Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2017

VỮA XƠ ĐỘNG MẠCH VÀ ĐÔNG Y

PHÒNG CHỐNG VỮA XƠ ĐỘNG MẠCH NÃO BẰNG ĐÔNG Y


     Vữa xơ động mạch động mạch não là một trong những bệnh đáng chú ý nhất hiện nay, đặc biệt ở người có tuổi và cao tuổi, với tình trạng tổn thương nội mạc động mạch vừa và lớn ở não dưới hình thái mảng vữa và tổ chức xơ. Vữa xơ động mạch não có thể dẫn đến những hậu quả rất nặng nề như thiểu năng tuần hoàn não, tai biến mạch máu não, teo não…, thậm chí có thể gây tử vong.
     Trong y học cổ truyền, vữa xơ động mạch não thuộc phạm vi nhiều chứng bệnh tùy theo biểu hiện của bệnh như “huyễn vựng”, “đầu thống”, “kiện vong”, “trúng phong”…và được trị liệu bằng nhiều vị thuốc, bài thuốc khác nhau trên nguyên tắc “biện chứng luận trị”

1. Với thể Can dương thượng cang
* Chứng trạng : Đầu choáng mắt hoa, đau đầu, buồn phiền bức bối, dễ cáu giận, ù tai, mất ngủ, sắc mặt đỏ, ngực sườn đầy tức, miệng khô, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác.
* Trị liệu : Cần bình can tiềm dương, dùng bài thuốc Thiên ma câu đằng ẩm gia giảm, gầm các vị : thiên ma 12g, thạch quyết minh 30g, hoàng cầm 12g, chi tử 9g, ngưu tất 12g, tang ký sinh 15g, đôc trọng 12g, dạ giao đằng 30g, phục thần 20g, ích mẫu thảo 18g, cúc hoa 12g, sinh mẫu lệ 3g, cam thảo 6g.

2. Với thể Âm hư hỏa vượng
* Chứng trạng : lòng bàn tay bàn chân nóng, bức bối phiền muộn, hay có cơn bốc hỏa, ngủ kém hay mê mộng, dễ hồi hộp, đầu choáng, tai ù, hay quên, vã mồ hôi ban đêm, lưng đau, gối mỏi, môi khô miệng khát, chất lưỡi đỏ ít rêu, mạch nhanh nhỏ
* Trị liệu : Cần tư âm giáng hỏa, dưỡng tâm an thần, dùng bài thuốc Hoàng liên a giao thang phối hợp với Chu sa an thần hoàn, gồm các vị : hoàng liên 9g, a giao sao phồng 15g, bạch thược 15, hoàng cầm 9g, sinh địa 18g, đương quy 12g, quy bản 15g, toan táo nhân 15g, chu sa 3g (uống cùng thuốc nước), cam thảo 6g.
3. Với thể Đàm trọc trở lạc
* Chứng trạng : Thể trạng béo trệ, đầu đau và nặng như đeo đá, hoa mắt chóng mặt, ngực bụng đầy chướng, hay quên, chất lưỡi bè bệu có vết hằn răng, rêu lưỡi trắng dầy dính, mạch hoạt hoặc huyền hoạt.
* Trị liệu : Cần kiện tỳ táo thấp, hóa đàm khai khiếu, dùng bài thuốc Bán hạ bạch truật thiên ma thang gia giảm, gồm các vị : bach truật 12g, bán hạ chế 9g, thiên ma 12g, trần bì 12g, bạch linh 24g, hậu phác 9g, xương bồ 15g, uất kim 12g, thiên trúc hoàng 9g, viễn chí 12g, cam thảo 6g, sinh khương 3 lát.

4. Với thể Đàm nhiệt thượng nhiễu
* Chứng trạng : Đầu đau căng chướng, chóng mặt, ợ chua, ợ hơi, mất ngủ, miệng đắng và khô, đại tiện bí kết, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi đỏ dính, mạch huyền sác.
* Trị liệu : Cần thanh nhiệt hóa đàm, khai khiếu, dùng bài thuốc Bán hạ bạch truật thiên ma thang gia giảm, gồm các vị : thanh mông thạch 30g, hoàng cầm 12g, đại hoàng 9g, phác tiêu 9g, trầm hương 6g, đởm nam tinh 12g, chi tử 9g, xương bồ 12g, uất kim 12g, cam thảo 6g.

5. Với thể Khí huyết lưỡng hư, phong tà nhập trung
* Chứng trạng : Mệt mỏi vô lực, tinh thần uể oải, hoa mắt chóng mặt, khó thở, đầu đau có cảm giác trống rỗng, tư duy trì trệ, trí nhớ suy giảm, tứ chi tê dại, chán ăn, châm tiêu, sợ lạnh, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù nhược.
* Trị liệu : Cần bổ khí dưỡng huyết, khứ phong thông lạc, dùng bài thuốc Đại tần cửu thang gia giảm, gồm các vị : khương hoạt 9g, phòng phong 9g, bạch chỉ 12g, thục địa 15g, đương quy 15g, xuyên khung 15g, xích thược 15g, đẳng sâm 12g, bạch truật 9g, bạch linh 18g, bạch phụ tử 9g, cam thảo 6g.

6. Với thể Khí huyết lưỡng hư, đàm ứ trở lạc
* Chứng trạng : Chóng mặt, đau đầu có cảm giác trống rỗng, mệt mỏi, khó thở, ngủ kém hay mê mộng, trí nhớ suy giảm, toàn thân nặng nề, chất lưỡi xám tối, có điểm ứ huyết, rêu lưỡi dầy dính, mạch hoạt.
* Trị liệu : Cần phải ích khí bổ huyết, kiện tỳ hóa đàm, khứ ứ thông lạc, dùng bài thuốc Bát trân thang phối hợp với Ôn đởm thang và Khai khiếu hoạt huyết thang gia giảm, gồn các vị : Thục địa 15g, đương quy 15g, xuyên khung 15g, xích thược 12g, đẳng sâm 15g, bạch linh 24g, bạch truật 9g, trần bì 12g, trúc nhự 15g, chỉ xác 12g, đởm nam tinh 9g, đào nhân 12g, hồng hoa 12g, toàn yết 9g, địa long 15g, xương bồ 12g, cam thảo 6g.

