Thứ Tư, 28 tháng 12, 2016

BÍ PHƯƠNG CHỮA BỆNH GAN DO RƯỢU

BÍ PHƯƠNG CHỮA BỆNH GAN DO RƯỢU


     Trong những năm gần đây, bệnh gan có nguyên nhân do lạm dụng rượu bia đang có xu hường gia tăng nhanh chóng và gây ra rất nhiều hệ lụy. Thường gặp nhất là ba loại : gan nhiễm mỡ do rượu, viêm gan do rượu và xơ gan do rượu. Để dự phòng và điều trị căn bệnh này ngoài việc sử dụng thuốc của y học hiện đại người ta có xu hướng tìm đến y học cổ truyền với những loại thảo dược có công năng trị liệu các chứng bệnh tương ứng với bệnh gan do rượu như “Tửu đản”, “ Tích tụ”, “Hiếp thống”, “Chướng mãn”…Các thảo dược này được lựa chọn và phối hợp tạo thành các bí phương, nghiệm phương rồi được khảo trên lâm  sàng theo quan điểm “biện chứng luận trị” hoặc “biện bệnh luận trị”. Dưới đây xin được giới thiệu 12 ví dụ điển hình.
1. Cát hoa thang : Cát hoa (hoa sắn dây) 12g, liên kiều 12g, hổ trượng 9g, xương bồ 5g, sa nhân 3g, sinh cam thảo 20g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Một nghiên cứu khảo sát trên 82 ca, kết quả : tốt 26 ca, khá 39 ca, không hiệu quả 17 ca.
2. Sài cầm thang : Sài hồ 12g, trạch tả 12g, , trư linh 15g, đẳng sâm 15g, bạch truật 10, bán hạ chế 10g, quế chi 10g, chích thảo 6g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Công dụng : sơ can lợi mật, giải rượu tả độc, dùng hữu hiệu cho những bệnh nhân bị tổn thương gan do rượu.
3. Nhu can tiêu thủy thang : Cát căn 20g, sinh hoàng kỳ 50g, biển đậu 10g, hải tảo 10g, kê nội kim 10g, địa miết trùng 10g, đan sâm 10g, thanh bì 10g, thanh đại 6g, bạch truật 15g, trạch lan 15g, lai phục tử 15g, côn bố 15g, sài hồ 15g, trạch tả 15g, nhân trần 18g. Khí hư thì gia thêm hồng sâm hoặc tây dương sâm 10g, huyết hư thì gia thêm đương quy 6g, âm hư thì gia thêm miết giáp 20g, dương hư gia thêm phụ tử chế 10g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.
4. Gia vị ôn đởm thang : Tích tương thực 10g, hoàng liên 10g, bán hạ chế 10g, bạch linh 15g, trúc nhự 12g, trần bì 12g, đào nhân 12g, sài hồ 12g, xích thược 12g, bạch thược 12g, đan sâm 30g, sơn tra 30g, miết giáp 24g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Công dụng : giải rượu tả độc, lý khí vận tỳ, hoạt huyết hóa ứ, dùng thích hợp cho bênh gan do rượu thuộc thể Can uất tỳ hư, nhiệt ứ hỗ kết.
5. Giải tửu bảo can thang : Sơn tra sao 30g, tích tương tử 15g, trạch tả 15g, trư linh 15g, sài hồ 15g, kê nội kim 15g, chi tử sao 10g, bạch thược sao 10g, hoàng cầm 10g, thần khúc 10g, sa nhân 10g, uất kim 20g, sinh khương 5g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Công dụng : sơ can thanh nhiệt, giải rượu hóa trùng, tiêu kiên giáng mỡ, dùng thích hợp cho trường hợp gan nhiễm mỡ do rượu. Một khảo sát trên 23 ca, kết quả khỏi 8 ca, chuyển biến tốt 13 ca, không hiệu quả 2 ca, đạt tỷ lệ hiệu quả 91,3%.
6. Thanh chi phục can thang : Sinh sơn tra 30g, hắc sửu 15g, bạch sửu 15g, tỳ giải 15g, hà thủ ô 10g, trạch tả 10g, đan sâm 20g, nhân trần 20g, sắc uống mỗi ngày 1 thang, 20 thang là 1 liệu trình. Công dụng : thanh tả thấp nhiệt, hoạt huyết giáng mỡ, dùng thích hợp cho bệnh gan nhiễm mỡ do rượu. Một khảo sát trên 48 ca, kết quả khỏi 28 ca, có chuyển biến 14 ca, không tác dụng 6 ca, đạt hiệu quả 87,5%.
7. Thanh can hoạt huyết phương : Sài hồ, hoàng cầm, đan sâm, miết giáp, cát căn, hàm lượng bằng nhau, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Công dụng : sơ can thanh nhiệt hoạt huyết giải độc, dùng cho bệnh gan do rượu. Một khảo sát lâm sàng trên 35 ca, kết quả khỏi 17 ca, tốt 12 ca, khá 5ca, không hiệu quả 1 ca.
8. Thanh can giải tửu ẩm : Nhân trần 20g, cát căn 20g, thiết quan âm trà 20g, bạch mao căn 20g, bạch linh 15g, sơn tra 15g, trạch lan 10g. Nếu thấp nhiệt uất kết can vị bất hòa gia bồ công anh 15g, đại hoàng 6g, chi tử 10g ; nếu thấp trệ tỳ hư, can khí uất kết gia bán hạ chế 10g, hậu phác 10g, bạch truật 15g, thảo quyết minh 15g ; nếu thấp ứ hiệp trở, can tỳ lưỡng hư gia xích thược 12g, đương quy 10g đào nhân 10g, hồng hoa 8g, manh trùng 6g, sâm cao ly 3g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Công dụng : thanh lợi tửu thấp, hòa can khứ tích, chuyên dùng cho bệnh gan do rượu. Một khảo sát lâm sàng trên 42 ca, kết quả khỏi 22 ca, có chuyển biến rõ 15 ca, không hiệu quả 5 ca.
9. Thanh can giải độc thang : Sài hồ 10g, hoàng cầm 10g, bán hạ chế 10g, tam thất 10g, bồ công anh 30g, sơn tra 30g, hổ trượng căn 30g, căn hoa 30g, ý dĩ 30g, đan sâm 15g, bản lam căn 15g, bạch linh 15g, sinh cam thảo 6g. Nếu bụng đầy đi lỏng, rêu lưỡi trắng nhờn gia thương truật 15g, bạch truật 15g, thần khúc 15g, trần bì 10g ; nếu vàng da gia nhân trần 30g ; nếu có cổ trướng hoặc phù chi dưới gia xa tiền tử 30g, trạch tả 15g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Công dụng : thanh nhiệt hóa thấp, hoạt huyết giải độc, chuyên dùng cho bệnh gan do rượu, men GGT tăng cao. Một khảo sát trên 42 ca, kết quả khỏi 38 ca, có chuyển biến 4 ca.
10. Giải tửu hộ can ẩm : Căn hoa, cát căn, tích tương tử, nhân trần, hổ trượng, đan sâm, đẳng sâm, bạch truật, bạch mao căn lượng bằng nhau, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Công dụng : thanh nhiệt trừ thấp, kiện tỳ hòa vị, chuyên dùng cho bệnh gan do rượu. Một khảo sát trên 36 ca, kết quả khỏi 24 ca, có chuyển biến rõ 8 ca, không có hiệu quả 4 ca.
11. Sơn tra trà diệp thang : Sinh sơn tra đan sâm 15g, trà diệp 15g, thảo quyết minh 15g, hà diệp 10g, bạch truật 10g, đại hoàng 10g, lộ lộ thông 10g, hương phụ 10g, uất kim 10g, quy vĩ 12g, xích thược 12g, bạch phàn (tán bột uống) 1,5g, hà thủ ô 30g, sắc uống mỗi ngày 1 thang, 3 tháng là 1 liệu trình. Công dụng : tiêu tích lợi thấp, sơ can kiện tỳ, chuyên dùng chữa bệnh gan do rượu.
12. Thanh nhiệt lương huyết giải tửu phương : Nhân trần 30g, cát căn 30g, bạch mao hạ khô thảo 30g, bạch mao căn 30g, bạch hoa xà thiệt thảo 30g, tiêu sơn tra 30g, thanh cao 10g, trạch lan 10g, xích thược 15g, đan sâm 20g. Nếu thấp nhiệt uất kết, can hỏa phạm vị gia bồ công anh 30g, đại hoàng 6g, kim ngân hoa 15g ; nếu thấp khốn tỳ hư, can khí uất trệ gia hậu phác 10g, bán hạ chế 10g, thương truật 10g ; nếu thấp nhiệt hiệp ứ, can tỳ lưỡng hư gia đương quy 10g, đào nhân 10g, địa miết trùng 6g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, 7 tuần là 1 liệu trình. Công dụng : kiện tỳ lợi thấp, lương huyết thanh nhiệt, sơ can hòa vị, chuyên dùng cho bệnh gan do rượu. Một khảo sát trên 47 ca, kết quả khỏi 25 ca, có chuyển biến rõ 16 ca, không có hiệu quả 6 ca.

