Thứ Hai, ngày 19 tháng 9 năm 2016

Dược thiện hỗ trợ chữa ung thư cổ tử cung

DƯỢC THIỆN HỖ TRỢ TRỊ LIỆU UNG THƯ CỔ TỬ CUNG


     Ung thư cổ tử cung là một trong những bệnh lý ác tính thường gặp nhất ở phụ nữ. Bệnh lý này đã được đông y đề cập đến rất sớm trong phạm vi các chứng bệnh như “băng lậu”, “ngũ sắc đới”…với nguyên nhân chủ yếu là do rối loạn tình chí (thất tình), can khí uất trệ, hai mạch Xung, Nhâm tổn thương, suy giảm công năng các tạng phủ khiến chính khí (sức đề kháng miễn dịch) sút kém kết hợp với tà khí (các yếu tố gây bệnh từ bên ngoài) xâm nhập vào trong cơ thể mà phát sinh thành bệnh. Về trị liệu, ngoài việc sử dụng thuốc uống trong, thuốc xông ngâm bôi rửa bên ngoài, châm cứu, xoa bóp…, cổ nhân còn sử dụng các món ăn-bài thuốc (dược thiện) có công dụng phòng và hỗ trợ điều trị rất độc đáo. Bài viết này xin được giới thiệu một số món dược thiện điển hình.
- Thịt lợn nạc 50g, rau kim châm 30g, đương quy 30g, nấu thành canh ăn hàng ngày. Dùng thích hợp cho trường hợp suy nhược cơ thể, thường xuất huyết âm đạo.
- Bào ngư 50g, sơn tra tươi 10g ninh nhừ, uống nước canh, ăn bào ngư. Dùng thích hợ cho trường hợp có viêm và xuất huyết âm đạo.
- Hoàng kỳ 50g, đương quy 15g sắc kỹ lấy nước rồi đem ninh với 100g gạo tẻ thành cháo, chia ăn 2 lần trong ngày. Công dụng : bổ khí dưỡng huyết, dùng cho trường hợp cơ thể suy sụp, nhất là sau khi phẫu thuật hoặc xạ trị.
- Gà ác 1 con làm thịt, đem hầm nhừ ăn thường xuyên. Dùng hỗ trợ trị liệu cho các thể ung thư cổ tử cung, đặc biệt là khi có xuất huyết âm đạo. Nếu hầm cùng nhân sâm hoặc đẳng thì càng tốt.
- Thịt dê 500g rửa sạch, thái miếng đem hầm với đương quy 50g, gừng tươi 3g bằng lửa nhỏ, dùng làm canh ăn hàng ngày. Dùng cho các trường hợp ung thư cổ tử cung thể hàn thể có biểu hiện sợ lạnh, nhạt miệng, đại tiện lỏng, thiếu máu.
- Cá mực chế biến dưới các dạng hấp, xào, nường, chiên…ăn thường xuyên, dùng cho trường hợp có biểu hiện xích bạch đới (khí hư màu trắng, hồng đỏ).
- Nhựa cây đào 100g nấu nước uống thường xuyên, dùng rất tốt cho trường hợp có thiếu máu và xuất huyết âm đạo.
- Rau cần nước nấu canh ăn thường xuyên, rất tốt cho trường hợp có xuất huyết âm đạo.
- Dấm gạo một ít pha thêm đường đỏ hoặc đường trắng và vài giọt nước cốt gừng tươi uống hàng ngày, dùng cho trường hợp có đau bụng, sản dịch nhiều.
- Thịt rắn 250 nấu canh ăn, nếu có thêm một ít thịt gà thái chỉ thì càng tốt. Công dụng : bồi bổ sức khỏe, cải thiện công năng miễn dịch.
- Cà chua 2 quả thái lát, tỏi 2 nhánh băm vụn, trộn hai thứ ăn thường xuyên, dùng để phòng và hỗ trợ trị liệu các loại ung thư cổ tử cung.
- Dưa chuột 500g, rau mùi 100g, tỏi ½ củ, tất cả rửa sạch, thái nhỏ, trộn đều ăn hàng ngày, dùng cho các trường hợp sau phẫu thuật hoặc chiếu xạ.
- Thổ phục linh 50g, thương truật 10g, ngưu tất 10g, hoàng bá, sắc kỹ lấy nước ninh với 100g gạo tẻ thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày. Đồng thời lấy nước sắc này xông rửa tại chỗ hàng ngày. Dùng cho trường hợp ra nhiều dịch hôi hám trong giai đoạn cuối.
- Tiên hạc thảo 100g, sinh địa 50g sắc kỹ lấy nước ninh với một ít gạo tẻ thành cháo, ăn hàng ngày, dùng cho trường hợp ung thư cổ tử cung chiếu xạ, tiểu tiện ra máu.
- Ô mai 50g, can khương 10g, hoàng liên 5g, mộc hương 3g, sắc kỹ lấy nước, pha thêm một chút đường trắng, uống thường xuyên, dùng cho trường hợp chiếu xạ gây đau bụng, đi lỏng…
- Xích thạch chi 100g, vũ dư lương 50g sắc kỹ lấy nước ninh với gạo tẻ thành cháo ăn thường xuyên, dùng cho trường hợp phải chiếu xạ gây đi ngoài ra máu nhiều.
- Sinh địa 30g, lá tre 10g, mộc thông 5g, sinh cam thảo 5g sắc kỹ lấy nước nấu với gạo tẻ thành cháo, ăn thường xuyên, dùng cho trường hợp phải chiếu xạ gây đi tiểu ra máu nhiểu.


