng cao sức đề kháng của cơ thể, làm chậm quá trình mãn dục, chống lão hóa, duy trì sức xuân và phong độ cho nam giới. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, đây là liệu pháp có tính ưu việt, đảm bảo không gây ra các tác dụng không mong muốn như liệu pháp hormone thay thế.
     Ở nước ta, nền y học và dinh dưỡng học cổ truyền đã tích lũy rất nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng các loại thực phẩm, các vị thuốc và bài thuốc có tác dụng bồi bổ nguyên khí, tăng cường sinh lực, kích thích cơ thể sản sinh TES một cách tự nhiên. Về thực phẩm, ví như thịt chó, thịt dê, thịt hươu, tinh hoàn động vật, ngẩu pín, thịt chim sẻ, trứng chim cút, tắc kè, cá ngựa, tôm, cá hồi, trạch, lươn, trai, sò, hàu, hải sâm, hải long, con bổ củi, sữa ong chúa, ngài tằm, rau hẹ, hành củ, hạt dẻ, quả óc chó...Về dược phẩm, ví như các vị thuốc nhân sâm, đông trùng hạ thảo, dâm dương hoắc, tiên mao, nhục dung, tỏa dương, bạch tật lê, đỗ trọng, ba kích, tục đoạn, dương khởi thạch, kỷ tử, hoàng kỳ, cây bách bệnh, tầm gửi cây nghiến...Các thực dược phẩm này thường được sử dụng dưới dạng chế biến thành các món ăn, món ăn - bài thuốc (dược thiện), dạng thuốc sắc thông thường hoặc cao, đơn, hoàn, tán...
     Hiện nay, trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm quý báu của cổ nhân và bằng công nghệ hiện đại, người ta có xu hướng đi sâu nghiên cứu lựa chọn, bào chế và cho ra đời nhưng sản phẩm y học cổ truyền là thuốc hay thực phẩm chức năng dưới các dạng như viên nang mềm hoặc cứng, viên nén, trà tan, siro...rất thuận tiện trong bảo quản, vận chuyển và sử dụng, đảm bảo tuân thủ nghiêm nghặt những quy chuẩn của dược học hiện đại mà vẫn giữ được tính hiệu quả và bản sắc của y dược học cổ truyền.

                                                                                          ThS Hoàng Khánh Toàn
 

   

Hoa dưỡng sinh tình dục

NGÀY XUÂN, NÓI CHUYỆN DÙNG HOA DƯỠNG SINH TÌNH DỤC


     Trong y học cỏ truyền phương Đông, việc lựa chọn và sử dụng khá nhiều loài hoa để phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khỏe, kéo dài tuổi thọ đã có một lịch sử lâu đời. Người ta ước tính có đến hơn 100 loài hoa được dùng để chữa bệnh, bởi thế có câu “bách hoa trị bách bệnh”. Ngoài việc phòng chống những căn bệnh hay gặp trong đời sống thường nhật, hoa còn được cổ nhân dùng để ngăn ngừa và chữa trị những rối loạn bệnh lý, cải thiện và nâng cao năng lực hoạt động trong đời sống tình dục cho con người.
     Có khá nhiều loài hoa được sử dụng trong lĩnh vực này, ví như phượng vĩ tiêu hoa (hoa phượng vĩ), thạch lựu hoa (hoa lựu), kim anh hoa, ty qua hoa (hoa mướp), đinh hương hoa, kim tước hoa (hoa hoàng hậu), phỉ thái hoa (hoa hẹ ), cúc hoa, thích hòe hoa (hoa hòe gai), hạnh hoa, nguyệt lý hoa (hoa hồng), kê quan hoa (hoa mào gà), kỷ tử hoa…, trong đó có những loài hoa có công dụng bổ thận tráng dương, tăng cường sinh lực hết sức độc đáo ví dụ như tuyết liên hoa. Đây là một loại thảo dược lâu năm của chi hoa Cúc (Chrysanthemum genus). Tuyết Liên Hoa được coi là một trong những vị thuốc truyền thống quý hiếm Trung Quốc, xuất xứ từ Tân Cương. Loài hoa này sinh sống trong các vách đá và giữa các kẽ nứt băng giá, nơi vô cùng lạnh và được bao phủ trong tuyết quanh năm. Các loại hoa thông thường có thể không tồn tại ở những nơi như vậy, nhưng Tuyết liên Hoa nở rộ trong môi trường thiếu ôxy khi nhiệt độ dưới 0 độ C hàng chục độ. Thói quen tăng trưởng độc đáo và môi trường sống đã khiến Tuyết Liên Hoa trở thành thực vật hiếm có và đồng thời hình thành các chức năng độc đáo về dược tính với các hiệu ứng kỳ diệu. Tuyết Liên Hoa được vinh danh là "vua của tất cả các loại thảo mộc".
     Tuyết liên hoa được phát hiện ra vào đời nhà Thanh của Trung Quốc. Học giả Triệu Học Mẫn đã ghi lại cảm xúc của mình về loại hoa này như sau: “Giữa vùng núi quanh năm bao phủ tuyết trắng lại có một loại hoa kỳ lạ. Loại hoa cánh trắng vàng, nhụy đỏ tím mọc trên tuyết trắng này thuộc họ nhà cúc nhưng bông lại to như bông hoa sen. Giữa tuyết lại có hoa và đây là đệ nhất mỹ nhân trên đỉnh núi Thiên Sơn”. Loại hoa Tuyết liên đã sớm được sử dụng trong y học từ hàng trăm năm nay. Tuyết liên hoa có hình dáng yêu kiều. Người Tân Cương thường nói sở dĩ Tuyết liên có một hình dáng yêu kiều như vậy là do nó được kết tinh từ gió, mây và tuyết. Tuyết liên có rễ màu đen, lá xanh và thường treo mình trên các vách núi. Dân tộc Hán đã coi loại hoa này là một loại dược phẩm quý chuyên điều trị bệnh phong thấp, đau đầu, cao huyết áp, rối loạn kinh nguyệt, bệnh lý phụ khoa…và được dùng để bồi bổ sức khỏe, cải thiện miễn dịch, nâng cao năng lực tình dục không thua gì nhân sâm.
     Để phòng chống các bệnh lý liên quan đến chuyện “chăn gối” và dưỡng sinh tình dục, người xưa thường lựa chọn và sử dụng các loài hoa dưới dang thuốc sắc, hãm uống thay trà hoặc món ăn-bài thuốc. Dưới đây xin được giới thiệu với độc giả một số ví dụ điển hình
Bài 1 : Hoa phượng vĩ 60g, trứng gà 3 quả. Hai thứ rửa sạch, cho vào nồi nấu sôi, khi trứng chín vớt ra bóc bỏ vỏ rồi lại cho vào đun tiếp chừng 20-30 phút nữa là được, bỏ bã hoa, ăn trứng, uống nước chia làm vài lần trong ngày. Công dụng : tư âm dưỡng huyết, bổ thận cố tinh, đặc biệt tốt cho nam giới hay bị di tinh thuộc thể Âm hư hỏa vượng.
Bài 2 : Hoa phượng vĩ 200g, đường trắng 300g. Hoa phượng vĩ phơi hoặc sấy khô rồi sắc kỹ lấy nước, bỏ bã, cho đường vào nấu cô thành dạng cao đặc, đựng trong lọ thủy tinh dùng dần. Mỗi lần lấy 3g cao chế với nước sôi, uống thay trà, mỗi ngày 3 lần. Công dụng dưỡng âm nhuận táo, cố thận chỉ di, dùng để chữa chứng di tinh, đới hạ và cải thiện sinh lực.
Bài 3 : Hoa lựu 9-15g, thái vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng đượ, uông thay trà trong ngày. Công dụng : cố thận, tráng dương, sáp tinh, dùng cho các chứng di tinh, hoạt tinh, xuất tinh sớm và nâng cao sinh lực.
Bài 4 : Hoa kim anh lượng vừa đủ, sấy khô, tán vụn. Mỗi ngày lấy 3g đem hãm với nước sôi, trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà, mỗi ngày 2 lần. Công dụng : bổ tỳ dưỡng tâm, ích thận cố tinh, dùng cho các trường hợp di tinh, hoạt tinh, xuất tinh sớm, tiểu đêm nhiều lần, suy giảm ham muốn tình dục.
Bài 5 : Hoa mướp 6g, hạt sen 30g, hai thứ đem sắc lấy nước uống thay trà, mỗi ngày 2 thang. Bổ tỳ dưỡng tâm, ích thận cố tinh, dùng cho các trường hợp di tinh, hoạt tinh, xuất tinh sớm, tiểu đêm nhiều lần, suy giảm ham muốn tình dục.
 Bài 6 :  Hoa đào, hoa mai, hoa hòe, hoa hẹ, hoa tường vi, trầm hương mỗi vị 15g, hồ đào nhục 120, rượu nếp 1250 ml. Cho các vị thuốc vào bình, đổ rượu, bịt kín, ngâm trong 30 ngày, mỗi ngày lắc 1 lần, để ở nơi tối, mỗi ngày uống lượng tùy thích miễn là không say. Công dụng ích thận cố tinh, tráng dương khởi nuy, thường dùng để phòng chống liệt dương, xuất tinh sớm, vô sinh, suy giảm năng lực tình dục.
Bài 7 : Hoa đinh hương 40g, sà sàng tử 60g, hai vị sấy khô, tán vụn, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 10g với nước ấm. Công dụng : ôn thận tráng dương, thường dùng để phòng chống liệt dương, suy giảm ham muốn tình dục, tiểu đêm nhiều lần.
Bài 8 : Tuyết liên hoa 1 bông, đông trùng hạ thảo 3g, rượu trắng 500 ml. Cho 2 vị thuốc vào bình ngâm với rượu trong 7 ngày là dùng được, uống mỗi ngày 1-2 lần, mỗi lần 10-30 ml. Chú ý : bịt kín bình, để ở nơi tối, mỗi ngày lắc 1 lần. Công dụng : ôn thận tráng dương, dùng để chữa chứng liệt dương, suy giảm năng lực tình dục.\
Bài 9 : Kim tước hoa 50g, trứng chi cút 10 quả. Hai thứ rửa sạch cho vào nồi nấu sôi, khi trứng chín, vớt ra, bóc bỏ vỏ rồi lại cho vào nồi đun tiếp chừng 20 phút nữa là được, ăn trứng, uống nước, mỗi ngày 1 lần. Công dụng : tư âm bổ thận, ích khí kiện tỳ, dùng cho nam giới liệt dương, nam và nữ suy giảm ham muốn tình dục.
Bài 10 : Hợp hoan hoa, kỷ tử, mạch phạn thạch (còn gọi là trường thọ thạch hay thần tiên thach- maifanstone, một lại khoáng chất) mỗi thứ 20g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Công dụng : sơ can giải uất, tư âm bổ thận, thường dùng để chữa chứng liệt dương thuộc thể Can uất bất sơ, suy giảm ham muốn tình dục.
Bài 11 : Tuyết liên hoa 100g, đông trùng hạ thảo 50g, rượu trắng 1000 ml. Tuyết liên hoa thái vụn rồi cho cùng đông trùng hạ thảo vào bình, đổ rượu ngâm trong 15 ngày là dùng được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 15 ml. Chú ý bình rượu phải bịt kín, để ở nơi tối và mỗi ngày lắc 1 lần. Công dụng : bổ hư tráng dương, chuyên dùng để bồi bổ năng lực tình dục, chữa liệt dương, xuất tinh sớm, suy giảm ham muốn sinh lý.
Bài 12 : Hoa và lá hẹ mỗi thứ 60g, hạch đào nhân 30g, dầu vừng và gia vị vừa đủ, Hạch đào nhân đập vụn, hoa và lá hẹ rửa sạch, tất cả đem xào với dầu vừng, chế thêm gia vừa đủ, ăn nóng. Công dụng : bổ thận cường yêu, cố tinh tráng dương, chuyên dùng để trị liệu chứng liệt dương, suy giảm ham muốn tình dục.
Bài 13 : Hoa kỷ tử 12g, thịt lợn nạc 120g. Thịt lợn rửa sạch, thái miếng rồi cho vào nồi hầm nhừ cùng với hoa kỷ tử, chế đủ gia vị, ăn nóng trong ngày. Công dụng bổ can thân, tư âm nhuận táo, cầm huyết chỉ di, dùng để phòng chống chứng di tinh, hoạt tinh, nâng cao năng lực tình dục.
Bài 14 : Hoa cúc tươi 100g hoặc hoa hạnh nhân tươi 120g, tôm nõn 600g, trứng gà 2 quả, nước dùng gà, bột mì, hành hoa, gừng tươi, hạt tiêu và gia vị vừa đủ. Tôm nõn bổ đôi rồi đem ướp với lòng trắng trứng gà và gia vị, hoa cúc rửa sạch bứt lấy cánh hoa. Trước tiên, đem xào tôm nõn với dầu vừng rồi chế thêm nước dùng gà, khi sắp chín bỏ hoa cúc vào đun thêm vài phút là được. Công dụng : ôn thận tráng dương, dưỡng can minh mục, dùng cho nam giới bị liệt dương, nam nữ suy giảm ham muốn tình dục.
Bài 15 : Hoa hồng 9-15g, sắc uống. Hoặc hoa hồng 9g, trầm hương 15g, nguyên hoa sao 6g, cá diếc to 1 con, cá diếc làm sạch, các vị thuốc tán vụn cho vào trong bụng cá, đem hầm chừng nửa tiếng rồi ăn nóng. Công dụng : bổ thận kiện tỳ, chỉ di, dùng cho những trường hợp di tinh, hoạt tinh, xuất tinh sớm, khí hư…