                                                                                  Hoàng Khánh Toàn

RƯỢU THUỐC CHO PHỤ NỮ SUY GIẢM SINH LÝ

RƯỢU THUỐC CHO PHỤ NỮ SUY GIẢM HAM MUỐN TÌNH DỤC


     Suy giảm ham muốn tình dục ở phụ nữ thời kỳ mãn kinh là điều đương nhiên và dễ hiểu, nhưng tình trạng này xảy ra với những người còn đang trong tuổi sinh hoạt tình dục thì lại là một vấn đề có tính chất bệnh lý. Tuy chưa có con số thống kê chính thức nhưng trên thực tế hiện nay, tỷ lệ phụ nữ lâm vào hoàn cảnh đáng buồn này đang có xu hướng gia tăng và trẻ hóa do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong y học cổ truyền, suy giảm ham muốn tình dục thuộc phạm vi các chứng bệnh như “liệt âm”, “lãnh âm”…và đã được người xưa trị liệu bằng nhiều phương pháp như dùng thuốc, châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, tập luyện khí công dưỡng sinh…, trong đó có một cách thức khá độc đáo là lựa chọn sử dụng các loại rượu thuốc có công năng bổ thận ích tinh, bổ thận tráng dương, tăng cường hưng phấn tình dục. Nhiều người nghĩ rằng rượu thuốc tăng cường ham muốn tình dục chỉ dành cho đàn ông, nhưng trên nguyên tắc “biện chứng luận trị”, kho tàng dược tửu của y học cổ truyền cũng có không ít các loại rượu dành cho phụ nữ. Bài viết này xin được giới thiệu một số ví dụ điển hình để độc giả có thể tham khảo và sử dụng khi cần thiết.
* Rượu Tiên linh tỳ : Thục địa 30g, hoài sơn 15g, tiên linh tỳ 30g, kỷ tử 30g, rượu trắng nhẹ độ 500 ml. Các vị thuốc sấy khô, thái vụn, cho vào túi vải mỏng, buộc kín miệng đem ngâm với rượu trong bình kín, để nơi thoáng mát, mỗi ngày lắc 2 lần, sau 15 ngày thì dùng được, uống 2 lần trong ngày, mỗi lần 15 ml. Công dụng : ôn thận tráng dương, tăng tinh bổ tủy, cải thiện sức khỏe, làm hưng phấn tình dục. Dùng tốt cho phụ nữ suy giảm ham muốn tình dục thuộc thể Dương hư biểu hiện bằng các triệu chứng như sợ lạnh thích ấm, tay chân lạnh, sắc mặt nhợt nhạt, đau lưng mỏi gối, kinh nguyệt lượng ít sắc nhợt, đại tiện lỏng nát…Nhừng người âm hư hỏa vượng không dùng.
* Rượu Tiên mao : Tiên mao 100g, nhục thung dung 100g, thỏ ty tử 100g, xà sàng tử 50g, rượu trắng nhẹ độ 1500 ml. Dùng dao nứa cạo vỏ tiên mao, cắt nhỏ đem ngâm với nước sắc đậu đen trong 3 ngày rồi vớt ra phơi khô. Các vị thuốc thái vụn, cho vào túi vải mỏng buộc kín miệng, đem ngâm với rượu trong bình kín, để ở nơi thoáng mát, mỗi ngày lắc đều 2 lần, sau 15 ngày thì dùng được, uống 2 lần trong ngày, mỗi lần 15 ml. Công dụng : bổ thận tráng dương, tăng cường hưng phấn tình dục. Dùng thích hợp cho phụ nữ suy giảm ham muốn tình dục thuộc thể Dương hư, hay đau lưng mỏi gối.
* Rượu Nhục thung dung : Nhục thung dung 12g, thỏ ty tử 12g, xà sàng tử 12g, ngũ vị tử 12g, viễn chí 12g, tục đoạn 12g, đỗ trọng 12g, rượu trắng nhẹ độ 500 ml. Các vị thuốc tán vụn, cho vào túi vải mỏng buộc kín miệng, đem ngâm với rượu trong bình kín, để ở nơi thoáng mát, mỗi ngày lắc đều 2 lần, sau 15 ngày thì dùng được, uống 2 lần trong ngày, mỗi lần 10 ml. Công dụng : bổ thận ích tinh, làm mạnh gân xương, tăng cường khả năng hưng phấn tình dục. Dùng thích hợp cho những phụ nữ bị suy giảm ham muốn tình dục thuộc thể Thận suy tinh thoái, lưng đau gối mỏi, người bụng dạ yếu, đi ngoài phân lỏng nát không dùng.
* Rượu Cật dê : Cật dê sống 1 đôi, bạch tật lê 60g, quế nhục 60g, dâm dương hoắc 60g, tiên mao 60g, ngọc mễ 60g, rượu trắng nhẹ độ 1500 ml. Bạch tật lê sao qua, dâm dương hoắc sao với mỡ dê hoặc dầu vừng, tiên mao ngâm trong nước vo gạo nếp loãng cho hết dầu. Cho tất cả các vị thuốc vào túi vải mỏng buộc kín miệng, đem ngâm với rượu trong bình kín, để ở nơi thoáng mát, mỗi ngày lắc đều 2 lần, sau 15 ngày thì dùng được, uống 2 lần trong ngày, mỗi lần 15 ml. Công dụng : ôn thận bổ dương, làm mạnh gân cốt, tăng cường hưng phấn tình dục. Dùng thích hợp cho những phụ nữ suy giảm ham muốn tình dục thuộc thể Dương hư.
* Rượu Dương khởi thạch : Dương khởi thạch, muối tinh và rượu trắng nhẹ độ lượng vừa phải. Đem sao dương khởi thạch bằng lửa to rồi nghiền nhỏ, lấy 6g bỏ vào cốc, lại lấy 20 ml rượu trắng nhẹ độ đổ vào nồi đun sôi, chế thêm một chút muối, sau đó đổ rượu đã đun sôi vào cốc khuấy đều, uống nóng. Mỗi ngày uống 2 lần sáng và tối, kiêng tiết dê. Công dụng : ôn bổ mệnh môn, cường tráng thận dương, dùng thích hợp cho những phụ nữ suy giảm ham muốn tình dục do mệnh môn hỏa suy.