                                                                               ThS Hoàng Khánh Toàn

Thứ Hai, ngày 12 tháng 9 năm 2016

Rượu nhung hươu

RƯỢU NHUNG HƯƠU TĂNG CƯỜNG PHONG ĐỘ


      Mùa xuân là mùa thu hoạch nhung hươu, một trong những vị thuốc quý giá của y dược học cổ truyền. Nhung hươu có nhiều công dụng khác nhau, riêng với nam giới ở tuổi trưởng thành dược liệu này có khả năng tăng cường khả năng sinh lý, giúp cho cánh mày râu giữ được phong độ của “phái mạnh”.
     Có nhiều cách sử dụng nhung hươu để đạt được mục đích này, tuy nhiên người ta thường thích dùng dưới dạng ngâm rượu đơn thuần hoặc phối hợp cùng với các dược liệu có công năng bổ dưỡng khác. Xin được giới thiệu 2 trong nhiều công thức rượu nhung hươu “tăng cường phong độ”

Công thức 1:
     Nhung hươu 40g, hoài sơn 120g, rượu trắng 1000 ml. Nhung hươu cạo sạch lông, thái lát mỏng ; hoài sơn sao vàng, tán vụn, hai thứ trộn đều, cho vào túi vải buộc kín miệng rồi đem ngâm với rượu, sau 7 ngày là có thể dùng được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần một chén nhỏ (chừng 20 ml), nếu uống lâu dài thì nên giảm dần xuống còn một nửa. Khi uống hết rượu, lấy bã sấy khô, tán thành bột mịn vê thành viên uống Cũng có y thư cổ khuyên rằng : nên ngâm trong 49 ngày rồi hãy dùng, khi ngâm nên chọn giờ Dậu (buổi chiều từ 5 đến 7 giờ), khi mở nên chọn giờ Thìn (buổi chiều từ 7 đến 9 giờ)
     Công dụng : bổ thận tráng dương, tăng cường sinh lực, thường được dùng trong các trường hợp thận dương kém, sinh dục kém, yếu sinh lý, liệt dương, di tinh, hoạt tinh, xuất tinh sớm, lưng đau gối mỏi, tay chân lạnh lẽo, tiểu tiện nhiều lần, da mặt sạm. Theo cổ nhân, đây là một trong những loại rượu bổ thận tráng dương, hồi xuân bất lão thượng hạng, có tên gọi là “Lộc nhung tửu” được ghi trong y thư cổ nổi tiếng “Phổ tế phương”

Công thức 2 :
     Nhung hươu 60g, kỷ tử 120g, rượu trắng 2000 ml. Nhung hươu cạo sạch lông, thái lát mỏng rồi đem ngâm với rượu cùng kỷ tử, sau 10 ngày là dùng được, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 chén nhỏ (chừng 20 ml). Khi uống hết rượu, lấy bã sấy khô, tán thành bột mịn vê thành viên uống.
     Công dụng : tráng dương tư âm, bổ can thận, thường được dùng cho các trường hợp mắc chứng bất lực, suy giảm ham muốn và khoái cảm tình dục, muộn con do chất lượng và số lượng tinh trùng không đảm bảo. Trong phương, nhung hươu bổ thận dương, ích tinh huyết, cường gân cốt ; kỷ tử tư bổ can thận, minh mục nhuận phế.

                                                                                                  Hoàng Khánh Toàn

     

Rượu ngâm cây thuốc phiện

RƯỢU NGÂM CÂY THUỐC PHIỆN CÓ THỰC SỰ BỔ DƯƠNG ?


     Mấy năm gần đây, không ít người trong cánh “mày râu” đua nhau tìm mua và sử dụng loại rượu được ngâm với rễ hoặc cả cây thuốc phiện với kỳ vọng tăng cường năng lực trong chuyện “chăn gối”. Nguồn cung cấp loại rượu này hầu hết là từ những người dân một số xã vùng cao của huyện Trạm Tấu (Yên Bái) như: Bản Mù, Bản Công, Xà Hồ, Túc Đán, Làng Nhì và Tà Si Láng và một số khu vực giáp ranh với huyện Phù Yên, Bắc Yên (Sơn La). Dân nhậu Yên Bái vẫn nói đùa rằng đây là rượu… một ba tám! Nguyên do có tên gọi này bởi một số địa phương có Ban chỉ đạo 138 về phòng chống tái trồng cây thuốc phiện.
     Trên thực tế, từ lâu người dân vùng cao vẫn có thói quen uống loại rượu ngâm rễ cây thuốc phiện, nhưng chỉ vài năm trở lại đây mới rộ lên phong trào uống loại rượu này. Hồi cuối năm 2008, đầu năm 2009, rễ cây thuốc phiện tươi (hoặc khô) vẫn được những người dân tộc bày bán công khai, với giá từ 150 đến trên 200 ngàn đồng/kg rễ cây khô. Những bình rượu ngâm rễ cây thuốc phiện có giá từ 200 đến 500 ngàn, nếu bình nào có quả thuốc phiện khô (đã chích nhựa) có thể lên 800 đến 1,2 triệu đồng tuỳ theo dung tích từ 2 - 3 lít. Vậy, câu hỏi được đặt ra là, rượu ngâm cây thuốc phiện có thực sự bổ dương ? Dùng loại rượu này có lợi hay có hại ?
     Theo dược học cổ truyền, cây thuốc phiện vị chua sáp, tính bình, có độc, vào được ba đường kinh Phế, Thận và Đại tràng, có công dụng liễm phế, chỉ khái (giảm ho), sáp tràng, chỉ thống (giảm đau) thường được dùng để chữa các chứng bệnh như ho kinh niên, đi lỏng và kiết lỵ lâu ngày, thoát giang (sa trực tràng), đại tiện ra máu, hoạt tinh, tiểu tiện nhiều lần, bạch đới (khí hư màu trắng) và các chứng đau. Thuốc phiện được xếp vào nhóm thuốc bệnh có tác dụng thu sáp, chỉ khái, bình suyễn chứ không phải là thuốc bổ khí huyết hay bổ âm dương và càng không phải là thuốc có công năng tăng cường sinh lý cho đàn ông.
     Theo nghiên cứu hiện đại, trong cây thuốc phiện, đặc biệt là quả, có chứa mocphin, codein, nacotin, naxein, acid meconic, acid tactric, acid citric và một ít papaverin, có tác dụng giảm đau, an thần, giảm ho, làm giãn mạch máu, gây co thắt cơ trơn đường mật, co đồng tử, dễ gây nghiện và táo bón. Thuốc phiện hoàn toàn không có ảnh hưởng trực tiếp đến nội tiết tố và cơ quan sinh dục.
     Trên thực tế, từ lâu thuốc phiện đã được dùng để làm thuốc giảm đau và an thần, nhưng là loại dược vật nguy hiểm, dễ ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh gây nghiện.  Thuốc phiện cũng là một loại cây nằm trong danh mục cây thuốc chữa bệnh. Nhưng ngay trong việc dùng cho mục đích chữa bệnh cũng phải bào chế hết sức cẩn trọng mới có thể dùng chứ không thể dùng trực tiếp từ cây tươi và khi dùng phải đúng chỉ định với liều lượng nghiêm ngặt. Vậy nên những lời quảng cáo, đồn thổi về công dụng bổ thận tráng dương, tăng cường sinh lý của loại rượu ngâm rễ hoặc cây thuốc phiện là hoàn toàn không đúng và không có tính khoa học, thậm chí còn hết sức nguy hiểm. Vụ việc 6 bợm nhậu ở xã Bản Mù, Trạm Tấu, Yên Bái đã phải vào viện cấp cứu do ngộ độc rượu ngâm rễ cây thuốc phiện ở Bệnh viện Y học cổ truyền Yên Bái là một ví dụ điển hình. Thêm nữa, nếu uống nhiều loại rượu này thì khi thử cũng dương tính với ma tuý và đây cũng là một hình thức cổ súy cho việc tái trồng cây thuốc phiện, điều mà hiện tại chúng ta đang nghiêm cấm.
                                                                                               Hoàng Khánh Toàn