7. Với thể Can thận âm hư, phong dương thượng liễu
* Chứng trạng : Đau đầu, chóng mặt, tai ù tai điếc, ngủ kém hay mê mộng, lưng đau gối mỏi, , tứ chi cương cứng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch tế sác.
* Trị liệu : Cần phải tư âm tiềm dương, khứ phong thông lạc, dùng bài thuốc Trấn can tức phong thang gia giảm, gồm các vị : xích thược 15g, bạch thược 15g, thiên môn 15g, huyền sâm 15g, quy bản 20g, nhân trần 12g, đại giả thạch 20g, sinh mẫu lệ 30g, ngưu tất 15g, thiên ma 9g, câu đằng 30g, địa long 12g, toàn yết 9g, thạch quyết minh 20g, cam thảo 6g
.
8. Với thể Thận tinh khuy hư
* Chứng trạng : Chóng mặt, tinh thần mỏi mệt, cử chỉ chậm chạp, trí nhớ suy giảm, tư duy không chuẩn, tai ù tai điếc, lưng đau gối mỏi, răng rụng nhiều, nóng lòng bàn tay bàn chân và vùng trước ngực, chất lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
* Trị liệu : Cần phải bổ ích tinh khí, dùng bài thuốc Hữu quy hoàn gia giảm, gồm các vị : thục địa 18g, hoài sơn 15g, sơn thù 18g, thỏ ty tử 15g, kỷ tử 15g, ngưu tất 18g, lộc giác giao 15g, quy bản 15g, viễn chí 12g, hà thủ ô 15g.


                                                                                                Hoàng Khánh ToànHoangdfHoangfdHo

Thứ Tư, 6 tháng 12, 2017

NGŨ AN ĐƯỜNG, NGƯỜI BẠN MỚI CỦA BỆNH NHÂN TIỂU ĐƯỜNG

NGŨ AN ĐƯỜNG, NGƯỜI BẠN MỚI CỦA BỆNH NHÂN TIỂU ĐƯỜNG



     Trong vài chục năm gần đây, ở nước ta, bệnh tiểu đường đã và đang diễn biến theo chiều hướng xấu : số người mắc bệnh ngày càng gia tăng, tính chất bệnh lý và biến chứng của bệnh ngày càng phức tạp và nguy hiểm, số người chết vì căn bệnh này chưa hề thuyên giảm. Cùng với sự ra đời của nhiều loại thuốc trị liệu tiểu đường thuộc thế hệ mới, y học hiện đại đã thu được những thành tựu to lớn trong công cuộc phòng chống căn bệnh rối loạn chuyển hoá này. Tuy nhiên, tính hiệu quả và tính an toàn của không ít loại thuốc vẫn chưa thực sự làm hài lòng cả bệnh nhân và thầy thuốc. Bởi vậy, bên cạnh việc tiếp tục cải tiến cũ, sáng chế mới các thuốc của y học hiện đại, một hướng nghiên cứu mới đã và đang được đặt ra là : trên cơ sở khai thác kho tàng kinh nghiệm của y học cổ truyền, bằng công nghệ và kỹ thuật hiện đại, đi sâu tìm hiểu nghiên cứu và sản xuất ra những loại thuốc mới có công dụng phòng chống tiểu đường, căn bệnh mà hơn 2000 năm nay đã được nền y học cổ truyền phương Đông đề cập đến trong phạm vi chứng bệnh Tiêu khát
     Cho đến nay, thật khó có thể kể hết các thành phẩm chuyên trị tiểu đường đã có mặt trên thị trường đông dược trong và ngoài nước. Ở nước ta, các nhà y dược học đã nghiên cứu và cho ra đời nhiều sản phẩm trị liệu hoặc hỗ trợ trị liệu bệnh tiểu đường có nguồn gốc từ thảo dược thiên nhiên như Thanh đường an, Tiểu đường đan, Hộ tạng đường, Diabetna, Hạ thanh đường, Thanh đường Gamosa.., trong đó không thể không kể đến Ngũ an đường, một chế phẩm bảo vệ sức khỏe, hỗ trợ hạ đường huyết và ngăn ngừa biến chứng của bệnh tiểu đường thuộc sỡ hữu của Công ty Cổ phần NGUYỆT LỤC BẢO, do Công ty Cổ phần Dược TIPHARCO gia công sản xuất.
     Ngũ an đường có nguồn gốc từ bài thuốc gia truyền Bình đường huyết của gia đình ông Kim Răng Say, một gia đình có nhiều đời làm thuốc chuyên chữa bệnh cho đồng bào nghèo ở vùng quê Trà Vinh và các tỉnh lân cận. Trong thành phần sản phẩm này : Kỷ tử vị ngọt tính bình, có công dụng tư bổ can thận, minh mục, nhuận phế, nghiên cứu hiện đại cho thấy, vị thuốc này có khả năng làm giảm đường huyết, hạ huyết áp, điều chỉnh mỡ máu, chống phóng xạ và mệt mỏi, tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể và kháng ung ; Thìa canh là một dược liệu quý đã được nghiên cứu sử dụng phòng chống tiểu đường ở nhiều quốc gia trên thế giới và cả ở trong nước với khả năng hạ đường huyết rất cao do chứa nhiều acid Gymnemic có tác dụng ức chế hấp thu đường ở ruột sau ăn, giảm tân sinh đường ở gan, đồng thời làm tăng khả năng sử dụng đường ở mô và cơ. Ngoài ra, hoạt chất trong Dây thìa canh còn có tác dụng tái sinh tế bào bêta, cải thiện và phục hồi chức năng tuyến tụy, làm tăng khả năng sản sinh và hoạt lực chuyển hóa đường của insulin đồng thời  giảm mỡ máu xấu giúp ngăn ngừa biến chứng tiểu đường ; Vàng đắng vị đắng tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt giải độc, sát trùng lợi mật ; Cam thảo nam vị ngọt tính bình có công dụng kiện tỳ sinh tân, thanh nhiệt giải độc, lợi niệu và điều hòa các vị thuốc.
     Nhưng điểm đặc sắc nhất của Ngũ an đường là có Xương rồng tai thỏ trong thành phần. Theo dược học cổ truyền, Xương rồng là loại cây tính hàn, vị đắng và có chất độc nếu không biết cách sử dụng. Thân cây có tác dụng tiêu thũng, thông tiện, sát trùng ; lá có tác dụng thanh nhiệt, hóa trệ, giải độc hành ứ ; nhựa cây có tác dụng tả hạ trục thuỷ, chống ngứa ; nhị hoa có khả năng thanh nhiệt tiêu thũng. Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, trong thân xương rồng có chứa nhiều hoạt tính hóa học triterpenoid : taraxerol, taraxerone, friedelan-3a-ol, friedelan-3b-ol, epifriedelanol, có các acid citric, tartric và fumaric. Nhựa Xương rồng chứa euphorbol, euphol, b-amyrin, cycloartenol. Ngoài ra, thảo dược này rất giàu chất dinh dưỡng, chứa đến 17 axit amin cũng như rất giàu chất khoáng: canxi, magiê, mănggan, sắt, đồng và các vitamin A, B6, C, K và PP, vì vậy Người phương Tây còn gọi loài xương rồng tai thỏ là “siêu thực phẩm”.
     Từ xa xưa, thổ dân Mexico đã phát hiện ra công dụng chữa bệnh tiểu đường của loài xương rồng tai thỏ. Theo kinh nghiệm dân gian ở nước ta, tác dụng hạ đường huyết sẽ mạnh hơn khi dùng 500g lá nấu sôi, chia làm 2-3 lần uống trong ngày, uống cho đến khi lượng đường bình ổn. Trong hơn 20 năm gần đây, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu và nhận thấy Xương rồng tai thỏ có tác dụng làm giảm đường máu ở người đái tháo đường. Ví như một nghiên cứu của Đại học Vienna (Áo) trên 24 bệnh nhân tiểu đường sau khi sử dụng lá xương rồng tai thỏ, lượng đường trong máu họ giảm 11%. Ngoài ra, loài thảo dược này còn có khả năng chống béo phì và giảm chất mỡ xấu trong máu, giúp ngăn ngừa vữa xơ động mạch, bảo vệ gan và hệ tiêu hóa nhờ khả năng thải độc, trợ gan, điều hòa thần kinh, chống táo bón nhờ có nhiều chất xơ, tiêu viêm, giảm đau...giúp cho người bị tiểu đường ngăn ngừa được những biến chứng nguy hiểm.
     Với sự phối hợp hài hòa, hợp lý giữa các thảo dược nêu trên và được bào chế bằng dây chuyền công nghệ sản xuất hiện đại của Công ty Cổ phần Dược phẩm TIPHARCO, chất lượng an toàn tuyệt đối thông qua sự kiểm định chặt chẽ của Bộ Y tế, Ngũ an đường thực sự là một sản phẩm có công dụng hỗ trợ hạ đường huyết, giúp ổn định chỉ số đường huyết, ngăn ngừa biến chứng của tiểu đường và giúp ổn định huyết áp. Đây quả thực là một tin vui, một người bạn mới cho những bệnh nhân tiểu đường và những người có nguy cơ mắc căn bệnh nguy hiểm này.