* Rượu Kỷ tử : Kỷ tử 12g, cúc hoa 6g, sinh địa 12g, thục địa 12g, sơn thù du 10g, hoài sơn 10g, đan bì 6g, bạch linh 12g, hạn liên thảo 15g, nữ trinh tử 10g, địa cốt bì 12g, rượu trắng nhẹ độ 1000 ml. Các vị thuốc tán vụn, cho vào túi vải mỏng buộc kín miệng, đem ngâm với rượu trong bình kín, để ở nơi thoáng mát, mỗi ngày lắc đều 2 lần, sau 15 ngày thì dùng được, uống 2 lần trong ngày, mỗi lần 15 ml. Công dụng : tư bổ thận âm, ích tinh dưỡng huyết, tăng cường hưng phấn tình dục. Dùng thích hợp cho những phụ nữ suy giảm ham muốn tình dục thuộc thể Âm hư biểu hiện bằng các triệu chứng như người gầy yếu, lòng bàn tay và bàn chân nóng, đầu choáng mắt hoa, hay có cảm giác sốt nhẹ về chiều, vã mồ hôi khi ngủ, lưng đau gối mỏi, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, âm đạo khô khan tiết ít dịch…
* Rượu Sâm kỳ : Đẳng sâm 15g, hoàng kỳ 18g, kê huyết đằng 15g, thục địa 15g, tử hà xa 10g, long nhãn 10g, thỏ ty tử 10g, kỷ tử 10g, đương quy 10g, bạch truật 10g, dâm dương hoắc 10g, lộc giác sương 15g, mộc hương 3g, rượu trắng nhẹ độ 1000 ml. Các vị thuốc tán vụn, cho vào túi vải mỏng buộc kín miệng, đem ngâm với rượu trong bình kín, để ở nơi thoáng mát, mỗi ngày lắc đều 2 lần, sau 15 ngày thì dùng được, uống 2 lần trong ngày, mỗi lần 15 ml. Công dụng : bổ ích khí huyết, điều bổ tâm tỳ, tăng cường hưng phấn tình dục, Dùng thích hợp cho những phụ nữ suy giảm ham muốn tình dục thuộc thể Khí huyết lưỡng hư biểu hiện bằng các triệu chứng như mệt mỏi như mất sức, sắc mặt không tươi, môi và móng tay, móng chân nhợt nhạt, hay có cảm giác khó thở, hồi hộp trống ngực, ăn kém, chậm tiêu, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng nát.
* Rượu Sài thược : Sài hồ 10g, bạch thược 12g, đương quy 10g, bạch linh 12g, thục địa 15g, bạch truật 10g, hợp hoan bì 12g, dạ giao đằng 12g, hương phụ chế 10g, chỉ xác 6g, uất kim 8g, kỷ tử 12g, dâm dương hoắc 12g, cam thảo 6g. Các vị thuốc tán vụn, cho vào túi vải mỏng buộc kín miệng, đem ngâm với rượu trong bình kín, để ở nơi thoáng mát, mỗi ngày lắc đều 2 lần, sau 15 ngày thì dùng được, uống 2 lần trong ngày, mỗi lần 15 ml. Công dụng : sơ can giải uất, lý khí hòa huyết, bổ can thận, tăng cường hưng phấn tình dục, dùng thích hợp cho những phụ nữ suy giảm ham muốn tình dục thuộc thể Can khí uất kết biểu hiện bằng các triệu chứng như dễ căng thẳng thàn kinh, hay cáu giận, buồn phiền uất ức, ngực sườn đầy chướng, hay thở dài, kinh nguyệt không đều, trước và sau hành kinh hay căng tức nhũ phòng, âm đạo khô sáp, mạch căng như dây đàn.
* Rượu Cật hải cẩu : Cật hải cẩu 2 quả, men rượu 200g, gạo nếp 5 kg. Cật hải cẩu ngâm rượu xong giã nát trộn với men rượu, gạo nếp ủ nấu thành rượu như bình thường. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 10 ml vào lúc đói. Công dụng : ôn thận tráng dương, ích tinh bổ tủy, tăng cường sinh lý, thích hợp cho những phụ nữ suy giảm ham muốn tình dục thuộc thể Dương hư thận suy.
* Rượu Nam thiên trúc tử : Nam thiên trúc tử 45g, rượu trắng nhẹ độ 500 ml. Đem nam thiên trúc tử ngâm với rượu trong bình kín, để ở nơi thoáng mát, lắc đều 2 lần trong ngày, sau 15 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 15 ml. Công dụng : ích khí hoạt huyết, cường gân kiện cốt, khu phong trừ thấp, tăng cường sinh lý, dùng thích hợp cho những phụ nữ suy giảm ham muốn tình dục thuộc thể Khí hư huyết ứ biểu hiện bằng các triệu chứng như mỏi mệt nhiều, hay có cảm giác khó thở, sắc mặt xanh nhợt, dễ có những nốt hoặc đám tụ huyết, ăn kém, chậm tiêu, chất lưỡi tía, tĩnh mạch dưới lưỡi giãn, đại tiện lỏng nát, đau bụng khi hành kinh, lượng kinh ít và hay có máu cục.
     Theo y học cổ truyền, rượu uống với một lượng nhỏ vốn đã là một thứ thuốc làm tăng ham muốn tình dục (tình dược), lại được ngâm thêm với các vị thuốc đã được lựa chọn tùy theo tính chất bệnh lý của từng người theo quan điểm “biện chứng luận trị” thì dĩ nhiên sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn nhiều trong việc cải thiện tình trạng suy giảm ham muốn tình dục. Tuy nhiên, nhiều phụ nữ không biết uống rượu hoặc giả chỉ uống được rất ít, bởi vậy trong các loại dược tửu nói trên cần chú ý chọn thứ rượu trắng nhẹ độ, thường dưới 29 độ là hợp lý.