Chủ Nhật, ngày 04 tháng 9 năm 2016

DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ NÃO

CÁC BIỆN PHÁP DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ NÃO


     Đột quỵ não (stroke) hoặc cơn tai biến mạch máu não (cerebrovascular accident) do mất đột ngột lưu lượng máu tới não (chảy máu não hoặc tắc mạch não) dẫn đến giảm, mất chức năng hoặc chết các tế bào não, là nguyên nhân gây liệt, rối loạn ngôn ngữ, mất cảm giác, trí nhớ, hôn mê và có khả năng gây tử vong.
Đột quỵ là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ hai trên thế giới sau ung thư, đứng hàng đầu về tàn phế ở người trưởng thành. Hàng năm ở Mỹ có khoảng 700.000 -750.000 bệnh nhân mới và tái phát, chi phí 30 tỷ USD cho điều trị nội trú và phục hồi chức năng. Tại Pháp, 12% tử vong ở người già do nguyên nhân đột quỵ não, đứng hàng đầu trong các nguyên nhân tử vong. Tỷ lệ mới mắc đột quỵ ở Mỹ là 135/100.000 dân, ở Pháp là 145/100.000 dân. Tỷ lệ đột quỵ tính toàn châu Âu, số người bị đột quỵ lần đầu tiên trong khoảng 141-219/100.000 dân. Ở châu Á, theo Hiệp hội thần kinh các nước Đông nam Á, tỷ lệ mới mắc đột quỵ não là : Nhật bản từ 340 - 523/100.000 dân; Trung quốc 219/100.000 dân; Israel 140/100.000 dân; Ấn độ 13/100.000 dân; Mông cổ 8/100.000 dân; Srilanca 29/100.000 dân; Việt nam 161/100.000 dân (Lê Đức Hinh, (1998). Dự kiến đến năm 2020, đột quỵ não là một trong bốn bệnh hàng đầu dẫn đến tử vong . Ở Việt nam, tỷ lệ mắc bệnh đột quỵ não đang gia tăng ở mức đáng lo ngại ở cả hai giới và các lứa tuổi. Nguy cơ xẩy ra đột quỵ gia tăng theo tuổi, tăng gấp đôi cứ mỗi 10 năm sau 55 tuổi, xấp xỉ 28% đột quỵ xẩy ra dưới 65 tuổi. Nguyên nhân chủ yếu của đột quỵ não là tăng huyết áp.
     Đột quỵ não gồm hai thể bệnh chính: chảy máu não và thiếu máu não cục bộ. Theo thống kê, đột quỵ thiếu máu não chiếm khoảng 80 - 85%, đột quỵ chảy máu não chiếm từ 10 - 15%. Quan niệm đột quỵ não chỉ là cách kết thúc cuộc đời của người già nay đã lỗi thời. Từ những năm của thập kỷ 80 trở lại đây, tỷ lệ tử vong ở các nước phát triển đã giảm nhờ chẩn đoán sớm và với các phương tiện hồi sức tích cực, tổ chức thành các đơn vị đột quỵ não cũng như các trung tâm đột quỵ não đã điều trị có hiệu quả bệnh. Mặt khác nhờ hiểu biết cơ chế bệnh sinh, có các biện pháp chống yếu tố nguy cơ trong cộng đồng có hiệu quả nhất là điều trị bệnh tăng huyết áp, nên tỷ lệ mới mắc ở các nước phát triển đã giảm đáng kể ở Anh, và các nước Bắc Âu. Từ các số liệu của Tổ chức Y tế thế giới, đã đưa ra nhận xét : đột quỵ não là bệnh hoàn toàn có thể dự phòng có kết quả bằng các biện pháp mang tính tổng hợp.
     Các biện pháp dự phòng đột quỵ não nhằm ba mục đích : phòng ngừa bị bệnh, dự phòng tái phát và điều trị củng cố. Nội dung chính bao gồm :  
- Khai thông sớm các trường hợp hẹp động mạch cảnh trong bằng các biện pháp phẫu thuật hoặc can thiệp từ bên ngoài
- Giảm dần các yếu tố nguy cơ nguyên nhân mạch máu (tăng huyết áp, tăng cholesterol, kiểm soát tốt bệnh đái tháo đường, bỏ hút thuốc lá) để ngăn chặn sự tạo thành các mảng vữa xơ động mạch