                                                                             Hoàng Khánh Toàn

Một tấm gương mẫu mực trong quan hệ đồng nghiệp

MỘT TẤM GƯƠNG MẪU MỰC TRONG QUAN HỆ ĐỒNG NGHIỆP

     Lê Hữu Trác, hiệu Hải Thượng Lãn Ông, là một nhà y học lớn, một nhà tư tưởng lớn, một nhà văn xuất sắc của nước ta vào thế kỷ thứ 18. Di sản mà ông để lại cho hậu thế không phải chỉ là những trước tác đồ sộ về y học và văn học, mà cái còn có ý nghĩa sâu xa hơn là những tấm gương của ông về chủ nghĩa nhân đạo, tư tưởng đạo đức về phong cách đối nhân xử thế trong công việc và cuộc sống. Trong đó, mối quan hệ rất mực đúng đắn của ông đối với đồng nghiệp cũng là một bài học rất quý giá cho các thầy thuốc hậu thế.

1. Luôn luôn khiêm tốn, chịu khó học hỏi
     Mặc dù được sinh trưởng trong một gia đình dòng dõi, khoa bảng, từ nhỏ đã sớm nổi tiếng thông minh, học giỏi, hiểu rộng, thơ hay, đã từng được vời ra làm tướng võ và nổi tiếng là một thầy thuốc tài năng và đức độ vào những năm 35 - 40 tuổi, nhưng đối với đồng nghiệp Lãn Ông luôn luôn tỏ ra khiêm tốn hoà nhã, không khinh thường ai, không tự kiêu, tự đại, luôn luôn kính trên nhường dưới, chịu khó học hỏi. Trong “Âm án” ông viết : “Nghề thuốc là một nhân thuật, người thầy thuốc hẳn phải lấy việc giúp người là tốt, chứ cứu được một mạng người thì khoa chân múa tay để khoe khoang cho mọi người biết. Nhỡ có thất bại thì lại giấu nhẹm đi. Mấy ai không giấu cái điều xấu của mình mà dám đem sự thực nói với người khác”.
     Trong lúc hành nghề, Lãn Ông luôn luôn xử thế rất đúng đắn để giữ mối hoà hiếu và đoàn kết với đồng nghiệp. Khi được mời đến khám bệnh cho những bệnh nhân đã được các thầy thuốc khác điều trị nhưng không có hiệu quả, ông không hề khoe giỏi tranh hay, phủ định hay hạ thấp công lao của người khác mà ngược lại, nếu cần thiết, ông vẫn ôn tồn giảng giải, thuyết phục y lý với đồng nghiệp để đi đến thống nhất về chẩn đoán và trị liệu. Ngay cả khi viết lại những ca bệnh thành công trong đời làm thuốc của mình (Dương án) để mong làm kinh nghiệm cho hậu thế ông cũng rất khiêm tốn : “Tôi vẫn không dám đem ý kiến của mình mà khoe khoang làm mẫu mực với ai, chỉ cốt là ghi lại sự hết lòng với nghề như thế để lưu lại làm một cuốn tập nghiệm cho mình và cho nhà mình đó thôi”.

2. Đoàn kết trên tinh thần phục vụ người bệnh
     Đối với Lãn Ông, đoàn kết với đồng nghiệp không có nghĩa là nể nang câu nệ mà phải thẳng thắn phân tích, cương quyết bảo vệ chân lý khoa học trên cơ sở đặt lợi ích và tính mạng của người bệnh lên trên hết. Những lần đến chữa bệnh cho bà mẹ quan Thủ đồn Vĩnh Dinh hay hay ông Phó đội Huấn Vũ (Dương án số 4 và 5), Lãn Ông đã rất khiêm nhường nhưng cũng rất thẳng thắn tranh luận với lương y Điều hộ của đồn để đi đến khẳng định chẩn đoán và cách thức điều trị đúng đắn của mình với phương châm : ở người già  bị bệnh hư chứng nên dùng thuốc bổ chứ không dùng thuốc công. Ông luôn luôn nghĩ rằng : “Làm thầy thuốc là cốt để cứu sống người, hễ mắt đã trông thấy cái sai lầm mà còn e dè, không nói khẩn thiết, thì tất mình cũng chịu cái lỗi đó”
     Lãn Ông cũng thường tâm sự với đồng nghiệp : “Phàm trông thấy chứng nguy mà chịu phủi tay, đó là bọn mua danh tránh tiếng”. Ông cũng dùng cảm đấu tranh, thẳng thắn phê bình những thầy thuốc không thận trọng trong nghề nghiệp, “chẩn đoán bệnh với cách dùng thuốc mập mờ”. Ông viết : “Vì nghĩ rằng làm thuốc là cầm sinh mạng người ta, sống chết còn như trở bàn tay, thì hiểu biết của mình sao lại có thể không rộng rãi, đức hạnh của mình sao không đắng đắn được ư ? Còn những kẻ có cả gan không thận trọng như vậy có gọi là thầy thuốc được không ?”