                          ThS.BS. Hoàng Khánh Toàn
                     (Chủ nhiệm khoa Đông y, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108)


CHÂM CỨU CHỮA SỎI

CHÂM CỨU CHỮA SỎI MẬT VÀ SỎI TIẾT NIỆU


     Sỏi túi mật và sỏi tiết niệu là những bệnh thường gặp và dễ gây các biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe. Trong y học cổ truyền, sỏi mật thuộc phạm vi chứng “đởm thạch” và sỏi tiết niệu thuộc phạm vi chứng “ngũ lâm”. Trong trị liệu hai căn bệnh này, người ta thường chú trọng nhiều đến việc dùng thuốc uống trong mà chưa thật sự chú trọng đến việc sử dụng các biện pháp không dùng thuốc, trong đó có châm cứu. Bài viết này xin được giới thiệu một số quy trình châm cứu chữa sỏi túi mật và sỏi tiết niệu để bạn đọc tham khảo và vận dụng khi cần thiết.
1. Sỏi túi mật
* Huyệt vị : A thị huyệt (điểm ấn đau vùng bụng trên bên phải), huyệt Nhật nguyệt (từ núm vú kéo thẳng xuống ở khoảng giữa gian sườn 7, sát bờ trên xương sườn 8) bên phải và hai huyệt Dương lăng tuyền (ngồi thẳng co gối, thõng chân xuống, huyệt ở chỗ lõm phía trước nơi thân nối với đầu trên xương mác) là chủ huyệt. Những huyệt hỗ trợ là Hợp cốc (ở chỗ lõm giữa xương bàn tay thứ nhất và thứ hai (ngón cái và ngón trỏ), dùng ngón tay cái ấn men theo bờ xương bàn tay thứ hai tìm điểm khi ấn có cảm giác đau tức lan sang ngón tay út thì đó là vị trí của huyệt) và 12 huyệt tỉnh khi có sốt, Trung quản (trên đường giữa bụng, từ rốn đo lên 4 thốn) và Nội quan (vểnh ngược bàn tay vào cẳng tay để lộ rõ khe của gân cơ gan tay lớn và gân cơ gan tay bé, huyệt nằm giữa hai gấn cơ này trên nếp gấp lằn cổ tay 2 thốn) khi có nôn và buồn nôn.
* Thao tác : Để bệnh nhân nằm ngửa, gối gấp 45 độ. Trước tiên xác định và châm nghiêng A thị huyệt và Nhật nguyệt với góc 45 độ, sâu 0,5-1 thốn, thực hiện thao tác vê kim. Tiếp theo, châm Dương lăng tuyền sâu 1,5-3 thốn với thao tác nâng đẩy và vê kim. Châm Trung quản sâu 1,5-2 thốn, châm nghiêng và vê kim, châm Hợp cốc sâu 0.5-1 thốn, châm thẳng và thực hiện thao tác vê kim. Nếu trong cơn đau, dùng kim tam lăng chích máu 12 huyệt tỉnh và thực hiện thao tác vê kim các huyệt khác liên tục cho đến khi hết đau, có thể lưu kim từ 1-2 giờ.
     Sỏi túi mật là một bệnh thường gặp trong ngoại khoa và hầu hết được y học hiện đại xử lý bằng phẫu thuật. Châm cứu có thể giúp cho túi mật tăng co bóp, giảm sự co thắt của cơ Oddi, tống xuất sỏi và các chất ứ trệ trong túi mật. Nghiên cứu của các nhà y học cổ truyền Trung Quốc cho thấy, nếu thực hiện đúng kỹ thuật thì sau 2-3 lần châm cứu , sỏi có thể bị đẩy ra bên ngoài, nếu thực hiện sau 5-7 lần mà đạt hiệu quả thì nên dừng lại và chuyển sang biện pháp khác.
2. Sỏi tiết niệu
* Huyệt vị : A thị huyệt là chủ yếu, các huyệt phối hợp được chọn tùy theo các biểu hiện lâm sàng. Huyệt Thận du (dưới gain gang đốt sống thắt lưng 2, từ đường giữa cột sống ngang ra 1,5 thốn), huyệt Kinh môn (dưới đầu mút của xương sườn cụt, đè vào có cảm giác ê hoặc tức) dùng cho sỏi thận và sỏi niệu quản trên. Huyệt Dương lăng tuyền (ngồi thẳng co gối, thõng chân xuống, huyệt ở chỗ lõm phía trước nơi thân nối với đầu trên xương mác) dùng cho sỏi niệu quản giữa và dưới. Huyệt Quan nguyên (là giao điểm của 3/5 trên và 2/5 dưới của đường nối rốn và điểm giữa bờ trên xương mu) và huyệt Trung cực (trên đường giữa bụng dưới rốn 4 thốn, trên điểm gữa bờ trên xương mu 1 thốn) dùng cho sỏi bàng quang. A thị huyệt bao gồm :
- Điểm ấn đau trong sỏi thận và sỏi niệu quản trên thường xuất hiện tại vùng phân bố của dây thần kinh tủy sống giữa đốt sống ngực thứ X và thắt lưng thứ I.
- Các điểm ấn đau trong sỏi niệu quản giữa và dưới thường xuất hiện tại vùng phân bố của các dây thần kinh tủy sống giữa đốt sống ngực thứ IX và thắt lưng thứ II.
- Các điểm ấn đau trong sỏi bàng quang thường xuất hiện ở vùng bụng dưới
- Đau quặn trong sỏi thận và sỏi niệu quản thường lan đến vùng thận, vùng bụng dưới và mặt trong đùi, nhưng trong sỏi bàng quang đau ở vùng hội âm.
- Những điểm hiện ra trên da của sỏi trên phim X quang cũng có thể chọn làm A thị huyệt.
* Thao tác : Những huyệt ở trên mức cột sống thắt lưng II được châm nghiêng 30-45 độ với kim hướng về phía cột sống, sâu từ 1-1,2 thốn, thực hiện thao tác vê kim. Những huyệt ở dưới mức cột sống thắt lưng II được châm thẳng góc với thao tác nâng, đẩy và cọ kim, sâu từ 1-2 thốn. Những huyệt ở vùng bụng nên châm thẳng góc cho đến phúc mạc kèm thao tác nâng, đẩy và cọ chậm rãi. Châ. Châm huyệt Dương lăng tuyền và Túc tam lý sâu 1,5-2 thốn kém theo thao tác nâng, đẩy và vê kim.
     Phương pháp châm trong cơn đau quặn thận tương tự như với cơn đau quặn mật. Thao tác được thực hiện trong 10-20 phút, lưu kim 30-60 phút, mỗi ngày châm một lần, 7 ngày là một liệu trình, giữa hai liệu trình nghỉ 2 ngày.
     Ở Trung Quốc, phương pháp dùng châm cứu trị liệu sỏi tiết niệu được sử dụng khá rộng rãi và cho hiệu quả rất đáng chú ý. Một nghiên cứu tại bệnh viện Quân đội Trung Quốc 31 tiến hành điều trị trên 100 bệnh nhân bị sỏi tiết niệu bằng phương pháp điện châm cho kết quả 75 trường hợp sỏi bị tống ra ngoài và 17 trường hợp sỏi di chuyển xuống dưới. Một nghiên cứu khác ở Giang Tây dùng phương pháp điểm huyệt chữa khỏi cho 13 trường hợp , sỏi bị đẩy ra ngoài nhanh nhất là 6 giờ và chậm nhất là 18 giờ. Các tác giả nhận thấy, từ 10-30 phút sau khi châm cơn đau quặn thận có thể nặng lên do sự di chuyển của viên sỏi, nên kiên trì tác động thì viên sỏi có thể bị tống ra ngoài.