- Điều trị chống kết tập tiểu cầu để ngăn chặn sự tạo thành mảng vữa xơ động mạch mới và các biến chứng huyết khối vữa xơ động mạch do đứt vỡ các mảng này.
     Các biện pháp cụ thể bao gồm :
+ Chống tăng huyết áp để làm giảm các biến chứng về tim mạch, thận và tỷ lệ tử vong. Tích cực sử dụng các biện pháp phòng chống thừa cân và béo phì, ăn nhạt, thường xuyên tập luyện thể dục thể thao. Sử dụng thuốc hạ huyết áp đều đặn và đúng cách theo hướng dẫn của thầy thuốc.
+ Cai thuốc lá triệt để vì hút thuốc làm nguy cơ gây vữa xơ động mạch và bệnh mạch vành tăng gấp đôi, nhất là ở những người hút trên 40 điếu mỗi ngày. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng : nguy cơ đột quỵ não sẽ dứt hẳn sau một vài năm ngừng hút thuốc lá.
+ Điều chỉnh rối loạn lipid máu, trong đó đặc biệt làm giảm cholesterol. Cơ chế sinh bệnh vữa xơ động mạch chưa được hiểu biết hoàn toàn, nhưng tổn thương và hậu quả rối loạn chức năng của các tế bào nội mạc mạch máu là rất sớm. Có nhiều nghiên cứu lớn đã chỉ ra rằng tăng cholesterol là một yết tố nguy cơ độc lập của đột quỵ não.
+ Thực hiện chế độ ăn muối và kali hợp lý. Ăn mặn làm tăng huyết áp. Đối với các nước nhiệt đới, chỉ nên giảm muối vừa phải do mất muối qua mồ hôi. Chế độ ăn ít kali làm tăng nguy cơ đột quỵ do tăng huyết áp. Nên bổ sung kali bằng ăn thêm hoa quả và rau tươi. Mức độ ăn kiêng được khuyến cáo chung là không quá 2,4g natri mỗi ngày (tương đương 6g muối ăn natriclorua). Những bệnh nhân tăng huyết áp nếu giảm bớt lượng muối ăn khoảng 40mg/ngày thì sẽ giảm được nguy cơ tăng huyết áp hoặc biến chứng tim mạch.
+ Cai rượu, người ta thấy việc sử dụng rượu mức trung bình có thể cải thiện sức khỏe một cách thật sự. Tuy nhiên một số người nghiện rượu thường gặp phải những biến chứng nặng do lạm dụng rượu. Nghiện rượu nặng (sử dụng nhiều hơn 60g/ngày) tăng nguy cơ đột quỵ. Sử dụng mức độ trung bình (12-24g/ngày) giảm nguy cơ đột quỵ. Sử dụng rượu ít hơn 12g/ngày thì nguy cơ thấp nhất. “10g rượu tương đương với 330ml bia hoặc 100ml rượu vang hoặc 30ml rượu mạnh.
+ Tập thể dục để làm giảm thấp các yết tố nguy cơ của bệnh tim mạch. Những người đàn ông thường xuyên hoạt động đủ mạnh để ướt đẫm mồ hôi là đã giảm 20% nguy cơ đột quỵ. Tập thể dục mức độ trung bình, chẳng hạn như đi bộ nhanh, đạp xe đạp hoặc bơi lội ít nhất 30 phút/lần/ngày, 5 ngày/tuần là hữu ích. Tập thể dục đều đặn có thể góp phần cải thiện đường máu, giảm tỷ lệ kháng insulin, giảm cân, cải thiện một số thông số lipid, hạn chế tiến triển tổn thương xữa xơ động mạch và cải thiện huyết áp. Tập thể dục có tác dụng làm giảm HA tâm thu, giảm béo phì. Thể dục làm giảm tỷ lệ nhồi máu cơ tim do đó cũng làn giảm tỷ lệ đột quỵ não.
+ Chống béo phì, nhất là  béo bụng vì đó là nguy cơ lớn nhất của đột quỵ. Về yếu tố nguy cơ của đột quỵ, nghiên cứu sức khỏe dinh dưỡng đã xác định rằng gia tăng chỉ số khối cơ thể = [trọng lượng (kg)] chia cho [chiều cao (m)]2, nếu > 27kg/m2 và tăng cân nặng sau 18 tuổi làm tăng yếu tố nguy cơ của nhồi máu não.
+ Chống bệnh đái tháo đường để làm giảm nguy cơ đột quỵ não. Nghiên cứu ở Framinham đã xác định rằng nguy cơ đột quỵ cao hơn trong những bệnh nhân đái tháo đường so với những bệnh nhân không đái tháo đường. Khi một bệnh nhân đái tháo đường bị đột quỵ thì hậu quả hiểm nghèo hơn nhiều so với bệnh nhân không bị đái tháo đường. Lý do của hậu quả này là do bệnh nhân bị đái tháo có vòng tuần hoàn nghèo nàn.
+ Phát hiện và điều trị sớm các bệnh lý về tim như Rối loạn nhịp (đặc biệt là rung nhĩ), tổn thương van tim, các tổn thương cơ tim đặc biệt là nhồi máu mới, nhồi mấu cũ và bệnh lý cơ tim.
+ Sử dụng các thuốc dự phòng theo hướng dẫn của thầy thuốc, bao gồm :
    (1) Các thuốc tây y như : Các thuốc chống đông và thuốc chống kết tập tiểu cầu do ức chế sự tổng hợp thromboxan A2 của tiểu cầu (chất làm dính các tiểu cầu với nhau và với thành mạch) đồng thời giúp ổn định màng tế bào làm ADP không giải phóng ra được khỏi màng tế bào để tham gia vào quá trình kết dính tiểu cầu nên đã được dùng phổ biến trong thời kỳ cấp để ngăn chặn huyết khối tiến triển và tái phát. Chúng có lợi ích dự phòng lâu dài cho nhiều nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ đột quỵ bao gồm rung nhĩ, tình trạng tăng đông. Tuy vậy, các thuốc này không làm tiêu có ý nghĩa cục máu đông và không thể tái lập nhanh tưới máu não trong giai đoạn cấp. Các thuốc chống kết tập tiểu cầu chủ yếu là Aspirin, Dypiridamol, Aggrenox, Clopidogrel…
   (2) Các thuốc đông y như Hoa đà tái tạo hoàn, là phương thuốc bí truyền dân gian Trung quốc được nghiên cứu sản xuất dưới dạng viên hoàn, liều dùng 8 gam/1 lần x 2 lần/24h, một đợt điều trị 30 ngày, có thể uống 3 đợt liên tục và không có tai biến. Thuốc có tác dụng khu phong khai khiếu, hoạt huyết hoá ứ, tiêu sưng tán kết. Thuốc đã được nghiên cứu thực nghiệm trên động vật (thỏ, chó, mèo, chuột) nhận thấy thuốc làm tăng lưu lượng động mạch cảnh gốc và động mạch cảnh trong, làm tăng cường tính co bóp của cơ tim. Thuốc cũng đã được nghiên cứu thử nghiệm trên lâm sàng ở nhiều bệnh viện của Trung Quốc để điều trị cho các bệnh nhân sau đột quỵ não (cả đột quỵ chảy máu và đột quỵ thiếu máu não) và đã được xác định có sự cải thiện rõ lưu lượng máu não của bệnh nhân, giảm độ quánh máu, giảm chỉ số kết tập tiểu cầu, cải thiện khả năng biến dạng hồng cầu, dự phòng tích cực đột quỵ tái phát ; Luotai, là Panax notogingseng saponin (dạng bột pha tiêm, viên nén, dung dịch tiêm) của Trung Quốc dùng để dự phòng và điều trị đột quỵ thiếu máu cục bộ não cấp và bán cấp do có tác dụng làm bền vững thành mạch máu, cải thiện vi tuần hoàn, tác động vào quá trình đông máu, giảm đau và chống viêm. Ngoài ra còn nhiều loại đông dược thành phẩm khác như Hoạt huyết dường não, viên Kỷ cúc địa hoàng hoàn, viên Tứ vật đào hồng…