3. Luôn luôn độ lượng, sẵn sàng giúp đỡ đồng nghiệp
     Với đồng nghiệp, Lãn Ông luôn tâm niệm : “Người hơn tuổi thì mình kính trọng, người học giỏi thì coi như bậc thầy, người kiêu ngạo thì mình nhân nhượng, người kém mình thì dìu dắt họ”. Câu chuyện về việc chữa “Chứng sườn đau đầy tức” cho cụ lang Tài mới thực đẹp làm sao ! Cả hai người đều biết thuốc, cả hai đều khiêm tốn, nhưng khi thấy được những yếu điểm và căn bệnh lâu năm của bạn, Lãn Ông đã không ngần ngại giảng giải, phân tích y lý để bạn hiểu và chữa khỏi căn bệnh cho bạn. Để rồi khi chia tay bên bến sông, cụ lang Tài đã ngậm ngùi luyến tiếc và viết tặng Lãn Ông một bài thơ tiễn biệt :
“Có duyên gặp gỡ khách xa xôi
Bệnh nặng nhờ tay chữa khoẻ rồi
Ơn tựa ngàn non khôn báo đáp
Nhớ ai chỉ ngóng vái phương trời”
                            (Dương án số 5)
     Có một thầy thuốc đã khiêu khích Lãn Ông khi hai người cùng tham gia chữa bệnh cho một bệnh nhân : “Nếu ông chữa sống được người bệnh này thì thật là người thần, tôi sẽ xin theo hầu ông và không khám làm nghề thầy thuốc nữa”. Bỏ qua tất cả những lời thách đố, chọc tức đó, Lãn Ông vẫn nhẫn nại tìm mọi phương cách để chữa trị cho người bệnh và ông đã thành công rực rỡ. Từ đó về sau, mỗi khi gặp lại Lãn Ông, người thầy thuốc kia tỏ ra thẹ thùng bẽn lẽn, nhưng Lãn Ông không hề nhắc lại chuyện đó nữa và vẫn giữ mối quan hệ tốt với nhau. “Người kiêu ngạo thì mình nhân nhượng”, phương châm xử thế của Lãn Ông thật nhân từ, độ lượng và sâu sắc !
     Trong thời buổi hiện nay, do tác động tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường, quan hệ đồng nghiệp trong ngành y chúng ta cũng không phải là không ít chuyện buồn bởi sự xâm hại của tư tưởng vị kỷ, lối sống thực dụng bon chen, của chủ nghĩa cá nhân và quan điểm “độc chiêu” trong kỹ thuật..., nếu bình tâm đọc lại những điều mà Hải Thượng Lãn Ông đã răn dạy, soi lại tấm gương mẫu mực trong quan hệ đối với đồng nghiệp của ông, chắc hẳn mọi người trong nghề y chúng ta sẽ thấy rất thấm thía và bổ ích !

                                                                                                Hoàng Khánh Toàn

Day bấm huyệt để giảm mỡ thừa

DAY BẤM HUYỆT NÀO ĐỂ GIẢM MỠ THỪA ?


     Trong y học cổ truyền phương Đông, day bấm huyệt vị châm cứu là một trong các phương pháp để phòng chống tình trạng béo phì do dư thừa mỡ trong cơ thể. Nhưng vấn đề quan trọng là ở chỗ lựa chọn huyệt vị nào và day bấm ra sao để đạt được hiệu quả cao nhất. Dưới đây, xin được giới thiệu với độc giả một số huyệt vị thường dùng nhất và đã được nghiên cứu trên lâm sàng.
1. Huyệt Lương khâu
     Là huyệt thuộc kinh Vị, “lương” chỉ về lương thực, “khâu” chỉ tới gò đồi, ý muốn nói đây là huyệt vị tựa như cái gò tích trữ lương thực, có công dụng : thông điều vị khí, hòa trung giáng nghịch, khu phong hóa thấp. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, khi kích thích huyệt vị này sẽ ức chế sự co bóp của dạ dày, giảm tiết dịch vị, từ đó khiến công năng tiêu hóa yếu đi, đạt được sự ức chế cảm giác thèm ăn, tạo ra hiệu quả làm giảm mỡ thừa và chống béo phì. Vị trí của huyệt Lương khâu : co duỗi khớp gối để tìm khe giữa gân cơ thẳng trước và cơ rộng ngoài của cơ tứ đầu đùi, huyệt ở góc trên ngoài xương bánh chè đo lên 2 thốn. Day bấm mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10 phút với một lực mạnh tới mức có thể chịu đựng được.
2. Huyệt Công tôn
     Là huyệt thuộc kinh Tỳ, có công dụng : phò tỳ vị, lý khí cơ, điều huyết hải, hòa Xung mạch. Vị trí : nằm ở bờ trong bàn chân, trên đường tiếp giáp da gan chân và mu chân, ngang chỗ tiếp nối của thân và đầu sau xương bàn chân 1, theo sách Châm cứu đại thành thì huyệt nằm ở sau đốt khớp ngón chân cái 1 thốn phía trước mắt cá trong. Day bấm mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10 phút với một lực mạnh tới mức có thể chịu đựng được. Thường kết hợp với day bấm huyệt Lương khâu, một nghiên cứu của các tác giả Trung Quốc đã tiến hành kích thích 2 huyệt vị này trị liệu 42 trường hợp béo phì, kết quả tốt 14 ca (thể trọng giảm từ 5 kg trở lên), khá 17 ca (thể trọng giảm từ 1-5 kg, trung bình 11 ca (thể trọng giảm từ 1 kg trở xuống), không thấy có tác dụng phụ.
3. Huyệt Quan nguyên
     Là huyệt thuộc mạch Nhâm, nơi mà nguyên khí dược chứa dưới bụng dưới, là năng lượng lớn cần cho sự sống, có công dụng : bồi thận cố bản, bổ khí hồi dương, ôn điều huyết thất tinh cung, khử trừ hàn thấp âm lãnh, phân thanh biệt trọc, điều nguyên tán tà, bảo kiện phòng bệnh. Vị trí của huyệt Quan nguyên : là điểm giao nhau giữa 3/5 trên và 2/5 dưới của đường nối rốn và điểm giữa bờ trên xương mu. Day bấm mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 20 phút, có thể dùng máy rung mát xa thay thế. Một nghiên cứu của các tác giả Trung Quốc  đã tiến hành khảo sát trên 44 bệnh nhân béo phì, kết quả 35 ca đã giảm thể trọng từ 1-5 kg.
4. Huyệt Túc tam lý
     Là huyệt thuộc kinh Vị, có công dụng lý tỳ vị, điều trung khí, hòa trường tiêu trệ, sơ phong hóa thấp, , thông điều kinh lạc khí huyết, phò chính bồi nguyên bổ hư nhược, đuổi tà phòng ngừa tật bệnh. Vị trí : sờ bờ trước xương ống chân (mào chày) từ dưới cổ chân ngược lên, đến gần khớp gối ngón tay bị mắc lại ở đâu thì đó là lồi củ trước xương chày, từ đây đo ra ngoài một khoát ngón tay là vị trí của huyệt, ấn có cảm giác tê tức lan xuống bàn chân. Day bấm huyệt mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10 phút với một lực tương đối mạnh. Một nghiên cứu của các tác giả Trung Quốc tiến hành trên 30 bệnh nhân có rối loạn lipid máu cho thấy đạt kết quả tốt 25 BN, khá 4 BN, không hiệu quả 1 BN, lượng cholesterol giảm trung bình là 0,78 mmol/l và tryglycerid giảm trung bình 0,52 mmol/l, lượng lipoprotein có tỉ trọng cao và HDL- C đều tăng trung bình là 0,207 mmol/l, tất cả đều có ý nghĩa thống kê.