                                                                                       Hoàng Khánh Toàn 

RƯỢU VÀ TINH DỤC

NGÀY XUÂN, NÓI CHUYỆN VỀ RƯỢU VÀ TÌNH DỤC


     Ngày xuân, không thể thiếu rượu và việc uống rượu. Đối với người Việt Nam chúng ta nói riêng và thế giới nói chung, rượu không chỉ là một đồ uống thông dụng mà còn là một nét văn hóa đặc sắc của không ít vùng miền. Tuy nhiên, trong nhiều năm gần đây, rượu và chuyện uống rượu đã trở thành một vấn đề bức xúc trong xã hội bởi những hệ lụy lớn lao của nó và đã gây ra những chuyện bàn cãi về công dụng của rượu trên nhiều phương diện của đời sống xã hội và sức khỏe con người, trong đó có vấn đề rượu và sức khỏe tình dục.
     Người xưa có câu: “Tửu vi bách dược chi trưởng” (rượu đứng đầu trăm thứ thuốc). Sách thuốc cổ cũng viết: “ Tửu, thông huyết mạch, hậu tỳ vị, nhuận bì phu, tán thấp khí, hành dược thế, sát bách tà, chỉ đông thống, khước phong hàn”, nghĩa là: rượu có công dụng làm lưu thông huyết mạch, trợ giúp tỳ vị, làm da dẻ nhu nhuận, trừ phong thấp, dẫn thuốc, sát trùng, giảm đau và nâng cao năng lực chống lạnh. Về phương diện sức khỏe tình dục, người xưa vẫn thường gắn liền hai chữ “tửu” và “sắc” với nhau, điều đó phần nào nói lên công năng lợi “sắc” của rượu và rượu được goi là “tình dược” (thuốc dùng cho tình dục). Theo dược học cổ truyền, vì có tính ấm vị cay nên rượu có tác dụng khởi dương, trợ dương, hưng dương và làm ôn thông kinh mạch rất có lợi cho sức khỏe tình dục. Đặc biệt là khi rượu được ngâm với các vị thuốc có công năng ôn thận bổ dương, tăng cường sinh lý như ba kích, nhục dung, dâm dương hoắc, tỏa dương, tiên mao, hải cẩu, ngẩu pín…
     Thực tế cuộc sống và kết quả nhiều nghiên cứu cho thấy, rượu có tác dụng làm tăng hưng phấn cho “chuyện chăn gối”. Nó có xu hướng làm thoát trạng thái ức chế, làm giảm độ lo âu, bồn chồn, khiến tâm trí con người có cảm giác lâng lâng dễ chịu làm tăng mức độ tự tin và giúp vượt qua sự nhút nhát tự ti khi “động phòng”. Rượu mang tới cảm giác ấm áp, hạnh phúc và loại bỏ các ức chế trong cuộc sống, điều đó được coi như là một loại thích kích dục. Rượu cũng làm chậm các vùng bảo vệ ở não, suy nghĩ đề phòng đối phương sẽ bị loại bỏ và việc tiếp cận giữa những người khác giới trở nên dễ dàng, đơn giản hơn. Điều này hết sức quan trọng vì sự căng thẳng kéo dài và nỗi lo không đạt hiệu quả mong muốn trên gường ngủ có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng quan hệ tình dục. Lo âu và bận tâm không mong muốn là những yếu tố thường gây thất bại tạm thời cho vấn đề cương dương. Bởi vậy, nhiều người cho rằng, rượu là chất nạp nhiên liệu cho sự ham muốn, ức chế sợ hãi về tình dục và thật sự nó là chất xúc tác cho sinh hoạt lứa đôi. Đây, có lẽ cũng là lý do tại sao nhiều nền văn hóa cổ đại, bao gồm cả những người La Mã hùng mạnh, xem rượu như là một chất kích thích tình dục mạnh mẽ
     Thêm nữa, một số nghiên cứu cho thấy, nếu trong bữa cơm chiều uống một ít rượu brandy thì sẽ đạt được hiệu quả bất ngờ trong chuyện ái ân vào tối hôm đó. Cũng có nghiên cứu chứng minh nếu đều đặn mỗi ngày uống 1-2 ly rượu vang đỏ thì chất lượng yêu cũng sẽ được cải thiện đáng kể. Vì trong rượu vang có chứa chất làm giảm cholesterol trong máu, thúc đẩy quá trình trao đổi chất, giúp cơ thể linh hoạt hơn nên rất thích hợp với những người có thể trạng béo và thường ăn nhiều đạm. Hơn nữa, rượu vang còn giúp cơ thể sản xuất ra Endothylin (một loại protein chống gây co mạch máu, làm tăng lượng oxy đến tim). Vì vậy, rượu vang đỏ có tác dụng phòng bệnh tim mạch, lượng máu lưu thông tốt hơn, nhờ đó việc yêu được kéo dài. Nói chung, rượu sẽ làm giãn nở các mạch máu ở dương vật, giúp tăng lượng máu đến thể hang khiến khả năng cương cứng tốt và kéo dài hơn. Đối với những người bình thường thì nó sẽ giúp tăng cảm giác cho việc giao hợp, còn đối với người mắc chứng rối loạn cương dương thì rượu lại giúp cải thiện chức năng cương cứng phù hợp để quan hệ.
     Ngoài ra, với một lượng nhất định rượu còn đẩy lùi tỷ lệ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt xuống mức thấp nhất và tăng khả năng yêu, dự phòng tình trạng xuất tinh sớm. Các chất có tác dụng chống lão hóa trong rượu vang như reveratrol còn làm tăng lượng hormone sinh dục nam, tăng lượng calci trong máu, nhờ đó mà chất lượng sinh hoạt tình dục được cải thiện.
     Tuy nhiên, từ xưa đến nay, y học luôn luôn khẳng định : rượu chỉ thực sự có lợi cho sức khỏe nói chung và khả năng sinh hoạt tình dục nói riêng khi được dùng với một liều lượng thích hợp. Nếu lạm dụng với liều lớn và kéo dài, rượu sẽ làm ức chế hệ thần kinh trung ương nói riêng và các cơ quan tạng phủ khác nói chung, thậm chí có thể đưa đến mức tê liệt và vì thế năng lực tình dục cũng lâm vào trạng thái ức chế. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trước hết, ở những người nghiện rượu thường lâm vào tình trạng suy giảm ham muốn tình dục, điều này có liên quan đến kích thích tình dục của cơ thể, bao gồm cả quá trình cung cấp máu cho các thể hang ở dương vật khi não bị ý niệm khiêu dâm kích thích. Hơn nữa, cơ thể không thể duy trì năng lực quan trọng cần thiết để hỗ trợ sự hấp thu oxy gia tăng trong lúc quan hệ tình dục.
     Thứ đến, rượu là nguyên nhân thực thể gây liệt dương, xuất tinh sớm, xuất tinh khó, teo tinh hoàn…ở nam giới do làm giảm mức testosteron (hormone sinh dục nam có tác dụng duy trì đòi hỏi tình dục và kích thích tuyến tiền liệt, túi tinh bài xuất tinh dịch). Đồng thời, uống quá nhiều rượu một lúc hoặc nghiện rượu còn gây ức chế trung khu thần kinh, làm giảm sức khỏe trí não từ đó dẫn đến nhiều phiền toái cho đời sống tình dục.
     Thêm nữa, rượu còn làm giảm độ nhạy cảm tình dục của cả nam giới và nữ giới. Ở những phụ nữ nghiện rượu, nồng độ cồn trong máu tăng cao sẽ gây rối loạn nội tiết thể hiện bằng sự gia tăng tỷ lệ trị số giữa nội tiết tố nam và nội tiết tố nữ. Nội tiết tố nam có tác dụng khêu gợi ham muốn tình dục, khi nội tiết tố nữ tăng còn nội tiết tố nam giảm sẽ làm suy giảm ham muốn “chăn gối”. Ngoài ra, rượu còn gây hại đối với buồng trứng khiến cho lượng và tỷ lệ nội tiết tố tình dục mất cân bằng, từ đó dẫn đến suy giảm ham muốn tình dục, thậm chí gây rối loạn kinh nguyệt hoặc vô sinh. Có những nghiên cứu khảo sát trên phụ nữ nghiện rượu cho thấy, ở những nữ giới dưới 40 tuổi có tới 87% bị trục trặc về chức năng buồng trứng và dẫn đến những rối loạn tình dục và kinh nguyệt. Đó là chưa kể đến việc rượu còn làm giảm tiết dịch của âm đạo để bôi trơn trong khi quan hệ và gây khó khăn trong việc đạt được cực khoái hoặc đạt cực khoái không đầy đủ.
     Ngoài ra, nhiều đáng “mày râu” lạm dụng bia rượu mà không hề biết rằng thói quen xấu này có ảnh hưởng rất lớn đến con cái. Các nhà khoa học đã tiến hành lấy mẫu tinh trùng của những người đàn ông uống rượu thì thấy có đến 70% tinh trùng phát triển không bình thường do tác động của rượu cồn. Khi những tinh trùng này gặp trứng của người nữ và thụ thai sẽ làm tăng nguy cơ sảy thai. Đứa trẻ sinh ra tiềm ẩn nhiều nguy cơ bệnh tật và những đặc điểm bất thường về tâm sinh lý. Thậm chí nếu người mẹ uống rượu trong thời gian mang thai, đứa con đó có thể bị khuyết tật về trí tuệ. Cũng không ít nghiên cứu cho thấy, rượu có thể gây vô sinh nam do không đủ về số lượng tinh dịch, số lượng và chất lượng tinh trùng dẫn đến hiện tương khó thụ thai, vô sinh hiếm muộn. Đó là chưa kể quan hệ tình dục khi say rượu có thể gây nên những tổn thương về tinh thần cũng như thể chất, thậm chí có thể gây chứng “thượng mã phong” và đột tử.
     Tóm lại, rượu là thuốc và cũng là “tình dược” khi sử dụng với một lượng thích hợp tùy theo thể chất, tuổi tác, tửu lượng, chủng loại rượu và tình trạng sức khỏe. Thứ đồ uống này tuyệt nhiên không có lợi cho sức khỏe nói chung và sức khỏe tình dục nói riêng nếu như uống quá nhiều và kéo dài đến mức gây ra tình trạng nghiện rượu. Đây là một vấn đề rất đáng báo động hiện nay khi theo những con số thống kê mới nhất, tính riêng những người sử dụng đồ uống có cồn tại Việt Nam, trung bình một năm tiêu thụ 17,2 lít cồn nguyên chất; đặc biệt nam giới tiêu thụ 27,4 lít/người/năm, gấp hơn 4 lần mức tiêu thụ trung bình toàn cầu, đứng thứ hai sau Thái Lan ở trong khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 10 châu Á và đứng thứ 29 trên thế giới.