                                                                                            Hoàng Khánh Toàn




Thứ Năm, ngày 11 tháng 8 năm 2016

VÀNG CHỮA BỆNH

Kính gửi bác sĩ Hoàng Khánh Toàn.
     Tôi là một độc giả thường xuyên của báo Sài gòn tiếp thị. Đọc nhiều bài viết của bác sĩ về đông y và y học cổ truyền trên trang sức khỏe tôi và mấy người bạn thấy rất thích. Bác sĩ có cách giải thích thắc mắc đơn giản, dễ hiểu và vô cùng tiện dụng. Hôm nay tôi có một chuyện kính nhờ bác sĩ dành thời gian giải đáp dùm. Mới đây tôi có được một người bạn cho mượn một tài liệu đông y của người Tàu, trong đó có đề cập đến cách chữa bệnh bằng dùng vàng để chữa trị chứng bệnh đau thần kinh, tiêu diệt tế bào ung thư, trị bệnh phong cùi và hạn chế sự phát triển của các loại vi khuẩn. Tài liệu này có kể lại trường hợp nghệ sĩ cải lương Mỹ Châu cũng từng uống vàng để trị bệnh phong cùi. Cách đây ít lâu tôi nhớ có đọc một bài báo nói ở Hà Nội cũng có nhà hàng nào đó bán thức ăn có rải bột vàng 18k lên trên bề mặt để làm món ăn bài thuốc. Xin được hỏi bác sĩ những thông tin này có khoa học không?. Kính mong bác sĩ giải đáp sớm những thắc mắc của tôi. Kính chúc bác sĩ dồi dào sức khỏe.
                           Lê Văn Bảy (22/25, đường C1, cộng Hòa, phường 13, Tân Bình.
                                                         Điện thoại: 08.38275623)