                                                                                    Hoàng Khánh Toàn

Thứ Tư, 30 tháng 8, 2017

BẢY LOẠI DƯỢC TỬU GIÚP QUÝ ÔNG THĂNG HOA

BẢY LOẠI DƯỢC TỬU GIÚP QUÝ ÔNG THĂNG HOA


     Trong dược học cổ truyền, rượu thuốc bổ dương (bổ dương dược tửu hay trợ dương dược tửu) là một lĩnh vực hết sức phong phú và độc đáo, nhưng ở bài viết này chúng tôi chỉ xin giới thiệu một vài loại đơn giản và thông dụng nhằm mục đích giúp cho các “đấng mày râu” có thêm một vũ khí đủ khả năng để phòng và chống các trục trặc không muốn có trong đời sống tình dục như bất lực, xuất tinh sớm, di tinh, giảm sút ham muốn sinh hoạt vợ chồng..., khiến cho các quý ông có thể dễ dàng thăng hoa trong chuyện “chăn gối”.

   @ Nhung hươu tửu
     Thành phần : nhung hươu 30g, kỷ tử 30g, rượu trắng 1000 ml. Cách chế : nhung hươu thái vụn đem ngâm với rượu trong bình kín, sau chừng 7 - 10 ngày là có thể dùng được . Công dụng : tráng dương tư âm, dùng cho những người mắc chứng bất lực, khó thụ thai do chất lượng và số lượng tinh trùng suy giảm, giảm sút ham muốn và khoái cảm tình dục. Cách dùng : uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10 - 20 ml.
     Theo quan niệm của y học cổ truyền, phần lớn các rối loạn sinh lý nêu trên đều thuộc thể loại dương hư biểu hiện bằng các triệu chứng như mệt mỏi, sắc mặt nhợt nhạt, dễ đổ mồ hôi, tay chân lạnh, sợ lạnh, tinh dịch lạnh lẽo, lưng đau gối mỏi, hay vã mồ hôi lạnh khi sinh hoạt tình dục...Nhung hươu vị ngọt mặn, tính ấm nóng, có công năng đại bổ nguyên dương, sinh tinh cường cân nên có đủ khả năng giải quyết các chứng trạng này. Kỷ tử vị ngọt, tính mát, có công dụng dưỡng âm nhuận táo, bổ can ích thận, dùng phối hợp nhằm mục đích tăng cường công năng bổ dưỡng và điều hoà bớt tính nhiệt táo của nhung hươu, khiến cho loại rượu này vừa bổ dương lại vừa dưỡng âm, có thể sử dụng rộng rãi cho mọi đối tượng.
   @ Tiên mao tửu
     Thành phần : tiên mao 100g, rượu trắng 2000 ml. Cách chế : tiên mao thái vụn, đựng vào túi vải rồi đem ngâm rượu, sau 10 ngày có thể dùng được. Nếu chế tiên mao theo cách cửu chưng cửu sái (chín lần đồ và phơi) thì tốt nhất. Công dụng : ôn bổ tỳ thận, cường gân cốt, trừ hàn thấp, dùng cho người bị liệt dương, tinh lạnh, tiểu đêm nhiều lần, lưng đau, gối mỏi, suy giảm khả năng tình dục. Cách dùng : uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10 - 20 ml.
     Đây là loại bổ dương dược tửu được ghi trong y thư cổ Bản thảo cương mục. Theo dược học cổ truyền, tiên mao vị cay hơi đắng, tính ấm, có công dụng ôn thận dương, cường gân cốt, chuyên dùng để trị chứng dương nuy tinh lãnh (liệt dương, tinh dịch lạnh lẽo). Ví như, sách Bản thảo cương mục viết :" Tiên mao, tính nhiệt. Bổ tam tiêu, mệnh môn chi dược dã. Trị dương nhược tinh hàn" (tiên mao tính lạnh là thuốc bổ tam tiêu và mệnh môn, trị liệt dương tinh lạnh) ; sách Bản thảo cầu chân viết :"Tiên mao, cứ thư giai tải công chuyên bổ hỏa, trợ dương noãn tinh, phàm hạ nguyên hư lãnh, dương suy tinh lãnh phục chi hữu hiệu" (tiên mao theo sách vở thì chuyên dùng bổ hỏa, trợ dương, làm ấm tinh ; phàm các chứng hư lạnh phần dưới, liệt dương tinh lạnh uống đều có hiệu quả). Bởi vậy, Tiên mao tửu là một loại rượu thuốc rất đơn giản nhưng hiệu quả trợ dương lại rất đáng kể
   @ Dâm dương hoắc nhục dung tửu
     Thành phần : dâm dương hoắc 100g, nhục dung 50 g, rượu trắng 1000 ml. Cách chế : hai thứ thái vụn rồi đem ngâm với rượu, sau chừng 7 - 10 ngày là có thể dùng được. Công dụng : bổ thận tráng dương, cường gân kiện cốt, khu phong trừ thấp, dùng cho người bị suy giảm khả năng tình dục, di tinh, liệt dương, muộn con, đau lưng, viêm khớp...Cách dùng : uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 15 - 20 ml.
     Kinh nghiệm dùng rượu dâm dương hoắc hay còn gọi là rượu tiên linh tỳ để bổ dương cường tinh đã được lưu truyền từ lâu trong dân gian. Loại rượu này cũng đã được ghi trong y thư cổ Thọ thế bảo nguyênNhật hoa tử bản thảo. Theo dược học cổ truyền, cả hai vị dâm dương hoắc và nhục dung  đều có tác dụng bổ thận tráng dương. Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, ngoài công năng cải thiện hệ thống miễn dịch, có lợi cho tim mạch và chống lão hoá, cả hai vị này đều có khả năng thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát dục và nâng cao năng lực hoạt động của tuyến sinh dục. Loại rượu này có mùi vị thơm ngon, màu sắc hấp dẫn, công hiệu rõ ràng nên được nhiều người ưa dùng.
   @ Anh hùng tửu