                                                                                    Hoàng Khánh Toàn

ẨM THỰC MỸ DUNG CỔ TRUYỀN

ẨM THỰC MỸ DUNG CỔ TRUYỀN


     Trong y học cổ truyền phương Đông, nghệ thuật làm đẹp, được gọi là mỹ dung liệu pháp, được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau như dùng thuốc uống trong hoặc xông xoa bôi đắp bên ngoài, châm cứu, bấm huyệt, tập luyện khí công dưỡng sinh…, trong đó không thể không nói đến việc ăn uống (ẩm thực). Khó có thể kể hết các món ăn có tác dụng làm đẹp trong kho tàng ẩm thực mỹ dung cổ truyền, nhưng cấu tạo chung đều dựa trên nguyên tắc lựa chọn và sử dụng các thực phẩm và vị thuốc kết hợp chặt chẽ với nhau đeể tạo thành các món ăn-bài thuốc được gọi là dược thiện làm đẹp. Bài viết này xin được giới thiệu một số ví dụ điển hình để độc giả tham khảo và vận dụng khi cần thiết
1. Ẩm thực làm trắng và nhuận da
* Bài 1 : Củ cải trắng lượng vừa đủ, rửa sạch, ép lấy nước uống hoặc ăn sống. Công dụng : nhu nhuận và làm trắng da, dùng để dưỡng da, tẩy vết nám và cải thiện tình trạng da khô và thô.
* Bài 2 : Gạo nếp 100g, tổ yến khô 10g, hai thứ rửa sạch đem ninh thành cháo, ăn trong ngày. Công dụng : ích khí dưỡng âm, tư dưỡng bì phu, dùng thích hợp cho những người da khô táo, môi khô miệng khát, đại tiện không thông thuộc thể Khí âm bất túc.
* Bài 3 : Hạch đào nhân 100-150g, nhộng tằm 50g, hai thứ đem hấp cách thủy, ăn trong ngày, 15 ngày là một liệu trình. Công dụng : ôn thận dưỡng nhan, tư nhuận bì phu, dùng cho người da dẻ kém tươi, khô ngứa.
* Bài 4 : Hải sâm 750g, nước luộc gà 750 ml, rau mùi 20g, muối, dầu vừng và gia vị vừa đủ. Hỉa sâm làm sạch, thái miếng, cho vào nồi nấu chín với nước luộc gà, chế đủ gia vị, ăn nóng. Công dụng : bổ ích can thận, dưỡng âm nhuận táo, dùng cho người da bị khô và kém tươi thuộc thể Can thận tinh huyết khuy hư.
2. Ẩm thực làm sáng và đẹp da
* Bài 1 : Hạch đào nhân 60g, hồng táo 60g, hạnh nhân 30g, men rượu 30g, rượu trắng 1500 ml. Các vị thuốc tán vụn, cho vào bình ngâm với rượu trong 3 tuần thì dùng được, uống mỗi ngày 1-2 lần, mỗi lần 15 ml. Công dụng bổ ích khí huyết, nhuận phu hồng nhan, dùng cho những người da kém tươi, nhợt nhạt, da khô và thô, chóng mặt, hồi họp trống ngực, trí nhớ suy giảm.
* Bài 2 : Thịt dê 250g, chân gà 5 cái, lệ chi khô 6 quả, hạt dẻ 200g. Thịt dê là sạch thái miếng rồi đem hầm với chân gà, hạt dẻ và lệ chi, ăn nóng. Công dụng : ôn dương ích khí, hồng nhan ô phát, dùng cho người thể chất dương hư, sợ lạnh, sắc mặt nhợt nhạt, rât tóc bạc sớm, thần kinh suy nhược.
* Bài 3 : Sinh hoài sơn 100g, sinh ý dĩ 100g, long nhãn nhục 15g, gạo tẻ 100g. Tất cả đem ninh thành cháo, ăn nóng. Công dụng : bổ ích tâm tỳ, dùng cho những người khí huyết suy nhược, sắc mặt vàng nhợt, ăn kém, ngủ kém, hay hồi hộp trống ngực.
* Bài 4 : Gà mái 1 con, đương quy 15g, sinh khương 5g, hành, hạt tiêu và gia vị vừa đủ. Gà làm thịt chặt miếng rồi đem hầm với đương quy, sinh khương, khi được chế đủ gia vị, dùng làm đồ ăn hàng ngày. Công dụng : bổ huyết hoạt huyết, hồng nhan, dùng cho người thiếu máu, sắc mặt nhợt nhạt, môi nhợt, phụ nữ kinh nguyệt không đều, tóc rụng, đầu choáng mắt hoa, hay hồi hộp trống ngực.
* Bài 5 : Đậu đen 15g, đậu tương 15g, sơn tra 15g, đường đỏ 20g. Các vị thuốc rửa sạch, đem ninh nhừ rồi chế thêm đường đỏ, chia ăn 2 lần trong ngày. Công dụng : kiện tỳ vị, ích khí huyết, dùng chio người sắc mặt kém tươi, thể chất hư hàn.
3. Ẩm thực làm đẹp da, loại bỏ nếp nhăn
* Bài 1 : Thận lợn 1 quả, lá câu kỷ 10g, bột hà thủ ô 15g. Thận lợn làm sạch, thái miếng đem nấu với lá câu kỷ và hà thủ ô, ăn nóng. Công dụng : bổ ích can thận, tư dưỡng tinh huyết, dùng cho người can thận tinh huyết bất túc, sắc mặt nhợt nhạt, tóc bạc sớm và rụng nhiều, đầu choáng tai ù.
* Bài 2 : Hoa sen, ngẫu tiết, liên nhục, ba thứ lấy theo tỷ lệ 1:2:3, sấy khô, tán bột, uống mỗi ngày 2 lần, lúc đói bụng, mỗi lần 6g với nước ấm. Công dụng : kiện tỳ vị, chống lão hóa, làm đẹp dung nhan, dùng cho người thể chất tỳ vị hư nhược, khí huyết bất túc, ăn kém, đại tiện không đều, da nhăn nheo, nhiều nếp nhăn ở mặt, dung nhan suy kém.
* Bài 3 : Bưởi 5 quả, sinh địa 40g, đương quy 40g, bạch thược 40g, mật ong 50 ml, rượu trắng 4000 ml. Bưởi rửa sạch, thái miếng nhỏ rồi đem ngâm với rượu cùng đương quy, bạch thược, sinh địa và mật ong, sau 90 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 20 ml. Công dụng : dưỡng huyết và làm đẹp da, dùng cho phụ nữ để dưỡng da, làm da khỏe, chống lão hóa, hết nếp nhăn, tiêu trừ các vết nám.
4. Ẩm thực làm tóc đen và khỏe
* Bài 1 : Đại mạch 200g, hạch đào nhân 150, vừng đen 150g, đường trắng lượng vừa đủ. Các vị thuốc sao thơm, tán bột, đựng trong lọ thủy tinh dùng dần, mỗi ngày 2 lần sáng và chiều lấy 3 thìa cà phê bột thuốc hòa với đường uống lúc đói bụng. Công dụng : bổ thận ích tinh và làm đen tóc, dùng cho người thể chất thận hư, tóc rụng, tóc bạc sớm.
* Bài 2 : Gà mái 1 con (nặng chừng 1 kg), hoàng kỳ 30g, bạch quả 10g, muối, hành và gia vị vừa đủ. Gà làm thịt, bỏ nội tạng chặt miếng rồi cho vào nồi hàm cúng các vị thuốc, khi chín chế đủ gia vị, dùng làm thức awnhangf ngày. Công dụng : bổ tỳ vị, ích khí huyết, dùng cho người tỳ vị hư yếu, khí huyết bất túc, râu tóc khô rối, bạc sớm, da mặt kém tươi, ăn kém, chậm tiêu.
* Bài 3 : Gạo tẻ 200g, đào nhân 10g, sơn tra 10g, đậu đen 10g. Tất cả đem ninh thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng : tư bổ thận âm, hoạt huyết khứ phong, dùng cho người bị rụng tóc nhiều, hói đầu, đầu choáng mắt hoa, sắc mặt tối xám, da khô và thô.
* Bài 4 : Cúc hoa 10g, cỏ nhọ nồi 5g, hai thứ thái vụn hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : thanh nhiệt trừ phong, lương huyết và làm mọc tóc, khỏe tóc, dùng cho người huyết nhiệt sinh phong, tóc khô, rụng và bạc sớm, da mặt kém sáng, ngủ kém, tiện bí, đầu choáng mắt hoa.