Trả lời :
     Từ xa xưa, ở phương Đông cũng như phương Tây, đặc biệt là Ấn Độ, Ai Cập, Trung Quốc, ngoài chức năng làm đồ trang sức và có giá trị thay thế đồng tiền trong mua bán trao đổi hàng hoá, vàng còn được dùng để làm thuốc chữa bệnh. Theo dược học cổ truyền phương Đông, vàng vị cay đắng, tính bình, có công dụng trấn tâm, an thần và giải độc. Trong dược thư cổ Bản thảo cương mục, nhà bác học Lý Thời Trân (Trung quốc) gọi vàng là “thái nhân”, “hoàng nha” và viết rằng : “vàng ròng được luyện thành các vảy mỏng dùng làm thuốc trị các bệnh thần kinh và hạn chế sự phát triển của các loại vi khuẩn”. Sách Nam dược thần hiệu của danh y Tuệ Tĩnh cũng viết : “Tinh kim - vàng ròng vị cay, tính bình, hơi độc, hoà huyết, trấn tâm, an ngũ tạng, trừ bệnh cốt nhiệt và bệnh phong. Vàng sống có độc, vàng đã tôi luyện không độc”. Trong Lĩnh Nam bản thảo, Hải Thượng Lãn Ông ghi nhận :
“Tinh kim tục gọi ấy vàng ròng.
Vị cay, khí bình, ít độc xung.
Hoà huyết, trấn tâm, yên năm tạng.
Trừ mọi nóng xương và chữa phong”
     Ở Trung Quốc, người ta dùng vàng tự nhiên để trị kinh giản, điên cuồng, tim đập mạnh và loạn nhịp, lở độc, giải trúng độc các loại đá quý. Dùng uống trong làm hoàn, tán ; dùng ngoài, tán bột bôi. Theo kinh nghiệm của người xưa, bụi vàng có khả năng rút mủ lên da thịt non, khi đem nung đỏ và tôi vào nước, người ta được một thứ dịch có tác dụng chữa chứng co giật ở trẻ em. Một số thuốc quý của đông y được bọc bằng một lớp vỏ rất mỏng bằng vàng ròng, khi dùng người bệnh có thể nuốt cả vỏ. Xưa kia, trong thuật châm cứu, người ta còn dùng kim được chế bằng vàng hoặc bằng bạc để chữa bệnh, kim vàng có tác dụng “bổ”, kim bạc có tác dụng “tả”.
     Ngày nay, theo dinh dưỡng học hiện đại, cũng như Fe, Cu, Mg, Zn, Si…, vàng  là một nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể con người và được nghiên cứu sử dụng để làm thuốc chữa bệnh. Nhà bác học Rober Koch (người phát hiện ra vi khuẩn lao) đã từng dùng vàng cyanua để chữa bệnh lao phổi. Từ lâu, muối vàng đã được dùng để trị các bệnh đau xương khớp, viêm đa khớp dạng thấp. Một giáo sư thuộc trường đại học Thần Hộ (Nhật Bản) đã dùng lade hơi vàng để chữa bệnh ung thư thực quản mang lại kết quả rất khả quan. Cách thức cụ thể là : trước tiên, dùng một loại thuốc có tên gọi là “hemataporphyrin” tiêm vào tĩnh mạch người bệnh, sau khi vào cơ thể, thuốc sẽ tụ lại xung quanh tổ chức ung thư và hấp thu có hiệu quả đối với lade hơi vàng ; sau đó dùng một ống nhỏ để chiếu tia lade vàng vào vùng tổn thương. Với tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư và khống chế tích cực quá trình di căn, phương pháp này có thể giúp cho người bệnh tránh được những cuộc phẫu thuật có ảnh hưởng không tốt cho sức khoẻ. Các nhà nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu khoa học Quốc gia Pháp (CNRS) cũng đã nghiên cứu tìm cách tiêu diệt các tế bào ung thư bằng phương pháp ghép những phân tử huỷ diệt trên những hạt nano vàng để chúng hoạt động tương tự như tên lửa. Còn các nhà nghiên cứu Mỹ thì lại tiến hành thử nghiệm trên chuột bằng cách kết hợp các hạt nano vàng với tia X để tăng cường hiệu quả tiêu diệt các tế bào ung thư.
     Theo kết quả phân tích của Cục thực phẩm Munich (Đức), vàng sau khi được đưa vào cơ thể sẽ có tác dụng hấp thụ các chất độc hại và thải chúng ra ngoài cơ thể. Bởi vậy, nguyên tố vi lượng quý hiếm này đóng vai trò là trợ thủ đắc lực giúp cho cơ thể con người thanh trừ các “rác rưởi”, phục hồi sự “trong lành” và dự phòng tích cực bệnh tật. Hơn nữa, với tính chất kéo dài đặc biệt tốt, trong phẫu thuật, các nhà y học còn sử dụng sợi vàng để khâu các mảnh xương bị vỡ mà không gây đau đớn hoặc các tác dụng không mong muốn nào khác. Người ta còn dùng những tấm vàng dát thật mỏng để chữa viêm loét dạ dày hoặc xử lý các vết bỏng một cách an toàn và hiệu quả.
     Trong những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh : những người ăn vàng có thể giúp cho cơ thể hoạt bát, cường tráng, giữ được nhan sắc và kéo dài tuổi thọ. Các nhà khoa học Nhật Bản đã dùng kỹ thuật hiện đại để tinh luyện vàng đến độ tinh khiết cao tạo ra những tấm vàng mỏng gần như trong suốt để cho vào thức ăn hoặc rượu uống. Người ta ước tính, sau khi đưa vào cơ thể chừng chưa đầy 10 phút vàng đã được hấp thụ và tiêu hoá hết. Bởi vậy, ngày nay thực phẩm vàng đã trở thành món ăn ở Nhật Bản như món nộm vàng cơm và đã được phổ biến sử dụng ở nhiều nước trên thế giới.
     Như vậy, có thể thấy, những thông tin mà bạn đọc có được về công dụng chữa bệnh của vàng là hoàn toàn có cơ sở khoa học. Tuy nhiên, hiện nay vì thứ kim loại này quá đắt đỏ và vả lại các thứ thuốc có tác dụng thay thế rất phong phú nên vàng không còn được dùng làm thuốc nhiều như trước đây nữa.

                                                                                      Hoàng Khánh Toàn


VIAGRA

VIAGRA VỚI NGƯỜI BỊ CAO HUYẾT ÁP

 