                                                                                         Hoàng Khánh Toàn




Âm nhạc liệu pháp trong y học cổ truyền

ÂM NHẠC LIỆU PHÁP TRONG Y HỌC CỔ TRUYỀN


     Ngày nay, việc sử dụng âm nhạc để chữa bệnh không còn là điều mới mẻ và trên thực tế đang ngày càng phát triển nhất là trong môi trường sống căng thẳng, tỷ lệ bệnh lý tâm căn đang gia tăng như hiện nay. Nhưng, ít ai biết rằng loại hình nghệ thuật này cũng đã được y học cổ truyền phương Đông nghiên cứu và sử dụng để trị bệnh từ hàng ngàn năm nay.
     Theo cổ nhân, âm nhạc khởi nguồn từ thanh âm của giới tự nhiên, “thiên nhân hợp nhất”, giữa con người và trời đất có một mối quan hệ mật thiết, vậy nên đối với tinh thần và tạng phủ của nhân thể, âm nhạc cũng có những ảnh hưởng tương ứng. Y thư cổ kinh điển Nội kinh linh khu thiên Tà khách đã viết : “ Thiên hữu ngũ âm, nhân hữu ngũ tạng ; thiên hữu lục luật, nhân hữu lục phủ…thử nhân chi dữ thiên địa tương ứng dã (trời có ngũ âm, nười có ngũ tạng ; trời có lục luật, người có lục phủ…thế nên người và trời đất tương ứng với nhau). Y học cổ truyền quan niệm rằng, tạng “Tâm” là chủ soái của hoạt động sinh mệnh của cơ thể con người. Sách Linh khu-Bản thần viết : “Nhậm vật giả vị chi tâm”, ý nói mọi hoạt động tư duy, tình cảm, ý thức đều có quan hệ mật thiết với tạng Tâm. Cổ thư Lã thị xuân thu-Âm sơ viết : “Phàm âm giả, sinh hồ nhân tâm giả dã. Cảm vu tắc đãng hồ âm, âm thành vu ngoại nhi hóa hồ nội”, ý nói âm nhạc là sự bộc lộ tình cảm của con người bằng những giai điệu và tiết tấu đẹp đẽ, có thể thông qua “tâm thần” ảnh hưởng tới công năng của tạng phủ tương ứng, cũng có thể làm lay động tình chí mà sản sinh tác dụng “tình thắng tình” mà đạt được hiệu quả trị liệu bệnh tật.
     Cổ nhân cho rằng, âm nhạc còn có khả năng làm lắng đọng tinh thần tình cảm trong những ca khúc hợp ý từ đó mà đạt được mục đích “khí hòa, thân nhu” (tinh thần hòa hoãn, thân thể thư giãn). Trong Kinh loại phụ dực-Luật nguyên, y gia trứ danh Trương Cảnh Nhạc đã viết : “Nhạc giả, động đãng huyết mạch, lưu thông tinh khí, nhi chính như hòa tâm dã”, ý nói âm nhạc liệu pháp có thể làm lưu thông huyết mạch, phấn chấn tinh thần. Người xưa cho rằng, âm nhạc có thể “thông thần minh”, âm nhạc có liên quan tới tính khí con người, tiếng nhạc có thể đả thông huyết mạch, lưu thông tinh thần, có thể làm người ta buồn cũng có thể làm người ta vui, điều chỉnh tính khí. Ngoài ra, sự lên xuống cao thấp, âm dương, quay vòng của âm nhạc có thể điều chỉnh cân bằng âm dương cho cơ thể con người, vì vậy âm nhạc có tác dụng phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người.
     Theo y học cổ truyền, muốn dùng âm nhạc để chữa bệnh phải nắm được “Ngũ âm” . Ngũ âm là năm bậc âm có tên gọi là : Giốc, Chủy, Cung, Thương và Vũ trong âm gia ngũ thanh của âm nhạc cổ đại phương Đông. Những bậc âm đơn độc không thể thành âm nhạc, tựa như phương thức vận dộng đơn nhất của khí không thể tạo ra sinh mệnh vậy. Nếu lấy một âm nào đó làm chủ âm, các âm còn lại vây quanh chủ âm để sắp xếp và tổ hợp có thứ tự thì cấu thành âm nhạc có điệu thức được quy định. Năm loại sóng thanh đó của âm nhạc có điệu thức khác nhau mà rung động, ảnh hưởng tới phương thức vận động của khí trong cơ thể, được phân biệt theo khí Mộc mở rộng phóng ra, khí Hỏa dâng lên, khí Thổ bình ổn, khí Kim thu lại và khí Thủy hạ xuống. Ảnh hưởng tới tạng phủ thì phân biệt với 5 hệ thống lớn là Tâm, Can, Tỳ, Phế và Thận. Trong đó, Giốc là âm mộc thông với Can, có thể thúc đẩy sự phát triển mở ra của khí cơ toàn thân, điều tiết sự khai thông và nội tiết của gan mật, trợ tim và khai thông tỳ vị ; Chủy là âm hỏa thông với Tâm, có tác dụng nâng cao khí cơ toàn thân, điều tiết công năng tâm tạng, giúp cho làm mạnh tỳ, vị và phổi ; Cung là âm thổ thông với Tỳ, có thể thúc tiến sự ổn định của khí cơ toàn thân, điều chỉnh công năng tỳ và vị, lại có tác dụng bảo vệ phế khí, lợi thận thủy ; Thương là âm kim thông với Phế, có thể thúc tiến khí cơ toàn thân, thu lại, điều tiết phế khí, lại có khả năng bảo vệ thận và kiềm chế gan và Vũ là âm thủy thông với Thận, có thể thúc đẩy hạ giảm khí cơ toàn thân, điều tiết công năng của thận và bàng quang, lại có khả năng trợ can âm, chế tâm hỏa. Từ đó sẽ làm thông sự liên hệ nội tại của ngũ âm, ngũ tạng và năm loại phương thức vận động của khí. Ngũ âm thông qua ảnh hưởng đối với công năng của khí cơ và tạng phủ có thể đạt được mục đích ưu hóa trạng thái tâm lý, kích phát sự biến đổi của tình cảm. Mà sự ưu hóa trạng thái tâm lý với độ thích hợp của biến đổi tình cảm, ngược lại, có thể điều chỉnh công năng của tạng phủ tương ứng, đó là nguyên lý trị liệu của ngũ âm.
     Trong âm nhạc liệu pháp, tác động của âm nhạc chủ yếu thông qua sự khác nhau của tiết tấu, hoàn luật của bản thân khúc nhạc, thứ nữa là sự khác nhau của tốc độ, độ rung, giai điệu mà đạt được hiệu quả trị liệu khác nhau. Căn cứ vào chẩn đoán bệnh tình, theo nguyên tắc biện chứng thi khúc (tùy chứng mà chọn nhạc) để chọn loại nhạc khúc thích hợp làm đơn thuốc âm nhạc trị bệnh. Chủ yếu có mấy loại liệu pháp : (1) Liệu pháp nhạc an thần là phương pháp dùng khúc nhạc uyển chuyển mềm mại có thể làm an thần tĩnh tâm, trấn tĩnh ru ngủ để làm tiêu tan sự căng thẳng và nôn nóng như cổ khúc Xuân giang hoa nguyệt dạ, Mai hoa tam lộng…(2) Liệu pháp nhạc giải uất là dùng nhạc khúc có công năng khai thông tâm sự, giải mối uất sầu để làm hết bệnh tính, tình buồn tích tụ trong lòng như cổ khúc Cổ khúc, Hỉ dương dương…(3) Liệu pháp nhạc đau buồn là dùng khúc điệu tiết luật trầm thấp, bi thương thảm thiết khiến lòng người rung động mà đạt hiệu quả nghệ thuật của “Bi thắng Nộ” (buồn thương thằng giận dữ) như cổ khúc Táng hoa, Tiểu hồ già…(4) Liệu pháp nhạc tươi vui là dùng âm nhạc khiến cho con người cảm thấy nhẹ nhõm, sảng khoái, vui mừng mà xóa bỏ bệnh tình bi ai, ưu tư, uất ức như cổ khúc Bách điểu triều phong, Hoàng điểu lánh
     Nghiên cứu khoa học hiện đại chỉ ra rằng, âm nhạc có tác dụng tới cơ thể con người ở hai lĩnh vực : Một là tác dụng vật lý, theo nghiên cứu, các cơ quan, bộ phận trong cơ thể đều có một tần số chấn động nhất định, khi mắc bệnh, tần số chấn động của cơ quan đó sẽ thay đổi, trong khi đó âm nhạc có thể điều chỉnh tần số chấn động của các cơ quan đó hài hoà trở lại thông qua sự chấn động của âm thanh, từ đó có thể chữa được bệnh tật. Hai là hiệu quả tâm lý, những bài ca xúc động êm tai, âm điệu du dương nhẹ nhàng, tiếng nhạc như ngấm vào gan ruột làm người ta mê mẩn trong tiếng nhạc, loại bỏ những ưu phiền, từ đó tâm tính dần dần ôn hoà trở lại, hít thở sâu, nhẹ, toàn thân thư giãn nới lỏng, giảm căng thẳng thần kinh, do đó âm nhạc điều tiết được cơ thể và nội tạng, có tác dụng hạ huyết áp, làm lợi cho tim mạc, kích thích giảm đau, giảm căng thẳng, giúp trấn tĩnh an thần, chống lão hóa và hỗ trợ trị liệu ung thư. Những bản nhạc khác nhau, âm điệu khác nhau sẽ gây ra những tâm trạng cảm nhận khác nhau, nên tác dụng tới cơ thể cũng khác nhau.
     Ngoài việc nghe nhạc, các hoạt động liên quan đến âm nhạc như thổi, kéo, đàn, hát không chỉ có lợi cho sức khoẻ của người diễn xuất mà còn có lợi cho cả người nghe. Ví như : (1) Tiết tấu âm nhạc : khảo 60 nhịp là tiết tấu phù hợp với việc điều trị dưỡng bệnh. Con người và giới tự nhiên thể hiện mối quan hệ tương ứng. Vạn vật trong giới  tự nhiên đều có tiết tấu riêng của mình như bốn mùa giao nhau, ngày đêm luân phiên, trăng tròn rồi lại khuyết, có bình minh có hoàng hôn…Bản thân con người cũng có tiết tấu riêng như hít thở, mạch đập, ngày ăn 3 bữa, đêm ngủ ngày thức… Tiết tấu của âm nhạc được rút ra từ chính cuộc sống của con người. Một học giả của Liên Xô nghiên cứu phát hiện ra rằng, mỗi tiết tấu âm nhạc khoảng 60 nhịp/phút với tiết tấu mạch đập sinh lý tự nhiên ở người khoẻ mạnh là mỗi phút khoảng 60 nhịp có sự cộng hưởng tốt với nhau, như thế có tác dụng rất tốt cho việc giữ gìn cho thể xác và tinh thần được cân bằng, huyết mạch, hít thở lưu thông vừa hợp lý không bị ức chế là tiết tấu tốt nhất để điều dưỡng thể xác và tinh thần. (2) Kéo dài âm điệu : Từ xưa cổ nhân đã có liệu pháp “Ca vịnh”. Y học cổ truyền  cho rằng, “Ca vịnh có thể dưỡng tâm tính”, bởi “trường ca có tác dụng làm tâm tình thoải mái”. Do ca hát phải vận dụng khí của Đan điền “đưa ra cổ họng để thông suốt tâm mạch” có tác dụng hồi phục họng, hàm, khí quản, miệng, môi, lưỡi. Trung tâm nghiên cứu lão học của Mỹ cho rằng “ca hát giúp con người trường thọ”. Kiểu hát ca như vậy phải dùng sức nên cũng là một hình thức vận động điều tiết cơ bắp, các cơ quan hô hấp. Nó có thể giúp cơ ngực phát triển một cách hiệu quả, mà hiệu quả của nó tượng tự như các hoạt động bơi lội, chèo thuyền và tập Yoga. Khi hát người bệnh cố ý kéo dài âm điệu  15-25 giây (với trẻ em từ 10-15 giây) được gọi là liệu pháp kéo dài âm điệu. Nó có tác dụng thông khí đẩy đờm, có lợi trong quá trình phục hồi sức khoẻ của người bị thở gấp, viêm phế quản mạn tính và các bệnh về đường hô hấp khác. Phương pháp này dễ áp dụng cho trẻ em bị hen phế quản. (3) Liệu pháp thổi nhạc : Chơi nhạc thổi không chỉ tăng cường sự linh mẫn của hệ thần kinh mà còn làm tăng hoạt động lục phủ ngũ tạng và một số cơ bắp khác, giúp cải thiện chức năng hô hấp, tiêu hoá, tuần hoàn, cơ bắp và hệ thần kinh. Chơi nhạc thổi có lợi cho việc hồi phục ở người mắc bệnh về hệ  hô hấp, giúp gia tăng dung lượng sống của phổi, tăng sức hoạt động của cơ hoành. Kỹ thuật chơi nhạc thổi chủ yếu dùng tới hơi, môi, ngón tay, lưỡi nên làm tăng sự vận động của các bộ phận này, đồng thời làm tăng sức hoạt động của đường hô hấp, ngực, bụng, hông, lưng, mà đặc biệt là cơ hoành, giúp cho việc cải thiện tình trạng thở gấp của người mắc bệnh đường hô hấp. Ngoài ra, còn có tác dụng như tập khí công vì chơi nhạc thổi giúp tập trung tinh thần để điều tâm, chơi nhạc cụ thổi đòi hỏi tư thế diễn tấu nhất định để điều thân, vì phải lấy hơi để thổi, nên phải lấy phương pháp thở ngực, bụng để điều tiết hơi thở. Rõ ràng chơi nhạc cụ thổi có tác dụng chữa trị tựa như “nội dưỡng công”, giúp khả năng hít thở được tăng cường, có lợi cho việc phục hồi sức khoẻ của người mắc bệnh đường hô hấp.
     Có thể nói, hầu như những phương pháp gì mà y học hiện đại nghiên cứu và sử dụng để phòng chống bệnh tật và bảo vệ sức khỏe cho con người cũng đều đã được y học cổ truyền phương Đông đề cập đến ở các mức độ nông sâu, cao thấp khác nhau dưới những quan niệm và cách lý giải không giống nhau, trong đó hàm chứa những nét độc đáo mà chúng ta chưa thấu hiểu hết. Câu nói “ôn cố tri tân” xem ra bao giờ cũng có ý nghĩa sâu sắc của nó.