                                                                                     Hoàng Khánh Toàn

Thứ Năm, 15 tháng 12, 2016

DƯỢC BỔ CÓ BÀNG THỰC BỔ

DƯỢC BỔ CÓ BẰNG THỰC BỔ HAY KHÔNG ?



     Trong y học cổ truyền, thực bổ (bồi bổ bằng ăn uống) và dược bổ (bồi bổ bằng thuốc) là hai phương thức bổ dưỡng có chung một mục đích nhưng lại không hoàn toàn giống nhau. Dược bổ lấy trị bệnh là chủ, bổ dưỡng là phụ ; thực bổ lấy bổ dưỡng là chủ, trị bệnh là phụ. Phương tiện của dược bổ là thuốc, bởi vậy, theo quan niệm của y học cổ truyền, tất yếu cần phải nhận rõ sự khác biệt giữa hư, thực, hàn nhiệt và âm, dương, khí, huyết của từng cá thể để rồi trên cơ sở đó tiến hành lựa chọn các vị thuốc, bài thuốc có tính ôn (ấm), nhiệt (nóng), hàn (lạnh), lương (mát) và có tác dụng bổ khí, bổ huyết, bổ âm, bổ dương cho phù hợp, đông y gọi đó là phép biện chứng luận trị. Nếu không chú ý biện chứng chính xác thì chẳng những hiệu quả bồi bổ không đạt được mà thậm chí còn có thể gây nên các tai biến không đáng có. Thực bổ, đương nhiên cũng cần tiến hành biện chứng nhưng có điểm khác so với dược bổ là phương tiện của nó là những thực phẩm thường ăn hàng ngày nên chúng hầu như không độc, sử dụng tương đối an toàn, không làm thương tổn các tạng phủ, dễ ăn, dễ uống, dễ được người dùng chấp nhận. Các thầy thuốc thời xưa thường nói : "Dược vật đa dụng vu công bệnh, thực vật đa dụng vu điều bổ" (dược phẩm thường dùng để chữa bệnh, thực phẩm thường dùng để bồi bổ). Danh y đời Đường (Trung Quốc) Tôn Tư Mạo đã viết : "Vi y giả, đương tu động hiểu bệnh nguyên, tri kỳ sở phạm, dĩ thực trị chi, thực liệu bất dụ, nhiên hậu mệnh dược" (người thầy thuốc cần phải hiểu được nguyên nhân gây bệnh, biết được chỗ bị bệnh rồi dùng ăn uống mà chữa, nếu ẩm thực trị liệu không có hiệu quả thì mới dùng đến thuốc). Điều này nói rõ vai trò quan trọng của liệu pháp chữa bệnh và bồi bổ bằng ăn uống. Cũng vì thế mà tự cổ chí kim người ta thường nói : "Dược bổ không bằng thực bổ".
     Tuy nhiên, cũng phải thấy một điều là mặc dù thực bổ có vai trò rất to lớn nhưng không vì thế mà có thể thay thế hoàn toàn dược bổ. Trên thực tế, trong nhiều trường hợp tất yếu phải dùng dược phẩm bồi bổ thì mới mong đạt được hiệu quả như ước muốn. Vậy thì, những người nào cần thiết phải dùng thuốc bổ ?
     Theo quan điểm của y học cổ truyền, xét về mặt tuổi tác, nhìn chung những người trẻ tuổi không cần dùng thuốc bổ. Tục ngữ có câu : " Đồng bất phục nhung, thiếu bất dụng sâm" (con trẻ không nên dùng nhung, tuổi trẻ không nên dùng sâm). Điều này nói rõ các loại thuốc có công dụng bồi bổ như nhung hươu, nhân sâm...chỉ thích hợp với lứa tuổi trung lão niên. Các dược phẩm này, theo y học cổ truyền, thường có tác dụng bổ hư tráng dương ; theo y học hiện đại, thường có công dụng làm hưng phấn các trung khu thần kinh, cải thiện công năng miễn dịch, thúc đẩy quá trình tạo huyết và chức năng tiêu hoá, nâng cao năng lực phòng chống bệnh tật và làm chậm quá trình lão hoá.
     Khi sử dụng các vị thuốc, bài thuốc có công dụng bồi bổ, cổ nhân cho rằng nhất thiết phải biện chứng thi trị. Sách Y học chính truyền đã viết : "Hư giả, chính khí hư dã". Những người có tuổi khí huyết thường suy nhược, sức đề kháng tật bệnh suy giảm, âm dương dễ rối loạn nên rất cần thiết phải bồi bổ. Nếu cơ thể suy nhược do bệnh tật gây nên thì trước hết phải trị bệnh rồi mới bồi bổ hoặc tiến hành công bổ song hành. Những người có tuổi nếu qua kiểm tra sức khoẻ không phát hiện thấy các biến đổi bệnh lý thực thể nhưng toàn thân cảm thấy mệt mỏi, tinh thần suy nhược, ăn kém, mất ngủ, hay quên... thì đó cũng là những biểu hiện của hư chứng và rất cần phải tiến hành bồi bổ. Tóm lại, trước khi sử dụng liệu pháp bồi bổ bằng thuốc, nhất thiết phải xem xét toàn bộ tình trạng cơ thể, lựa chọn kỹ lưỡng các vị thuốc, bài thuốc rồi mới bắt đầu tiến hành bồi bổ một cách thận trọng và chuẩn xác.