     Trong gần 20 năm qua, một trong những dược phẩm được nhắc nhở tới khá nhiều và cũng được nhiều người sử dụng là thuốc chữa bệnh rối loạn cương dương Viagra. Viagra được đưa vào thị trường vào năm 1998 và đã mang lại niềm vui cho không ít nam giới chẳng may rơi vào tình trạng “trên bảo dưới không nghe” trong đời sống tình dục. Tuy nhiên, có khá nhiều vấn đề được bàn luận về xung quanh loại thuốc này, trong đó có việc người bị bệnh cao huyết áp có được dùng Viagra hay không ?
1. Viagra là gì ?      
     Viagra là tên hiệu của thuốc Sildenafil dùng để giúp chứng rối loạn cương dương  nam giới, do công ty Pfizer Inc. sản xuất. Sự khám phá ra tác dụng của Viagra là do một sự tình cờ. Đó là vào năm 1992 khi các nhà khoa học của viện bào chế Pfizer thử nghiệm thuốc sildenafil citrate để chữa bệnh nhân bị thiếu máu cơ tim ở một số người tình nguyện. Sau thời gian thử nghiệm, những tình nguyện viên từ chối hoàn trả số thuốc không dùng tới, vì lý do “thuốc giúp công cụ “hành sự” của họ cứng hơn và kéo dài lâu hơn thường lệ”. Không bỏ lỡ cơ hội, Pfizer bèn để tâm nghiên cứu thêm và thấy quả tình là hoạt chất sildenafil có tác làm cương cứng dương vật. Họ đã khảo sát trên những người bị rối loạn cương dương và thấy rằng nó có hiệu quả cải thiện đáng kinh ngạc. Từ đó, công ty đã đặt tên riêng cho sildenafil là Viagra, một virility drug, viên thuốc cường dương, nam tính. Và vào ngày 27 tháng 3 năm 1998, Viagra là dược phẩm đầu tiên được cơ quan Thực Dược Phẩm Hoa Kỳ cho phép sử dụng để điều trị rối loạn cương dương.
2. Cơ chế tác dụng của Viagra ra sao?
     Nitric Oxid được mô bào cơ thể liên tục sản xuất ở mức độ nhiều ít khác nhau. Khi có kích thích hoặc ham muốn tình dục, chất Nitric Oxide được sản xuất ở mô xốp cơ quan sinh dục nam. Qua một chuỗi phản ứng hóa học, chất Cyclic guanosine triphosphate (cGMP) thành hình. Chất này sẽ làm cho cơ trơn động mạch dương vật giãn ra, máu tràn vào làm dương vật trở nên to và cứng. Nhưng cGMP không tồn tại lâu. Nếu cGMP sớm bị hủy hoại hoặc lượng quá ít thì máu thoát ra khỏi dương cụ rất nhanh và cơ quan này sẽ trở lại tình trạng mềm xỉu. Viagra có tác dụng ngăn chặn sự hủy hoại cGMP, khiến cho mạch máu tiếp tục giãn ra và  dương vật được cương cứng kéo dài. Vì vậy, Viagra chỉ có tác dụng đối với nam giới còn ham muốn tình dục hoặc khi còn khả năng đáp ứng với kích thích gợi tình.
3. Người bị cao huyết áp có cần dùng Viagra không ?
     Cao huyết áp là một trong những bệnh rất dễ gây rối loạn cương dương và được xem như “đôi bạn” luôn cặp kè bên nhau với hai lý do : Thứ nhất, rối loạn cương dương xảy ra khi các mạch máu lưu thông tới thể hang của dương vật bị giảm, có thể do hẹp hay tắc nghẽn, cơ thể mất cân bằng nội tiết tố hoặc khi hoạt động của các dây thần kinh kích thích sự cương cứng bị rối loạn. Cao huyết áp là một bệnh gây tổn thương các thành mạch máu, dẫn đến xơ vữa động mạch, hạn chế máu lưu thông. Khi lượng máu đến “súng ống” suy giảm, quý ông sẽ gặp khó khăn trong việc “lên nòng”, không đạt được sự cương cứng đủ hoặc khó duy trì sự cương cứng đủ lâu để đạt được sự thỏa mãn trong sinh hoạt tình dục. Theo nghiên cứu thống kê, rối loạn cương dương có thể xuất hiện ở nam giới mọi lứa tuổi nhưng nhiều nhất là từ 45 tuổi trở lên. Ước tính có khoảng 30% nam bệnh nhân cao huyết áp mắc thêm chứng rối loạn cương dương.
     Thứ hai, việc dùng thuốc để kiểm soát huyết áp, đưa huyết áp về mức bình thường hoặc gần bình thường lại có thể gây rối loạn cương, đặc biệt là khi dùng lâu dài, liều cao và sử dụng các thuốc có tác dụng phụ trực tiếp gây trục trặc cho việc cương cứng dương vật, đặc biệt là nhóm thuốc lợi tiểu (hydrochlorothiazide), thuốc ức chế beta (propanolol, atenolon....). Trên thực tế, sau một thời gian dùng thuốc không ít quý ông  than phiền rằng “phong độ súng ống” của mình giảm đi rõ rệt. Bởi vậy, việc tìm hiểu và sử dụng Viagra cho bệnh nhân cao huyết áp là rất cần thiết không chỉ nhằm mục đích trị bệnh mà còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
4. Dùng viagra cho người cao huyết áp như thế nào ?
     Tuy nhiên cho đến nay vấn đề người bị bệnh cao huyết áp có nên dùng Viagra hay không vẫn chưa đạt được sự thống nhất. Phần đông cho rằng vẫn có thể sử dụng được vì  trên thực tế không ít người bị cao huyết áp đã được chỉ định dùng Viagra một cách thận trọng đã đem lại hiệu quả tốt, không ảnh hưởng đến huyết áp, giúp cương dương tốt và đặc biệt đem lại một lợi ích không nhỏ cho đời sống tinh thần. Hơn nữa, có không ít trường hợp người ta nhận thấy Viagra có tác dụng giúp làm giảm nhẹ huyết áp, bởi vậy có ý kiến cho rằng loại thuốc này thực chất chỉ phản chỉ định cho những người bị huyết áp thấp, còn với huyết áp cao vẫn có thể sử dụng dưới sự chỉ dẫn và theo dõi sát sao của thầy thuốc. Kết quả một nghiên cứu mới của các nhà nghiên cứu ở ĐH Gainesville, Florida, Mỹ đăng trên tạp chí Hypertension (Mỹ) cho biết Viagra, "tiên dược" của chứng rối loạn cương dương không những không ảnh hưởng đến huyết áp mà ngược lại còn giúp tim bơm máu dễ dàng hơn...Nhóm nghiên cứu ở ĐH Gainesville, Florida, Mỹ xem xét hiệu quả của Viagra trên mạch máu ở 15 bệnh nhân bị huyết áp cao. Họ kiểm tra mạch máu trung bình trước và sau khi bệnh nhân uống 50 mg thuốc - một lượng thuốc cần cho trạng thái rối loạn cương dương. Kết quả là huyết áp ở những người này không tăng hoặc giảm. Thêm vào đó, loại thuốc này có tác dụng giúp cho tim vận hành dễ hơn trong việc bơm máu.
     Nhưng, theo các chuyên gia khi dùng loại thuốc này cho người bị cao huyết áp  phải chú ý một số vấn đề như : (1) Nhất thiết phải có được chỉ định và  hướng dẫn của thầy thuốc có chuyên khoa, tuyệt đối không tự ý mua, dùng, thay thế chủng loại hoặc nâng liều lượng. Thuốc chữa rối loạn cương dương là những thuốc kê toa, nghĩa là phải do bác sĩ chỉ định, bệnh nhân không nên dùng thuốc theo kiểu “truyền tai nhau”. Những thuốc chữa rối loạn cương dương như Viagra, Cialis hay Levitra chỉ nên sử dụng khi bệnh nhân đã được kiểm soát huyết áp tốt. Những thuốc này không an toàn khi bệnh nhân đang dùng thuốc chẹn alpha hay các thuốc nitrate trong điều trị bệnh tim. (2) Không được dùng Viagra khi đang dùng thuốc chứa Nitrat. Viagra gây nên những phản ứng với loại thuốc có chứa thành phần Nitrat, loại thuốc mà những người mắc bệnh tim mạch thường sử dụng. Việc sử dụng Viagra trong thời điểm dùng thuốc Nitrat như thuốc nitroglycerin, isosorbide dinitrate và isosorbide mononitrate có thể chính là nguyên nhân gây nên cảm giác mệt mỏi hoặc những rắc rối với tim mạch. (3) Không dùng viagra cho những đối tượng cao huyết áp đã từng bị tai biến nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ, đã có rối loạn nhịp tim trong vòng 6 tháng trước, đau tức ngực không thường xuyên, viêm võng mạc sắc tố (một bệnh thoái hoá mang tính di truyền, có thể gây mù lòa), dị ứng với hoạt chất sildenafil của Viagra, có kèm theo suy gan, suy thận trầm trọng. (4) Cần hết sức chú ý liều lượng khi dùng cho người bị cao huyết áp, tốt nhất là dùng liều ban đầu thật thấp, sau đó điều chỉnh dần tùy theo mức độ đáp ứng và các phản ứng bất lợi.
     Tóm lại, Viagra từ khi ra đời đã trở thành một loại “thần dược” cứu cánh cho những người đàn ông không may bị rối loạn cương dương, trong đó có những người mà nguyên nhân là do cao huyết áp và chịu tác dụng bất lợi của thuốc chữa trị cao huyết áp, trong đời sống tình dục, một hoạt động không thể thiếu đối với chất lượng cuộc sống của con người. Sẽ còn nhiều vấn cần tiếp tục bàn luận và nghiên cứu, nhưng trước mắt có thể nói Viagra không phản chỉ định đối với những bệnh nhân bị cao huyết áp kèm theo rối loạn cương dương. Vấn đề là ở chỗ, dù muốn hay không những “đấng mày râu” cao huyết áp không may bị rối loạn cương dương hãy hết sức tỉnh táo và thông thái khi sử dụng “thần dược” này, nghĩa là đừng e ngại khi tìm đến những thầy thuốc có chuyên khoa để được xem xét, chỉ định và hướng dẫn sử dụng một cách chi tiết và khoa học. Đừng liều lĩnh dùng Viagra để tránh khỏi những tai biến khôn lường !
                                                                                         Hoàng Khánh Toàn