                                                                                    Hoàng Khánh Toàn



Đong trùng hạ thảo chữa ung thư như thế nào ?

ĐÔNG TRÙNG HẠ THẢO TRỊ LIỆU UNG THƯ NHƯ THẾ NÀO ?

         
     Đông trùng hạ thảo, còn gọi là trùng thảo, hạ thảo đông trùng hay đông trùng thảo, là một giống nấm mọc ký sinh trên con non của một loại sâu thuộc họ Cánh bướm. Nấm và sâu hợp sinh với nhau : vào mùa đông, con sâu non nằm ở dưới đất, nấm phát triển vào toàn thân con sâu để hút chất dinh dưỡng làm cho con sâu chết ; đến mùa hạ, nấm sinh cơ chất (stroma) mọc chồi khỏi mặt đất nhưng gốc vẫn dính liền vào đầu sâu. Người ta thường đào lấy tất cả xác sâu và nấm mà dùng làm thuốc. Vì mùa đông là con sâu, mùa hạ lại thành cây cỏ nên vị thuốc này có tên là ĐTHT, tên khoa học là Cordyceps sinensis.

     Nói đến ĐTHT là nói đến một dược liệu quý có tác dụng dược lý khá phong phú, tác động có lợi cho nhiều hệ thống như miễn dịch, tuần hoàn, hô hấp, nội tiết, thần kinh, cơ quan tạo máu…, trong đó phải kể đến khả năng chống ung thư. Tuy nhiên, tác dụng này được thể hiện ở những mặt nào và đã được chứng minh ra sao thì không phải ai, ngay cả một số thầy thuốc, cũng đều tường tận. Cho đến nay, người ta đã chứng minh được rằng, năng lực kháng ung của ĐTHT được thể hiện trên nhiều phương diện, nhưng nổi bật nhất là những vấn đề như sau :

1. Tăng cường công năng miễn dịch của cơ thể một cách tự nhiên

     Điều này có nghĩa là, việc sử dụng ĐTHT là một trong những biện pháp thuộc miễn dịch trị liệu. Cũng như ngoại khoa, hóa trị và xạ trị, miễn dịch liệu pháp trị liệu ung thư (cancer imunotherapy) là một phương pháp điều trị ung thư được sử dụng rộng rãi hiện nay trên thế giới. Tuy nhiên, khác với ngoại khoa, hóa trị và xạ trị là các biện pháp sử dụng các tác động bên ngoài là phẫu thuật, hóa chất và tia xạ để tác động lên khối u, miễn dịch trị liệu ung thư sử dụng chính hệ miễn dịch của cơ thể của bệnh nhân để tấn công lại các tế bào ác tính.

     Như chúng ta đều biết, hầu hết các tế bào ung thư không bị các tế bào miễn dịch thông thường nhận diện và tiêu diệt như đối với các tác nhân từ bên ngoài. Nguyên nhân là do các tế bào ung thư vốn là những tế bào bình thường của cơ thể nhưng sau khi chịu tác động của các tác nhân gây ung thư bị biến đổi thành tế bào “quái”. Chính vì thế, hệ miễn dịch của cơ thể thường “bỏ sót” những tế bào này so với các tác nhân lạ từ bên ngoài. Miễn dịch trị liệu sử dụng các tế bào đơn nhân của cơ thể đã mang bệnh, tức là đã có kháng nguyên gây bệnh. Sau khi được nuôi dưỡng và biệt hóa, những tế bào này có khả năng trình diện kháng nguyên ung thư cao như những tác nhân xâm nhập từ bên ngoài, qua đó giúp hệ miễn dịch có khả năng nhận diện và kích hoạt các phản ứng miễn dịch để tiêu diệt các tế bào ung thư trong cơ thể.

     Trong số các tế bào được sử dụng trong miễn dịch trị liệu, tế bào tua (hay còn gọi là tế bào đuôi gai, tiếng Anh gọi là dendritic cells - DC) được coi là có hiệu quả cao. Đã có tới hơn 100.000 báo cáo khoa học về ý nghĩa và khả năng ứng dụng của tế bào tua trong miễn dịch trị liệu kể từ khi Ralph Steinman khám phá về tác dụng của tế bào tua lần đầu tiên năm 1973. Các công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng: Các tế bào tua có khả năng tóm bắt và trình diện các kháng nguyên của tế bào ung thư cao và mạnh hơn những tế bào miễn dịch khác (đại thực bào, lympho B). Đồng thời có khả năng di động rất cao, có thể nhận diện kháng nguyên của tế bào ung thư ở nhiều nơi trong cơ thể, qua đó kích hoạt hay còn gọi là “hướng dẫn” một lượng lớn tế bào lympho T tới khắp mọi nơi trong cơ thể để nhận diện chính xác và tiêu diệt các tế bào ung thư.

     Từ đó, vấn đề nghiên cứu tìm ra những hoạt chất có tác dụng hỗ trợ và tăng cường tác dụng của tế bào tua để qua đó gián tiếp tăng hiệu quả của miễn dịch trị liệu ung thư cũng là một nội dung thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới. Y học cổ truyền phương Đông, đặc biệt là ở Trung Quốc, từ lâu đã sử dụng ĐTHT, nhất là loại có nguồn gốc từ cao nguyên Himalaya, trong việc tăng cường miễn dịch và phòng chống ung thư. Tuy nhiên, cơ chế cụ thể như thế nào vẫn còn chưa được rõ ràng.

     Các nhà nghiên cứu thuộc Khoa Huyết học của Bệnh viện Đại học Zhejiang, Bệnh viện Y học cổ truyền Fuyang (Trung Quốc) đã tiến hành đánh giá về tác dụng của ĐTHT trên các tế bào tua được biệt hóa từ bệnh nhân bị bệnh bạch cầu tủy mạn tính (Chronic Myelotic Leukemia – CML), qua đó đánh giá sự liên quan giữa tác dụng phòng chống ung thư của ĐTHT với khả năng kích thích cơ thể sản xuất ra các chất điều hòa miễn dịch nói chung và vai trò đối với tế bào tua nói riêng, nhằm làm rõ hơn nữa cơ chế chống ung thư của loại dược liệu quý giá này.