     Thành phần : sơn thù 15g, cẩu tích 15g, đương quy 15g, kỷ tử 15g, thỏ ty tử 15g, nhân sâm 15g, mạch môn 30g, tắc kè 1 đôi, rượu trắng 2000 ml. Cách chế : các vị thuốc thái vụn ngâm với rượu trong bình kín, sau 3 tuần là có thể dùng được. Công dụng : bổ thận tráng dương, ích khí dưỡng huyết. Cách dùng : uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1 chén nhỏ.
     Đây là loại rượu thuốc bổ dương cường tinh được lưu truyền lâu đời trong dân gian. Trong đó nhân sâm đại bổ nguyên khí ; đương quy và kỷ tử bổ huyết ; mạch môn bổ âm ; sơn thù, cẩu tích, thỏ ty tử và tắc kè bổ thận dương. Tám vị phối hợp cân đối với nhau vừa bổ khí huyết vừa bổ âm dương, đặc biệt là thận dương nên công năng trợ dương cường tinh là rất tốt. Theo dân gian, Anh hùng tửu có tác dụng trị 9 chứng xấu của “cánh mày râu”, đó là : dương đạo suy yếu, yếu đuối không phấn chấn được, phấn chấn được mà không đủ, đủ mà không thực, thực mà không cứng, cứng mà không tuân theo, tuân theo mà không được lâu, lâu mà không có tinh, có tinh mà không có con.
   @ Tắc kè nhung hươu tửu
     Thành phần :Tắc kè 50g, nhung hươu 10g, nhục quế 20g, nhục dung 2og, tiên mao 20g, phụ tử chế 20g, đỗ trọng 20g, cẩu tích 20g, kỷ tử 20g, toả dương 20g, đẳng sâm 20g, đại táo 20g, đương quy 20g, thục địa 20g, sinh địa 20g, hoài sơn 20g, tục đoạn 20g, ngưu tất 20g, rượu trắng 2000 ml. Các vị thuốc sấy khô, tán vụn, đựng trong túi vải rồi ngâm với rượu trắng, sau 20 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10 - 20 ml. Công dụng : bổ thận tráng dương, bổ khí dưỡng huyết, tráng gân cường cốt, bình suyễn nạp khí, thường được dùng để bồi bổ cơ thể và chữa các chứng đau lưng do hư xương sụn cột sống, thoái hoá khớp gối, di tinh, liệt dương, suy giảm ham muốn tình dục, hen phế quản thể thận hư giai đoạn ổn định…
   @ Tắc kè ngọc cẩu tửu
     Thành phần : Tắc kè 50g, tinh hoàn chó 1 đôI (nếu là của chó vàng thì tốt nhất), ba kích 30g, nhục dung 30g, kỷ tử 30g, sơn thù 120g, trầm hương 4g, mật ong 100g, rượu trắng 250g. Các vị thuốc sấy khô, tán vụn ; tinh hoàn chó nghiền nhỏ, tất cả đem ngâm với rượu trắng, sau 21 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10 ml. Công dụng : bổ thận tráng dương, được dùng để bồi bổ sức khoẻ và chữa các chứng tay chân buốt lạnh, lưng đau gối mỏi, di tinh, liệt dương, suy giảm ham muốn tình dục…
     Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy, trong tắc kè rất giàu chất đạm, chất béo và đặc biệt chứa nhiều nguyên tố vi lượng như Zn, Fe, Ca, Mg…Điều cần lưu ý là, hàm lượng Zn và Fe ở đuôi tắc kè cao hơn nhiều lần so với ở thân, riêng Zn cao gấp 42 lần. Mặt khác, hàm lượngcác acid amin ở đuôi cũng rất phong phú, gần ngang so với tổng lượng acid amin ở phần thân. Bởi vậy, trong khi bào chế và sử dụng cần chú ý giữ nguyện vẹn phần đuôi của tắc kè. Các loại rượu  tắc kè nói trên nhìn chung đều có tính ôn ấm để trợ dương và bổ khí, cho nên những người cao huyết áp hoặc đang mắc các bệnh ngoại cảm phát sốt thì không nên sử dụng.
   @ Minh mạng tửu
     Thành phần : Nhân sâm 60g, tục đoạn 24g, bạch linh 36g, kỷ tử 24g, phòng phong 36g, đại hồi 24g, bạch mật 36g, nhục quế 12g, tần giao 24g, đào nhân 60g, đương quy 36g, đại táo 36g, xuyên khung 36g, độc hoạt 24g, bạch thược 36g, mộc qua 24g, thục địa 60g, thương truật 24g, đỗ trọng 24g, cam thảo 24g, khương hoạt 24g, quy bản 24g, trần bì 24g. Ngâm tất cả với 3 lít rượu ngon và 500g đường cát trắng. Sau 3 ngày cho thêm 1,5 lít nước sôi, ngâm thêm 7 ngày nữa thì dùng được. Mỗi ngày uống 1 - 2 lần, mỗi lần 30 ml (một chén nhỏ) vào trước bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ tối.
   Loại rượu này cũng có công dụng bồi bổ sinh lý và kéo dài tuổi thọ nhưng vì thiên về bổ dương nên chỉ dùng cho những người có hội chứng Dương hư biều hiện bằng các triệu chứng chủ yếu như thể trạng béo trệ hoặc yếu ớt, dễ bị cảm lạnh, hay sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt trắng bệch, mệt mỏi như mất sức, ban ngày dễ vã mồ hôi, miệng nhạt không thích uống nước lạnh, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng loãng, nam giới thì di tinh, tinh dịch lạnh và loãng, có thể bị liệt dương, xuất tinh sớm, suy giảm ham muốn tình dục…Những người có chứng âm hư không nên dùng loại rượu này. Đây vốn là phương thuốc do các quan ngự y của Thái y viện triều Nguyễn (1802 - 1945) lập ra để dùng cho vua Minh Mạng (1820 - 1840). Sau này được lưu truyền trong dân gian với tên gọi là “Minh Mạng thang”. Vì có công hiệu bổ thận rất cao nên được ca tụng là thứ rượu uống vào có thể “nhất dạ ngũ giao sinh ngũ tử”.