                                                                                Hoàng Khánh Toàn



ĐÔNG DƯỢC ÍCH THỌ CÓ NHẤT THIẾT PHẢI LÀ THUỐC BÔ

ĐÔNG DƯỢC ÍCH THỌ CÓ NHẤT ĐỊNH PHẢI LÀ THUỐC BỔ ?


     Tự cổ chí kim, đã không có ít truyền thuyết kể về việc con người không quản nhọc nhằn đi tìm linh đan diệu dược để cầu mong đạt được sự trường sinh bất lão. Trong y giới cũng đã có không ít những phương dược được xây dựng và khảo nghiệm về khả năng bổ dưỡng và kéo dài tuổi thọ. Sách Thần nông bản thảo kinh đã viết : “ Thượng dược 120 chủng vi quân, chủ dưỡng mệnh dĩ ứng thiên, vô độc, đa phục cửu phục bất thương nhân, dục khinh thân ích khí, bất lão diên niên giả bản thượng kinh”. Trong thực tế cuộc sống, người ta thường dùng nhân sâm, đương quy, sinh địa, đại táo...làm thuốc bổ dưỡng nhằm mục đích kéo dài tuổi thọ. Do những tư duy định kiến truyền thống, lại thêm tác động của  tuyên truyền quảng cáo, không ít người có quan điểm cho rằng đông dược ích thọ diên niên nhất định phải là những vị thuốc có tác dụng bổ dưỡng.
     Nói cho đúng thì những vị thuốc bổ dưỡng thường có tác dụng bổ sung những chất dinh dưỡng rất cần thiết cho cơ thể, điều tiết hoặc cải thiện công năng sinh lý của các tạng phủ, nâng cao năng lực đề kháng, hạn chế sự phát sinh và phát triển của bệnh tật, từ đó mà đạt được mục đích củng cố và nâng cao sức khoẻ, kéo dài tuổi thọ. Nhưng, theo quan niệm của y học cổ truyền, cơ chế của quá trình suy lão là hết sức phức tạp, vì hư mà có thể dẫn đến suy, vì thực mà có thể dẫn tới lão. Ngoài tình trạng suy thoái công năng các tạng phủ và bất túc của âm dương khí huyết, quá trình dẫn đến lão suy còn thường được gây nên bởi các yếu tố có tính “thực” như ứ huyết, đàm trọc, thuỷ ẩm...Bởi vậy, nếu chỉ sử dụng đơn thuần các vị thuốc bổ dưỡng thì khó có thể đạt được mục tiêu phòng chống quá trình lão suy, nâng cao chất lượng cuộc sống và kéo dài tuổi thọ.
     Vả lại, khi đã có tuổi, không ít người thường lâm vào tình trạng tỳ vị hư nhược, biểu hiện bằng các triệu chứng như chán ăn, đầy bụng, chậm tiêu, đại tiện lỏng nát...Trong khi đó, đa số các vị thuốc bổ đông y lại thường có tính nê trệ, khó tiêu, nếu dùng cho những người tỳ vị hư yếu thì chẳng những không đạt được mục đích cường thân ích thọ mà nhiều khi còn tạo ra gánh nặng cho hệ thống tiêu hoá, ảnh hưởng không tốt đến quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng, khiến cho cơ thể đã suy lại càng suy, đúng như cổ nhân đã nói  “ hư bất thụ bổ”.
     Bởi vậy, theo quan niệm của y học cổ truyền, đông dược ích thọ không có nghĩa chỉ là những vị thuốc bổ có công dụng bồi đắp âm dương, ích khí dưỡng huyết, cung cấp cho cơ thể các chất dinh dưỡng cần thiết mà còn bao gồm cả một số những vị thuốc bệnh có tính công phạt, trừ bỏ các nhân tố gây bệnh, thúc đẩy công năng các tạng phủ, điều tiết năng lực miễn dịch...qua đó gián tiếp mà có được tác dụng ích thọ diên niên, điều mà cổ nhân gọi là “dĩ công vi bổ” (lấy công phạt để bổ dưỡng). Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, các vị thuốc như đại hoàng, đan sâm, viễn trí, trạch tả, xương bồ...đều có tác dụng phòng chống lão hoá ở một mức độ nhất định. Các vị thuốc này hoặc thông qua ảnh hưởng đối với hệ thống tim mạch, cải thiện tình trạng thiếu máu cơ tim, dự phòng và khống chế sự phát sinh và phát triển của các bệnh lý tim mạch ; hoặc thông qua tác dụng điều tiết hệ thống miễn dịch, nâng cao năng lực đề kháng của cơ thể ; hoặc có khả năng điều chỉnh rối loạn lipid máu, hạ đường huyết, hạ huyết áp ; hoặc ức chế sự phát triển của tế bào ung thư ..., qua đó làm cho chất lượng cuộc sống được nâng cao, tuổi thọ được kéo dài. Như vậy, có thể nói, đông dược ích thọ không nhất định phải là các vị thuốc bổ.