     Để thu được các tế bào tua từ các bệnh nhân bị bệnh bạch cầu tủy mãn tính (CML), các nhà khoa học đã phân lập tế bào đơn nhân của các bệnh nhân này, sau đó cho tiếp xúc với các yếu tố miễn dịch (GM – CSF, TNF – α, IL – 4) để hình thành các tế bào tua trong ống nghiệm (gọi tắt là CML – DCs). Những tế bào tua mới được hình thành này được chia thành 2 nhóm, 1 nhóm được tiếp xúc với dịch chiết Đông trùng hạ thảo Cordyceps sinensis (gọi tắt là CML – DC – CS) và nhóm còn lại thì không. Sau đó các nhà nghiên cứu tiến hành đánh giá về các thông số miễn dịch như: khả năng biệt hóa thành các phân tử kích thích miễn dịch, sự tăng tiết interleukin 12 (IL – 12) và khả năng kích thích của phản ứng hỗn hợp của bạch cầu lympho (mixed lymphocyte reaction - MLR).. giữa các nhóm tế bào thí nghiệm để xác định tác dụng của ĐTHT đối với tế bào tua hình thành từ bệnh nhân bị bệnh bạch cầu tủy mãn tính. Kết quả nghiên cứu cho thấy:
- ĐTHT làm tăng số lượng tế bào miễn dịch được biệt hóa từ tế bào tua. Số lượng các tế bào miễn dịch được biệt hóa từ các tế bào tua ban đầu (bao gồm CD80, CD86, CD83, CD1a, HLA-DR..) ở nhóm CML-DC-CS cao nhất so với nhóm CML-DC và nhóm chứng. Điều này cho thấy ĐTHT có tác dụng làm tăng khả năng biệt hóa thành các tế bào miễn dịch và gia tăng tính miễn dịch của tế bào tua.
- ĐTHT làm tăng khả năng miễn dịch của các tế bào miễn dịch được biệt hóa từ tế bào tua. Để đánh giá chất lượng của tế bào miễn dịch được biệt hóa, các nhà khoa học đã so sánh đáp ứng miễn dịch trên cùng một số lượng tế bào miễn dịch này ở các nhóm thông qua khả năng kích thích lympho T. Kết quả cho thấy, trên cùng một số lượng tế bào miễn dịch được biệt hóa, khả năng kích thích tế bào lympho T ở nhóm CML-DC-CS cao hơn nhiều lần so với CML-DC và nhóm chứng.
- ĐTHT kích thích tế bào tua tiết ra Interleukin 12 (IL - 12). Interleukin 12 là một trong các thông số quan trọng phản ánh hoạt tính miễn dịch của các tế bào tua. Do đó khả năng tiết ra IL – 12 liên quan tới hoạt lực miễn dịch của các tế bào tua. Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ IL – 12 được tiết ra ở nhóm CML-DC tiếp  xúc với các yếu tố kích thích miễn dịch (CML – DCs) tăng rõ rệt so với nhóm chứng 134.37 +/- 27.7 pg/ml, cao hơn 3 lần so với 43.45 +/- 11.4 pg/ml ở nhóm chứng. Nồng độ IL – 12 được tiết ra ở nhóm CML – CS – DCs là cao nhất, lên tới 208.22 +/- 42.1 pg/ml.
     Với những kết quả nghiên cứu này, các nhà khoa học Trung Quốc đã cho thấy ĐTHT không chỉ có tác dụng làm gia tăng số lượng mà còn cải thiện chất lượng miễn dịch của các tế bào được biệt hóa từ tế bào tua ban đầu. Đồng thời nó còn kích thích làm tăng khả năng miễn dịch trực tiếp từ tế bào tua. Kết quả này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi các biện pháp miễn dịch trị liệu ung thư  đang ngày càng được các nhà khoa học quan tâm do hiệu quả điều trị đạt được và hạn chế tối thiểu tác dụng phụ. Kết quả nghiên cứu này cũng đã làm sáng tỏ một cơ chế tăng cường miễn dịch, phòng chống ung thư của ĐTHT, một thảo dược quý hiếm để có thể sử dụng rộng rãi hơn trong hỗ trợ điều trị, ngăn ngừa tái phái và phòng chống ung thư.
2. Phòng chống di căn ung thư
     Di căn là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu của bệnh ung thư, chính vì vậy việc hạn chế tối đa khả năng khối u di căn là một nhu cầu cấp bách của điều trị ung thư. Hai biện pháp trị liệu bổ trợ lẫn nhau trong chiến lược điều trị ung thư di căn bao gồm điều trị các khối u di căn hiện tại và phòng chống sự phát tán các tế bào ác tính. Tuy nhiên, hầu hết các thuốc điều trị ung thư di căn hiện tại đều chỉ ức chế sự tăng sinh của tế bào ung thư, tức là tập trung vào điều trị khối u hiện tại mà chưa có giải pháp phòng chống sự phát tán của các tế bào ác tính một cách hiệu quả. 
     Việc hiểu rõ các giai đoạn của quá trình di căn ung thư có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa cũng như quyết định xem tác động vào giai đoạn nào của quá trình di căn là hiệu quả nhất. Quá trình di căn ung thư thường trải qua sáu giai đoạn chính : (1) Xâm lấn tại chỗ: Các tế bào ung thư xâm lấn vào các mô bình thường bên cạnh. (2) Xâm nhập mạch máu: Các tế bào ung thư di chuyển qua thành mạch máu hay mạch bạch huyết bên cạnh. (3) Tuần hoàn: Các tế bào ung thư di chuyển qua hệ thống bạch huyết và dòng máu tới các tổ chức khác của cơ thể. (4) Thoát mạch: Các tế bào ung thư ngừng di chuyển trong các mao mạch sau đó xâm nhập qua thành mao mạch vào các mô xung quanh. (5) Tăng sinh: Các tế bào ung thư nhân lên để hình thành khối u nhỏ được coi là các ổ vi di căn (micromestastases). (6) Tạo mạch: Các ổ vi di căn được kích thích làm tăng sinh các mạch máu mới cung cấp máu tới khối u. Máu cung cấp oxy và dinh dưỡng cần thiết cho khối u tiếp tục phát triển.

     Các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng đã xác định vai trò quan trọng của tiểu cầu đối với việc đẩy nhanh quá trình di căn. Đầu tiên, sự kết tập tiểu cầu tại vị trí của các tế bào ung thư trong giai đoạn đang lưu thông trong máu giúp bảo vệ tế bào ung thư khỏi bị tiêu diệt và đào thải bởi các tế bào miễn dịch tự nhiên (NK Cells). Sau đó, tiểu cầu thúc đẩy các tế bào ung thư kết dính với bạch cầu và các tế bào nội mạc và sự kết dính này là điều kiện quan trọng giúp cho tế bào ung thư có thể thoát khỏi mạch máu và bạch huyết hiện tại, tạo dòng tế bào di căn tại những cơ quan đích ở những vị trí xa hơn khối ung thư ban đầu. Ngoài ra, trong quá trình tạo mạch, các chất tiết từ tiểu cầu có tác dụng góp phần kích thích sự hình thành các mạch máu nuôi dưỡng và phát triển khối di căn. Như vậy, sự kết tập tiểu cầu có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy khả năng di căn của nhiều loại ung thư.

     Các nhà nghiên cứu cho rằng các tế bào ung thư có khả năng kích thích kết tập tiểu cầu. Bouchara và cộng sự đã chứng minh khả năng di căn của ba dòng tế bào ung thư hắc tố (melanoma) có liên quan tới việc những tế bào ung thư này tiết ra adenosine 5’ diphosphate (ADP), một chất có tác dụng kích thích kết tập tiểu cầu. Chính vì vậy, kiểm soát và điều hòa khả năng kết tập tiểu cầu có thể đóng vai trò quan trọng trong phòng chống và kiểm soát khả năng di chuyển của các tế bào ác tính, phòng chống di căn.

     Đông trùng hạ thảo đã được một số nghiên cứu chứng minh có tác dụng chống kết tập tiểu cầu mạnh mẽ, không thua kém các thuốc hóa dược mà lại có ít tác dụng phụ hơn. Xuất phát từ những cơ sở khoa học này, các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Dược và Viện Khoa học Sinh học tại Đại học Mukogawa, Nhật Bản đã tiến hành nghiên cứu để đánh giá tác dụng của Cordycepin, một thành phần của ĐTHT đối với việc ức chế di căn trên chuột thực nghiệm bằng tế bào ung thư hắc tố B16 – F1 có vai trò của adenosine 5’ diphosphate (ADP). Kết quả nghiên cứu cho thấy :
- Adenosine 5’ diphosphat (ADP), một chất kích thích kết tập tiểu cầu, có tác dụng làm tăng số ổ di căn phổi ở động vật thí nghiệm. Chuột thí nghiệm (mã số C57BL/6Cr) được tiêm tế bào ung thư hắc tố B16 – F1 bằng đường tĩnh mạch với số lượng 1 x 10 mũ 5 tế bào cùng với ADP ở các liều khác nhau. Sau 14 ngày các nhà nghiên cứu tiến hành đánh giá số lượng các ổ di căn ở mô phổi của chuột thí nghiệm. Tất cả chuột thí nghiệm đều có các ổ di căn sau 14 ngày tiêm tế bào ung thư hắc tố B16 – F1. Số lượng ổ di căn ở chuột được tiêm ADP tăng rõ rệt. Liều ADP càng cao thì số ổ di căn càng nhiều. (Tác dụng phụ thuộc vào liều ADP được sử dụng.)
- Cordycepin có tác dụng làm giảm số ổ di căn do ADP một cách rõ rệt.