                                                                                      Hoàng Khánh Toàn




Thứ Tư, 19 tháng 7, 2017

CHỮA HO TRẺ EM BẰNG KINH NGHIỆM DÂN GIAN

CHỮA HO TRẺ EM BẰNG KINH NGHIỆM DÂN GIAN


     Ho là một trong những triệu chứng rất thường gặp ở trẻ em trong nhiều căn bệnh như viêm họng, viêm amydal, viêm phế quản, viêm phế quản phổi, ho gà, hen phế quản, viêm mũi dị ứng, viêm xoang…với nhiều nguyên nhân khác nhau. Ở điều kiện sinh lý bình thường, ho là một phản xạ sinh lý có tính bảo vệ cơ thể. Chính nhờ các phản xạ ho, bằng sự thở ra rất mạnh giúp làm sạch đường thở, tống xuất đàm, dịch tiết hoặc vật lạ lọt vào đường hô hấp, giúp nhung mao hô hấp hoạt động tốt. Tuy nhiên, khi ho quá mức thì lại trở thành một trạng thái bất lợi cho cơ thể và buộc bệnh nhi phải được sử dụng các biện pháp can thiệp cần thiết.
     Trong y học cổ truyền, ho thuộc phạm vi chứng “khái thấu” và được trị liệu bằng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó có việc dùng các kinh nghiệm dân gian đã có từ lâu đời. Bài viết này xin được giới thiệu một số ví dụ điển hình để độc giả tham khảo và sử dụng cho con trẻ khi cần thiết.
1. Dùng thuốc chữa ho
- Thịt ô mai (quả mơ) 3 quả, cam thảo 5 lát. Hai thứ giã nhỏ, ngậm thường xuyên, với trẻ nhỏ tuổi có thể hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, nhỏ vào họng của trẻ mỗi lần 5 giọt, mỗi ngày vài ba lần.
- Lá hẹ tươi 10 lá, đườngn phèn vừa đủ. Lá hẹ rửa sạch, thái nhỏ, đem hấp cách thủy cùng đường phèn, cho trẻ uống mỗi lần 2-3 thì cà phê, mỗi ngày 2 lần. Chuyên dùng để chữa cho trẻ khi bị cảm cúm có ho, sốt, sổ mũi.
- Tỏi lâu năm 3-4 nhánh, bóc vỏ, đập dập, cho vào cốc, đổ khoảng 100 ml nước sôi ngâm qua đêm, hôm sau lấy ra cho trẻ uống mỗi ngày 3 lần sau bữa ăn, có thể hòa thêm một chút đường cho dễ uống và làm giảm tính kích thích của tỏi.
- Bách bộ 6g, bạch tiền 6g, sa sâm 9g, xuyên bối mẫu 3g, sắc đặc, chia uống 3 lần trong ngày, dùng liên tục 5 ngày.
- Cúc vạn thọ 15 bông, sắc kỹ lấy nước, hòa thêm một chút đường đỏ, chia uống 3 lần trong ngày.
- Kinh giới, bách bộ, bạch tiền và trần bì mỗi thứ 6g, tử uyển 9g, cát cánh và cam thảo mỗi thứ 6g, sắc với 1 bát nước, cô lại còn nửa bát, chia uống vài lần trong ngày, mỗi ngày dùng 1 thang. Dùng cho tất cả các trường hợp ho.
- Rễ cây dâu 20g (cạo vỏ, tẩm mật ong, sao vàng)lá hẹ 20g, hoa đu đủ đực 20g, mạch môn 20g, tất cả đem sắc với ba bát nước, cô lại còn 1 bát, hòa thêm đường phèn,chia uống 3 lần trong ngày.
- Lá dâu tằm 20g, bạc hà 10g, rau má 20g, rễ cây chanh 10g, lá hẹ 10g, sắc kỹ lấy nước, chia uống vài lần trong ngày, có thể hòa thêm một chút đường phèn. Dùng chữa ho do cảm sốt.
- Gừng tươi 40g, củ sả 40g, đường trắng 100g. Hai thứ giã nhỏ, vắt lấy nước, hòa đường rồi cô nhỏ lửa thành dạng kẹo, mỗi lần lấy một ít ngậm dần.
- Quất hồng bì 20g, đường phèn lượng vừa đủ. Quất hồng bì rửa sạch, bỏ hạt, đem hấp cách thủy với đường phèn, mỗi ngày cho trẻ uống 2 lần, mỗi lần một thì cà phê.
- Vỏ trắng rễ cây dâu 12g (ngâm nước gạo một đêm), hoa cúc 12g, mạch môn 12g (đồ chín, rút bỏ lõi), bạc hà 8g, lá chanh 16g. Tất cả đem sắc với 500 ml nước, cô còn 200 ml, chia uống vài lần trong ngày.
2. Chữa ho không dùng thuốc
     Dùng một vài giọt dầu như: dầu sả, tinh dầu tràm, dầu hạnh nhân hoặc tinh dầu bạc hà vào lòng bàn tay, xoa đều rồi day xát nhẹ nhàng lòng bàn chân cho trẻ, bấm nhẹ điểm nối giữa 2/5 và 3/5 đường nối đầu mút ngón trỏ với điểm giữa bờ sau gót chân. Tiếp đó, cũng xoa xát vùng liên sống bả (ở giữa hai xương bả vai) cho trẻ sao nóng lên là được. Cuối cùng, tiến hành vỗ rung long đờm giảm ho bằng cách khum bàn tay lại rồi vỗ đều vào vùng lưng trẻ ở phần giữa hai bả vai ở tư thế nằm hoặc ngồi đầu hơi dốc xuống. Chú ý làm nhịp nhàng liên tục, tiến hành lúc trẻ đói, tốt nhất là buổi sáng ngủ dậy, khi chưa ăn gì.   