                                                                                 Hoàng Khánh Toàn
    


Thứ Hai, 7 tháng 11, 2016

ĐÔNG Y VÀ SA SÚT TRÍ TUỆ

ĐÔNG Y VÀ TÌNH TRẠNG SA SÚT TRÍ TUỆ NGƯỜI GIÀ


     Sa sút trí tuệ là một trong những tình trạng rối loạn tâm thần thường gặp và gây ảnh hưởng rất lớn đối với chất lượng cuộc song của người có tuổi. Đời sống ngày càng được cải thiện, tuổi thọ cũng ngày càng được nâng cao, nhưng thật đáng tiếc tỷ lệ mất trí tuổi già cũng không ngừng gia tăng. Theo thống kê của các nhà khoa học, tính đến năm 1980, tỷ lệ những người bị sa sút trí tuệ ở tuổi 65 trở lên tăng gấp 8 lần so với năm 1940. Báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới cũng cho thấy có đến 10% những người trên 65 tuổi có biểu hiện rối loạn trí lực ở các mức độ khác nhau, trong đó một nửa lâm vào tình trạng sa sút trí tuệ và cho rằng vấn đề này sẽ trở thành tai họa cho loài người trong thế kỷ thứ 21.
     Trong Đông y không coa bệnh danh “sa sút trí tuệ”, nhưng căn cứ vào các triệu chứng lâm sàng có thể thấy tình trạng này thuộc phạm vi các chứng như “ngốc bệnh”, “kiện vong”, “điên chứng”, “thiện vong”, “lão suy”…Hồng Mai, y gia trứ danh đời Tống (Trung Quốc) trong sách “Di kiên trí” đã ghi lại những biểu hiện của căn bệnh này như sau : “Mộ niên hốt bệnh vong, thế gian bách vật giai bất năng biện, dữ tân khách cố cự đối diện bất tương thức…duyệt tam niên nãi tốt”. Còn Vương Thanh Nhậm , y gia lỗi lạc đời Thanh trong sách “Y lâm cải thác” cũng đã bàn đến cơ chế bệnh sinh của căn bệnh này và cho rằng : “Linh cơ ký ức tại não bất tại tâm”, “cao niên vô ký tính giả, não tủy tiệm không” (tinh thần, trí nhớ ở não chứ không phải ở tâm, ở người già mất trí não tủy dần dần trống rỗng).
     Cho đến nay, về cơ chế bệnh sinh của căn bệnh này các nhà Đông y đều thống nhất cho rằng vị trí của bệnh là ở não nhưng có liên quan mật thiết với các tạng phủ khác như tâm, tỳ, can và đặc biệt là thận. Y thư cổ viết : “Não là bể của tủy, thận chủ cốt sinh tủy, thận khí thông với não”. Bởi vậy, giữa não và thận có mối quan hệ đặc biệt mật thiết. Trên thực nghiệm các nhà Đông y đã chứng minh các thuốc bổ thận đều có tác dụng điều tiết rõ rệt công năng của hệ trục não-tuyến yên-tuyến thượng thận. Mặt khác, trên lâm sàng hầu hết các bệnh nhân bị sa sút trí tuệ đều có biểu hiện của hội chứng thận hư theo quan niệm của Đông y. Vì vậy, thận hư là vấn đề trọng yếu và bổ thận là một trong những khâu không thể thiếu được trong phác đồ điều trị.
     Thêm nữa, y thư cổ cũng viết : “Tâm chủ thần minh”, “tâm tri tương lai thận tàng dĩ vãng”, “tỳ hư sinh đàm, đàm uất lâu ngày hóa hỏa, đàm nhiệt làm hại thần minh”. Vì vậy, vai trò của tâm và tỳ đối với đời sống tinh thần cũng có một ý nghĩa rất quan trọng. Như vậy, cái “gốc” của căn bệnh này chính là sự suy yếu của các tạng phủ, trong đó não và thận là khâu trọng yếu ; cái “ngọn” của bệnh là các chứng trạng bệnh lý do đàm trệ, huyết ứ, khí uất…gây ra. Trong Đông y, cơ chế bệnh sinh này được gọi là “bản hư tiêu thực”
     Phương pháp trị liệu của Đông y đối với căn bệnh này là hết sức phong phú, có thể chia thành 2 nhóm chính : dùng thuốc và không dùng thuốc. Nhưng tất cả đều phải tuân thủ nguyên tắc chung là lấy việc kiện tỳ, bổ thận, hoạt huyết làm căn bản, trên cơ sở đó mà gia giảm các vị thuốc hoặc huyệt vị châm cứu cho phù hợp. Nhiều tác giả chủ trương phân chia sa sút trí tuệ người già thành 6 loại hình khác nhau và sử dụng các bài thuốc cổ tương ứng để trị liệu : thể Tâm thận bất giao dùng Lục vị địa hoàng hoàn gia giảm, thể Đàm ứ tương kết dùng Thọ tinh hoàn gia giảm, thể Đàm nhiệt nhiễu tâm dùng Xương bồ uất kim thang gia giảm, thể Can thận bất túc dùng Kỷ cúc địa hoàng hoàn gia giảm, thể Tỳ thận lưỡng hư dùng Hoàn thiếu đan gia giảm và thể Tủy hải không hư dùng Hà sa đại tạo hoàn gia giảm.
     Cũng có tác giả chủ trương sử dụng một bài thuốc làm hạt nhân rồi trên cơ sở đó gia giảm tùy theo tình trạng bệnh lý cụ thể. Bài thuốc này gồm các vị : đẳng sâm, hoàng kỳ, bạch truật, xương bồ, bán hạ chế, ích trí nhân, hoài sơn, tiên linh tỳ. Nếu tỳ thận dương hư gia them phụ tử chế, can khương, thỏ ty tử, đỗ trọng ; nếu khí trệ huyết ứ gia them đào nhân, đan sâm, xuyên khung, ngô công ; nếu đàm trọc ứ trở gia thêm nam tinh, hậu phác, trần bì, viễn trí…
     Kết hợp với biện pháp dùng thuốc người ta rất chú trọng sử dụng châm cứu, bấm huyệt, tập luyện khí công dưỡng sinh và tâm lý liệu pháp để nâng cao hiệu quả trị liệu. Ngoài ra, ẩm thực liệu pháp cũng được người xưa coi trọng. Ví như, sử dụng các món ăn-bài thuốc : Hà thủ ô trắng 30g, hồng táo 10 quả, đại mạch 200g, nấu thành cháo ăn hàng ngày ; Bách hợp 30g, mộc nhĩ đen 15g nấu canh ăn ; Óc dê 1 bộ, long nhãn 15g nấu chín ăn mỗi tuần 1 lần ; Óc lợn 2 bộ, mộc nhĩ trắng 6g, mộc nhĩ đen 6g và nấm hương 6g rửa sạch thái chỉ, trứng chim cút 3 quả luộc chín bỏ vỏ, tất cả đem hấp chín ăn mỗi tuần 1 lần ; Thịt dê 125g rửa sạch thái miếng, kỷ tử 10g, đào nhân 15g, gừng tươi 3 lát, tất cả đem hầm nhừ, chế them hành hoa, gia vị vừa đủ, ăn nóng mỗi tuần 2 lần ; Trứng gà vài quả luộc chín, bóc bỏ vỏ, đem nấu với tiểu hồi hương 9g, quất bì 12g và trà xanh 15g, mỗi ngày ăn 1 quả ; Thịt gà chỗ ức 150g bỏ da chặt miếng, nhúng vào hỗn dịch gồm lòng trắng trứng, tinh bột và gia vị rồi rán vàng, đào nhân 50g ngâm nước sôi, bóc bỏ vỏ, đậu hòa lan 30g, tất cả đem nấu thành canh với tỏi, gừng tươi và một chút rượu vang, ăn hàng ngày ; Long nhãn 60g nấu với đường đỏ, sau đó đập 1 quả trứng gà vào, đun sôi vài phút là được, ăn nóng hàng ngày ; Viễn trí, thỏ ty tử, thục địa và ngũ vị tử mỗi vị 18g, thạch xương bồ 12g, xuyên khung 12g và địa cốt bì 12g, tất cả đem ngâm với 600 ml rượu trắng trong 7 ngày rồi bỏ bã, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10 ml ; Mạch môn 60g, bá tử nhân 30g, phục linh 30g, quy đầu 30g, long nhãn 30g và sinh địa 45, tất cả ngâm với 3000 ml rượu trong 7 ngày, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10 ml.


                                                                                  Hoàng Khánh Toàn