Chuột thí nghiệm cũng được tiêm tế bào ung thư hắc tố (melanoma) đường tĩnh mạch với số lượng 1 x 10 mũ 5 tế bào B16 – F1, chất gây kết tập tiểu ADP với các liều từ 0 – 10 mg/kg cân nặng, đồng thời tiêm Cordycepin, một thành phần của ĐTHT ở các liều khác nhau từ 0 đến 5 và 25 mg/kg cân nặng. Sau 14 ngày các nhà khoa học tiến hành đánh giá số lượng các ổ di căn ở mô phổi của chuột thí nghiệm. Kết quả cho thấy Cordycepin, một thành phần của ĐTHT có tác dụng làm giảm số ổ di căn ở phổi của chuột thí nghiệm. Số ổ di căn ở nhóm sử dụng Cordycepin giảm tới 49% - 51% so với nhóm không sử dụng Cordycepin. Liều Cordycepin càng cao thì số ổ di căn càng thấp hơn. (Tác dụng phụ thuộc vào liều Cordycepin sử dụng).

     Với những kết quả nghiên cứu hứa hẹn này, các nhà khoa học Nhật Bản hoàn toàn tin tưởng Cordycepin, một thành phần của ĐTHT có tác dụng làm giảm khả năng di căn qua máu của các tế bào ung thư thông qua việc ức chế kết tập tiểu cầu gây ra bởi adenosine 5’ diphosphate (ADP), một chất thương được tiết ra bởi các tế bào ung thư. Tác dụng này sẽ có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hầu hết các biện pháp trị liệu ung thư hiện tại tập trung vào tiêu diệt khối u, chưa có những biện pháp điều trị và dự phòng cho việc di căn ung thư. Kết quả thí nghiệm này của các nhà khoa học Nhật Bản cũng đã góp phần giải thích vào khả năng chống di căn do kết tập tiểu cầu, một trong những cơ chế tác dụng quan trọng của ĐTHT trong việc phòng ngừa và hỗ trợ điều trị ung thư.

3. Bảo vệ cơ thể, phòng chống tác dụng phụ của hóa trị và xạ trị ung thư

     Hóa trị và xạ trị là những biện pháp điều trị ung thư phổ biến hiện nay, sử dụng hóa chất và tia xạ tiêu diệt các tế bào ung thư trong cơ thể. Mặc dù đã có nhiều biện pháp hạn chế tác dụng phụ nhưng những tác hại của hóa chất và tia xạ trên những tế bào bình thường của cơ thể như tủy xương, niêm mạc ruột, da, tóc..  vẫn còn là  một thách thức đối với  trị liệu ung thư. Phần lớn bệnh nhân có những triệu chứng suy kiệt trong quá trình hóa trị và xạ trị làm cho cơ thể không dung nạp trị liệu, ngoài ra còn phát sinh thêm những rối loạn thể trạng khác. Suy giảm hồng cầu, bạch cầu do suy tủy xương và rối loạn tiêu hóa, giảm khả năng hấp thu là những tác dụng phụ thường gặp nhất ở bệnh nhân hóa trị và xạ trị. Những tác dụng phụ này có tác hại rất lớn đối với hiệu quả điều trị, khả năng chống chọi bệnh tật cũng như sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân vì có ảnh hưởng tới tổng trạng một cách hệ thống. 

     Để hạn chế tác dụng phụ của hóa trị và xạ trị, hiện nay các thầy thuốc thường sử dụng các cytokine, là tập hợp các protein và peptid hòa tan do nhiều loại tế bào của cơ thể tiết ra. Cytokine thường gặp phổ biến là các chất: interleukin, interferon..trong đó erythropoietin là loại được sử dụng phổ biến trong ung thư hóa trị, xạ trị để hạn chế tác dụng phụ, kích thích tủy xương sản sinh ra hồng cầu và bạch cầu. Tuy nhiên, do phạm vi điều trị hẹp và đặc biệt là có nhiều tác dụng phụ nên những thuốc này vẫn được sử dụng rất hạn chế. Nhu cầu về một loại thuốc hỗ trợ bảo vệ cơ thể khỏi hóa trị và xạ trị mà không có độc tính, ít tác dụng phụ để có thể sử dụng rộng rãi đang rất cao.

     Đông trùng hạ thảo được mô tả có nhiều dược tính quý giá: điều hòa hoạt động gan, thận, tim mạch, hệ miễn dịch, thần kinh, nội tiết và steroid. Như đã nói ở các phần trên, ĐTHT có tác dụng hoạt hóa đại thực bào, điều hòa quá trình tự chết (apoptosis) của tế bào ung thư, ức chế sự di căn của khối u. Những tác dụng này của ĐTHT được cho là do khả năng kích thích cơ thể sản xuất ra các cytokine tự nhiên.

     Các nhà nghiên cứu thuộc khoa Hóa trị liệu Ung thư bệnh viện Chang Gung Memorial (Đài Loan) và khoa Hóa trị liệu Ung thư, Đại học UCLA (Hoa Kỳ) đã cùng nhau tiến hành những nghiên cứu để đánh giá tác dụng bảo vệ tủy xương đối với xạ trị và hóa trị của ĐTHT. Nghiên cứu này được tiến hành trên chuột. Chuột thí nghiệm được cho sử dụng dịch chiết ĐTHT (gọi tắt là ĐTHT CS) đường uống với liều 50 mg/kg cân nặng/ngày trong 7 ngày đồng thời được chiếu xạ toàn thân với các liều khác nhau. Một nhóm chuột thí nghiệm khác cũng được cho sử dụng Taxol, một thuốc được sử dụng phổ biến trong hóa trị ung thư. Nhóm chứng được sử dụng giả dược (placebo) để đối chiếu. Vào cuối đợt điều trị, các nhà nghiên cứu thu thập và phân tích các thông số như: số ngày sống sót sau 30 ngày chiếu xạ, mô xương,  mô ruột và số lượng tế bào máu ngoại vi của chuột thí nghiệm để đánh giá tác động của ĐTHT CS. Kết quả nghiên cứu cho thấy :
- ĐTHT có tác dụng bảo vệ cơ thể, làm tăng thời gian sống sót trên chuột thí nghiệm bị chiếu xạ toàn thân. 
- ĐTHT có tác dụng bảo vệ tế bào niêm mạc ruột khỏi các tác dụng phụ của xạ trị. Các nhà nghiên cứu cũng tiến hành xác định tỷ lệ tế bào bị chết từ tiêu bản ruột non của chuột nghiên cứu để đánh giá tác dụng bảo vệ niêm mạc ruột bị chiếu xạ của ĐTHT CS. Số lượng các tế bào tự chết do chiếu xạ giảm rõ rệt ở nhóm chuột thí nghiệm sử dụng ĐTHT CS so với nhóm chứng sử dụng giả dược.
- ĐTHT có tác dụng bảo vệ tế bào tủy xương khỏi các tác dụng phụ của xạ trị. Để đánh giá tác dụng này, các nhà nghiên cứu đã tiến hành đo lường số lượng tế bào tủy xương sống sót cũng như đo lường thời gian và số lượng bạch cầu hồi phục ở máu ngoại vi được hồi phục sau khi bị chiếu xạ. Tỷ lệ và thời gian hồi phục của các tế bào bạch cầu ở máu ngoại vi của nhóm sử dụng ĐTHT CS cũng cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng sử dụng giả dược. Ở liều 5.5 và G.6 Gy, thời gian bạch cầu ngoại vi bắt đầu hồi phục ở nhóm sử dụng ĐTHT CS là 6 ngày, trong khi thời gian này ở nhóm chứng sử dụng giả dược để so sánh là 14 ngày. Ở ngày 21, số lượng bạch cầu hồi phục ở nhóm sử dụng ĐTHT CS lên tới xấp xỉ 80%, trong khi tỷ lệ này ở nhóm sử dụng giả dược chỉ hơn 40% . 
- ĐTHT có tác dụng bảo vệ tủy xương khỏi tác dụng phụ của hóa trị bởi Taxol. Chuột thí nghiệm được cho sử dụng Taxol với liều 17mg/kg cân nặng/ngày (tương đương với liều 91 mg/m2 diện tích cơ thể) vào 1 ngày trước khi được cho sử dụng dịch chiết ĐTHT CS với liều 50 mg/kg/ngày. Nhóm đối chứng sử dụng giả dược không có hoạt tính (placebo) để so sánh. Sau 3 tuần, các nhà nghiên cứu tiến hành đánh giá các thông số: số lượng tế bào bạch cầu ở ngoại biên, số lượng tế bào kích thích miễn dịch đại thực bào và bạch cầu hạt (GM – CFU).. để đánh giá khả năng bảo vệ tủy xương khỏi hóa chất trị liệu ung thư Taxol của ĐTHT CS. Số lượng bạch cầu ở nhóm sử dụng hóa chất Taxol và Đông trùng hạ thảo (Taxol + CS) thấp hơn so với nhóm chứng không phải sử dụng Taxol, không (CON) và có sử dụng Đông trùng hạ thảo (CS). Tuy nhiên số lượng bạch cầu ở nhóm này (Taxol + CS) cao hơn rất nhiều so với nhóm chỉ sử dụng hóa chất Taxol. Đồng thời, số lượng bạch cầu ngoại vi ở nhóm sử dụng ĐTHT kết hợp với hóa chất Taxol hồi phục gần như hoàn toàn sau 28 ngày, cao hơn rất nhiều lần nhóm chỉ sử dụng Taxol.  Về mặt chức năng, các nhà nghiên cứu cũng tiến hành đánh giá số lượng các tế bào kích thích miễn dịch đại thực bào và bạch cầu hạt (GM – CFUs), là những tế bào được biệt hóa từ các tế bào miễn dịch ban đầu (như bạch cầu) để thực hiện các chức năng miễn dịch. Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng tế bào GM – CFUs ở nhóm sử dụng Đông trùng hạ thảo (CS) cao hơn nhiều so với nhóm chỉ sử dụng hóa chất Taxol.