                                                                                  Hoàng Khánh Toàn

Thứ Ba, 18 tháng 7, 2017

KHÍ CÔNG CHỮA SỎI MẬT VÀ TIẾT NIỆU

KHÍ CÔNG PHÒNG CHỐNG SỎI MẬT, SỎI TIẾT NIỆU


     Khi không may bị sỏi mật hay sỏi tiết niệu, người ta thường nói đến việc thay đổi chế độ ăn, dùng thuốc, xoa bóp, bấm huyệt…nhưng ít ai nói đến vấn đề tập luyện khí công dưỡng sinh. Có thể nói, đây cũng là một phương pháp độc đáo có công dụng dự phòng cũng như hỗ trợ trị liệu các bệnh lý về sỏi với công năng hành khí, tán kết, nhuyễn kiên. Xin được giới thiệu hai công pháp điển hình.
1. Nội dưỡng công với bệnh sỏi mật
     Đây là một trong những công pháp chủ yếu thuộc thể loại tĩnh công, nghĩa là khi luyện công cơ thể hoàn toàn bất động. Nói là cơ thể bất động nhưng kỳ thực khi luyện tập, tạng phủ kinh lạc bên trong lại vận động rất mạnh mẽ, cho nên tĩnh công trên thực tế là ngoại tình nội động. Để phòng chông bệnh sỏi mật và sỏi tiết niệu , có thể kiên trì tập luyện đơn giản như sau :
     Chon tư thế nằm nghiêng, nếu đau nhiều hạ sườn phải nên tránh nằm nghiêng về bên phải. Tâm tĩnh, hia mắt nhắm hờ, đầu hơi cúi về trước, cột sống cong nhẹ ra sau. Tay ở dưới gấp lại tự nhiên, năm ngón tay duỗi, lòng bàn tay hướng lên, đặt trên gối, trước tai. Tay ở trên duỗi thẳng tự nhiên, năm ngón tay xò era và thả lỏng, lòng bàn tay hướng xuống, đặt trên vùng hông cùng bên, chân ở trên hơi gấp, chân ở dưới duỗi thẳng, hai đùi chồng lên nhau, hai gối sát vào nhau. Tập trung ý nghĩ vào vùng túi mật hoặc Đan điền. Thở bằng mũi, đầu tiên hít vào nhẹ đều liên tục, sau đó từ từ thở ra nhẹ đều liên tục, rồi lại tiếp tục chu trình như vậy trong thời gian 30-60 phút. Sauk hi bệnh tình chuyển biến tốt thì chuyển sang tư thế ngồi. Mỗi ngày luyện công 2-4 lần.
2.Lợi hạ tiêu dũng lâm công với bệnh sỏi tiết niệu
     Lần lượt thực hành các động tác sau đây :
- Đẩy bụng (thôi phúc). Chọn tư thế nằm ngửa. Lấy hai bàn tay đặt chồng lên nhau, tay trái ở dưới, tay phải ở trên, ấn vào huyệt Trung quản (lÊy ë ®iÓm gi÷a cña ®o¹n nèi rèn vµ ®iÓm gÆp nhau cña hai bê s­ên, trªn rèn 4 thèn). Khi thở ra, hai tay từ Trung quản đẩy thẳng đến khớp xương mu. Làm như vậy 36 lần.
- Nặn rốn, xoa bóp bụng. Tìm huyệt Lao cung bàn tay phải (nắm chặt các ngón tay, huyệt ở trên đường vân tim của gan bàn tay, nơi khe của ngón giữa và ngón vô danh chấm vào đường vân này), đặt trên rốn rồi thuận theo chiều kim đồng hồ, xoay chuyển và xoa bóp 36 lần. Sau đó lấy rốn làm trung tâm, nhẹ nhàng hướng ngược chiều kim đồng hồ xoay chuyển và xoa bóp bụng 36 lần.
- Cũng dùng thủ pháp như trên dùng huyệt Lao cung tay trái ấn vào Đan điền rồi thuận theo chiều kim đồng hồ xoay chuyển và xoa bóp bụng 36 lần
- Dùng ô mô út (tiểu ngư tế)ấn hai bên bụng dưới, ấn đẩy 36 lần.
- Chuyển tư thế ngồi. Hai bàn tay xát vào nóng ròi đặt lên hai bên xương cùng, xát lên xuống nhiều lần sao cho vùng này nóng lên là được.
- Tiếp theo, lấy bốn ngón tay bàn tay trái : ngón trỏ, ngón giữa, ngón nhẫn và ngón út khép lại, dùng mặt các ngón tay, từ phía đầu gối trái mé trong ấn đẩy tới gốc đùi 300 lần. Sau đó, lại dùng bốn ngón tay tương tự của bàn tay phải làm theo cách như trên, ấn đẩy mé trong đùi phải 300 lần.
- Cuối cùng, nằm ngửa trên giường, hai đầu gối gấp hướng về phía ngực bụng, mười ngón tay giao nhau úp vào đầu gối, trước sau từ từ day xoa vùng bụng, đồng thời hít vào sâu sau đó từ từ thở ra bằng mũi. Làm như vậy 24 tức.
     Cả hai công pháp trên đều rất đơn giản, dễ học, dễ làm và không tốn kém. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả cao nhất rất cần việc thực hành liên tục, kiên trì và đúng phương pháp.