     Mặc dù nghiên cứu mới chỉ thực hiện ở giai đoạn tiền lâm sàng nhưng với những kết quả tích cực, các nhà khoa học thuộc khoa Hóa trị liệu Ung thư Bệnh viện Chang Gung Memorial (Đài Loan) và khoa Hóa trị liệu Ung thư, Đại học UCLA (Hoa Kỳ) đã cho thấy ĐTHT có tác dụng rất tích cực bảo vệ cơ thể khỏi các tác dụng phụ của hóa trị và xạ trị, qua đó cải thiện thể trạng và giúp bệnh nhân dung nạp và tuân thủ đúng liệu trình, đảm bảo hiệu quả điều trị và tăng khả năng hồi phục sức khỏe. Những kết quả này sẽ là tiền đề quan trọng để các nhà khoa học trên thế giới tiếp tục phát triển các nghiên cứu lâm sàng cần thiết để nghiên cứu thành công loại thuốc từ ĐTHT CS có tác dụng bảo vệ cơ thể khỏi các tác dụng phụ của hóa trị và xạ trị, không có độc tính, ít tác dụng phụ để có thể được sử dụng rộng rãi.
   
     Như vậy, có thể thấy, ĐTHT là một dược liệu có công dụng hữu hiệu trong việc can thiệp trị liệu và hỗ trợ trị liệu căn bệnh ung. Ngoài những tác dụng đã được chứng minh ở trên, ĐTHT còn nhiều tiềm năng khác như cung cấp các chất dinh dưỡng, nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan, loại trừ các gốc tự do, chống lão hóa…, nói theo thuật ngữ của y học cổ truyền phương Đông là có công năng “Bổ thận”, “Nâng cao chính khí”…, rất có lợi cho việc phòng chống ung thư. Những vấn đề này rất cần được chứng minh bằng các công trình nghiên cứu khoa học công phu và nghiêm túc.

                                                                                   Hoàng Khánh Toàn


Thứ Ba, ngày 17 tháng 11 năm 2015

DƯỢC THIỆN DÀNH CHO NGƯỜI HUYẾT ÁP THẤP MẠN TÍNH



     Trong y học cổ truyền không có bệnh danh huyết áp thấp mạn tính, nhưng căn cứ vào các chứng trạng lâm sàng có thể thấy trạng thái bệnh lý này thuộc phạm vi các chứng như Huyễn vựng, Hư lao, Quyết chứng...với phương thức trị liệu rất phong phú như dùng thuốc, châm cứu, xoa bóp, tập luyện khí công dưỡng sinh..., trong đó có việc lựa chọn và sử dụng các món ăn - bài thuốc (dược thiện). Tùy theo từng thể bệnh cụ thể, bài viết này xin được giới thiệu một số ví dụ điển hình để độc giả có thể tham khảo và vận dụng.

@ Với thể bệnh Thận dương hư suy

   * Chứng trạng :  Đầu choáng mắt hoa, tai ù tai điếc, hay quên, lưng đau gối mỏi, sắc mặt nhợt nhạt, tinh thần mỏi mệt, sợ lạnh, tay chân lạnh, tiểu tiện nhiều lần về đêm, ăn kém, đại tiện lỏng nát, chất lưỡi nhợt, mạch trầm tế.
   * Món ăn - bài thuốc
     Bài 1 :  Trứng gà 1 quả, bột nhung hươu 0,3g. Đập trứng vào bát, bỏ bột nhung hươu vào, quấy đều và tráng chín, dùng làm đồ ăn điểm tâm hàng ngày, 20 ngày là một liệu trình. Công dụng : bổ thận ích tinh, thăng áp.
     Bài 2 :  Kỷ tử 10g, thỏ ty tử 10g, nhục thung dung 6g, bồ dục bò 1 quả, bò dục chó 1 quả, thịt bò 100g, thịt gà 50g. Bò dục bò và chó làm sạch, bổ đôi, ngâm nước lạnh trong 30 phút ; thịt bò và thịt gà thái miếng ; các vị thuốc cho vào túi vải, buộc kín miệng ; tất cả cho vào nồi hầm lửa nhỏ cho thật nhừ rồi bỏ bã thuốc, chế thêm hạt tiêu, gừng tươi thái chỉ và gia vị vừa đủ, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng : bổ thận tráng dương, ích tinh bổ tuỷ.
     Bài 3 :  Hoài sơn 50g, nhục thung dung 20g, thỏ ty tử 10g, thịt dê 200g, xương sống dê 1 đoạn, gạo tẻ 100g. Xương sống dê chặt vụn ; thịt dê thái miếng ; các vị thuốc cho vào túi vải, buộc kín miệng ; tất cả cho vào nồi ninh với gạo thành cháo rồi bỏ bã thuốc, chế thêm hạt tiêu, tiểu hồi và gia vị vừa đủ, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng : ôn bổ thận dương.
     Bài 4 :  Dâm dương hoắc 30g, rượu trắng 500 ml. Đem ngâm dâm dương hoắc với rượu trong bình kín, sau 7 ngày thì dùng được, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần chừng 15 ml. Công dụng : ích khí ông dương, thăng áp.

@ Với thể bệnh Tâm tỳ lưỡng hư

   * Chứng trạng :  Mệt mỏi nhiều, hay có cảm giác khó thở, chân tay rã rời, đầu choáng mắt hoa, dễ có cảm giác hồi hộp trống ngực, hay vã mồ hôi, ăn kém, chậm tiêu, sắc mặt nhợt nhạt, đại tiện lỏng nát, miệng nhạt, chất lưỡi nhợt, mạch tế nhược.
   * Món ăn - bài thuốc
     Bài 1 : Thịt bò 1000g, rượu vàng 250 ml. Thịt bò rửa sạch, thái miếng, cho vào nồi hầm nhỏ lửa cho thật nhừ, cứ 1 giờ lại chắt nước cốt một lần rồi lại cho thêm nước đun tiếp,  làm 4 lần như vậy lấy 4 nước hợp lại với nhau, chế thêm rượu vàng rồi cô lửa nhỏ thành cao đặc, để nguội, đựng trong lọ kín dùng dần, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 3 thìa canh. Công dụng : ích khí kiện tỳ, dưỡng tâm.
     Bài 2 :  Gà mái 1 con (nặng chứng 1 kg), nhân sâm 10g, hoàng kỳ 30g, ngũ vị tử 15g. Gà làm thịt, chặt miếng ; các vị thuốc cho vào túi vải, buộc kín miệng ; tất cả bỏ vào nồi hầm lửa nhỏ cho thật nhừ, bỏ bã thuốc, chế thêm gia vị, dùng làm canh ăn. Công dụng : ích khí trợ dương, bổ tâm dưỡng huyết.

@ Với thể bệnh Trung khí bất túc

   * Chứng trạng :  Mệt mỏi, thích nằm, ngại nói, ngại vận động, hay có cảm giác khó thở, chóng mặt hoa mắt nhiều, chân tay buồn mỏi, chán ăn, miệng nhạt, dễ vã mồ hôi, đại tiện lỏng nát, chất lưỡi nhợt, mạch hư nhược.
   * Món ăn - bài thuốc
     Bài 1 :  Nhân sâm 10g, bạch linh 10g, hoài sơn 10g, đậu đỏ 30g, bột gạo nếp 50g, đường trắng và mỡ lợn vừa đủ. Các vị thuốc sao thơm, tán bột, trộn đều với bột gạo nếp và đường trắng, chế đủ nước, nhào kỹ rồi rán chín, dùng làm đồ điểm tâm hàng ngày. Công dụng : bổ tỳ kiện vị, ích khí bổ thận.
     Bài 2 :  Dạ dày lợn 1 cái, hạt sen tươi 40 hạt. Dạ dày làm sạch, hạt sen bỏ tâm rồi cho vào trong dạ dày lợn, dùng chỉ buộc kín miệng, đem hầm nhừ, khi chín vớt dạ dày ra, thái miếng, trộn đều với hạt sen rồi chế thêm gừng tươi, hạt tiêu và gia vị vừa đủ, dùng làm thức ăn. Công dụng : kiện tỳ ích vị, ích khí bổ hư.
     Bài 3 :  Đẳng sâm 100g, thịt bò 500g. Thịt bò rửa sạch, thái miếng, ướp với gừng tươi, hạt tiêu và một chút rượu vang ; đẳng sâm cho vào túi vải, buộc kín miệng rồi đem hầm với thịt bò cho thật nhừ, chế thêm gia vị, dùng làm thức ăn hàng ngày. Công dụng : bổ trung bích khí, kiện tỳ ích vị.