                                                                                   Hoàng Khánh Toàn 

CHÂM CỨU CHỮA SỎI MẬT VÀ SỎI TIẾT NIỆU

CHÂM CỨU CHỮA SỎI MẬT VÀ SỎI TIẾT NIỆU


     Sỏi túi mật và sỏi tiết niệu là những bệnh thường gặp và dễ gây các biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe. Trong y học cổ truyền, sỏi mật thuộc phạm vi chứng “đởm thạch” và sỏi tiết niệu thuộc phạm vi chứng “ngũ lâm”. Trong trị liệu hai căn bệnh này, người ta thường chú trọng nhiều đến việc dùng thuốc uống trong mà chưa thật sự chú trọng đến việc sử dụng các biện pháp không dùng thuốc, trong đó có châm cứu. Bài viết này xin được giới thiệu một số quy trình châm cứu chữa sỏi túi mật và sỏi tiết niệu để bạn đọc tham khảo và vận dụng khi cần thiết.
1. Sỏi túi mật
* Huyệt vị : A thị huyệt (điểm ấn đau vùng bụng trên bên phải), huyệt Nhật nguyệt (từ núm vú kéo thẳng xuống ở khoảng giữa gian sườn 7, sát bờ trên xương sườn 8) bên phải và hai huyệt Dương lăng tuyền (ngồi thẳng co gối, thõng chân xuống, huyệt ở chỗ lõm phía trước nơi thân nối với đầu trên xương mác) là chủ huyệt. Những huyệt hỗ trợ là Hợp cốc (ở chỗ lõm giữa xương bàn tay thứ nhất và thứ hai (ngón cái và ngón trỏ), dùng ngón tay cái ấn men theo bờ xương bàn tay thứ hai tìm điểm khi ấn có cảm giác đau tức lan sang ngón tay út thì đó là vị trí của huyệt) và 12 huyệt tỉnh khi có sốt, Trung quản (trên đường giữa bụng, từ rốn đo lên 4 thốn) và Nội quan (vểnh ngược bàn tay vào cẳng tay để lộ rõ khe của gân cơ gan tay lớn và gân cơ gan tay bé, huyệt nằm giữa hai gấn cơ này trên nếp gấp lằn cổ tay 2 thốn) khi có nôn và buồn nôn.
* Thao tác : Để bệnh nhân nằm ngửa, gối gấp 45 độ. Trước tiên xác định và châm nghiêng A thị huyệt và Nhật nguyệt với góc 45 độ, sâu 0,5-1 thốn, thực hiện thao tác vê kim. Tiếp theo, châm Dương lăng tuyền sâu 1,5-3 thốn với thao tác nâng đẩy và vê kim. Châm Trung quản sâu 1,5-2 thốn, châm nghiêng và vê kim, châm Hợp cốc sâu 0.5-1 thốn, châm thẳng và thực hiện thao tác vê kim. Nếu trong cơn đau, dùng kim tam lăng chích máu 12 huyệt tỉnh và thực hiện thao tác vê kim các huyệt khác liên tục cho đến khi hết đau, có thể lưu kim từ 1-2 giờ.
     Sỏi túi mật là một bệnh thường gặp trong ngoại khoa và hầu hết được y học hiện đại xử lý bằng phẫu thuật. Châm cứu có thể giúp cho túi mật tăng co bóp, giảm sự co thắt của cơ Oddi, tống xuất sỏi và các chất ứ trệ trong túi mật. Nghiên cứu của các nhà y học cổ truyền Trung Quốc cho thấy, nếu thực hiện đúng kỹ thuật thì sau 2-3 lần châm cứu , sỏi có thể bị đẩy ra bên ngoài, nếu thực hiện sau 5-7 lần mà đạt hiệu quả thì nên dừng lại và chuyển sang biện pháp khác.
2. Sỏi tiết niệu
* Huyệt vị : A thị huyệt là chủ yếu, các huyệt phối hợp được chọn tùy theo các biểu hiện lâm sàng. Huyệt Thận du (dưới gain gang đốt sống thắt lưng 2, từ đường giữa cột sống ngang ra 1,5 thốn), huyệt Kinh môn (dưới đầu mút của xương sườn cụt, đè vào có cảm giác ê hoặc tức) dùng cho sỏi thận và sỏi niệu quản trên. Huyệt Dương lăng tuyền (ngồi thẳng co gối, thõng chân xuống, huyệt ở chỗ lõm phía trước nơi thân nối với đầu trên xương mác) dùng cho sỏi niệu quản giữa và dưới. Huyệt Quan nguyên (là giao điểm của 3/5 trên và 2/5 dưới của đường nối rốn và điểm giữa bờ trên xương mu) và huyệt Trung cực (trên đường giữa bụng dưới rốn 4 thốn, trên điểm gữa bờ trên xương mu 1 thốn) dùng cho sỏi bàng quang. A thị huyệt bao gồm :
- Điểm ấn đau trong sỏi thận và sỏi niệu quản trên thường xuất hiện tại vùng phân bố của dây thần kinh tủy sống giữa đốt sống ngực thứ X và thắt lưng thứ I.
- Các điểm ấn đau trong sỏi niệu quản giữa và dưới thường xuất hiện tại vùng phân bố của các dây thần kinh tủy sống giữa đốt sống ngực thứ IX và thắt lưng thứ II.
- Các điểm ấn đau trong sỏi bàng quang thường xuất hiện ở vùng bụng dưới
- Đau quặn trong sỏi thận và sỏi niệu quản thường lan đến vùng thận, vùng bụng dưới và mặt trong đùi, nhưng trong sỏi bàng quang đau ở vùng hội âm.
- Những điểm hiện ra trên da của sỏi trên phim X quang cũng có thể chọn làm A thị huyệt.
* Thao tác : Những huyệt ở trên mức cột sống thắt lưng II được châm nghiêng 30-45 độ với kim hướng về phía cột sống, sâu từ 1-1,2 thốn, thực hiện thao tác vê kim. Những huyệt ở dưới mức cột sống thắt lưng II được châm thẳng góc với thao tác nâng, đẩy và cọ kim, sâu từ 1-2 thốn. Những huyệt ở vùng bụng nên châm thẳng góc cho đến phúc mạc kèm thao tác nâng, đẩy và cọ chậm rãi. Châ. Châm huyệt Dương lăng tuyền và Túc tam lý sâu 1,5-2 thốn kém theo thao tác nâng, đẩy và vê kim.
     Phương pháp châm trong cơn đau quặn thận tương tự như với cơn đau quặn mật. Thao tác được thực hiện trong 10-20 phút, lưu kim 30-60 phút, mỗi ngày châm một lần, 7 ngày là một liệu trình, giữa hai liệu trình nghỉ 2 ngày.
     Ở Trung Quốc, phương pháp dùng châm cứu trị liệu sỏi tiết niệu được sử dụng khá rộng rãi và cho hiệu quả rất đáng chú ý. Một nghiên cứu tại bệnh viện Quân đội Trung Quốc 31 tiến hành điều trị trên 100 bệnh nhân bị sỏi tiết niệu bằng phương pháp điện châm cho kết quả 75 trường hợp sỏi bị tống ra ngoài và 17 trường hợp sỏi di chuyển xuống dưới. Một nghiên cứu khác ở Giang Tây dùng phương pháp điểm huyệt chữa khỏi cho 13 trường hợp , sỏi bị đẩy ra ngoài nhanh nhất là 6 giờ và chậm nhất là 18 giờ. Các tác giả nhận thấy, từ 10-30 phút sau khi châm cơn đau quặn thận có thể nặng lên do sự di chuyển của viên sỏi, nên kiên trì tác động thì viên sỏi có thể bị tống ra ngoài.


                                                                                    Hoàng Khánh Toàn