Thứ Năm, ngày 21 tháng 7 năm 2016

VỀ CÂY LƯỢC VÀNG

VÀI ĐIỀU VỀ CÂY LƯỢC VÀNG


     Vốn có nguồn gốc từ Mexico được di thực sang Nga rồi về đến Việt Nam vào những năm 90 của thập kỷ trước. Lúc đầu, lược vàng được trồng để làm cảnh, sau đó dựa theo những kinh nghiệm và tài liệu của Nga mà được sử dụng để làm thuốc. Đầu tiên là ở Thanh Hóa rồi lan rộng ra các tỉnh thành trong toàn quốc và bùng phát thành cơn sốt “Lược vàng” bắt đầu từ năm 2007.
     Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về tác dụng chữa bệnh của cây lược vàng, thậm chí là trái chiều nhau, nhưng chủ yếu có ba quan điểm chính : Một là, coi lược vàng như một thứ thần dược có thể chữa được “bách bệnh” kể cả những bệnh nan y như ung thư, điều này khiến cho người ta đổ xô đi tìm mua, trồng hái, buôn bán, sử dụng loại dược liệu này giống như đã từng xảy ra đối với cây con khỉ (hoàn ngọc, xuân hoa…) hay nấm cổ linh chi ; Hai là, không tin vào khả năng chữa bệnh có tính chất “đồn thổi” của lược vàng, thậm chí đi đến phủ định hoàn toàn ; Ba là, xem xét và sử dụng loại dược liệu này một cách thận trọng, ghi nhận những trường hợp thành công nhưng không khẳng định một cách chắc chắn khi chưa có những chứng cứ khoa học bài bản. Vậy, nên hiểu về giá trị ngăn ngừa và chữa trị bệnh tật của cây lược vàng như thế nào cho đúng ?
     Trước hết, phải khẳng định rằng, trước khi di thực vào nước ta trong mươi năm gần đây, chúng ta chưa biết đến loài thực vật này và giá trị y học của nó. Và trên thực tế, cho đến nay lược vàng cũng chưa được ghi trong các y thư chính thống ví như sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Giáo sư, tiến sĩ Đỗ Tất Lợi, hay sách “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” của tập thể tác giả thuộc Viện Dược liệu trung ương, hay sách “Cây thuốc Việt Nam” của lương y Lê Trần Đức…Nhìn rộng ra, ngay cả sách “Trung dược đại từ điển” của Trung Quốc cũng chưa thấy ghi cây thuốc này với cái tên khoa học là “Callisia fragrans”, thuộc họ Thài lài Commelinaceae. Căn cứ để dùng lược vàng chữa bệnh ở nước ta hiện nay chủ yếu vẫn dựa vào các tài liệu và kinh nghiệm có xuất xứ từ Nga.
     Thứ hai, dựa trên các tài liệu nghiên cứu nước ngoài có thể thấy cây lược vàng chứa các chất có hoạt tính sinh học gồm flavonoid, steroid và nhiều khoáng tố vi lượng có lợi cho sức khoẻ. Chất flavonoid đóng vai trò như vitamin P có khả năng làm bền mạch máu, giảm đau, an thần, kháng viêm, hoạt huyết và tăng tác dụng của vitamin C, được dùng để chữa lành vết thương, vết bỏng, vết bầm tím. Dân gian dùng làm phương thuốc chữa bệnh loét dạ dày tá tràng, lợi tiểu, ngăn ngừa và điều trị các khối u trong cơ thể. Hai chất flavonoid được xác định là quercetin và kaempferol. Quercetin là một chất chống oxy hoá tế bào mạnh, có khả năng kháng ung thư và tăng sức bền thành mạch, còn hữu ích trong trường hợp dị ứng, chảy máu thành mạch, viêm thận, thấp khớp, bệnh tim mạch, bệnh mắt và các bệnh nhiễm trùng. Kaempferol giúp củng cố mao mạch, nâng đỡ thể trạng, tăng sự đào thải nước tiểu và khả năng kháng viêm, được dùng chữa viêm nhiễm, dị ứng và bệnh đường tiết niệu. Chất steroid trong cây chính là phytosterol. Chất này có hoạt tính estrogen, tác dụng sát khuẩn, chống xơ cứng và kháng ung thư. Cây lược vàng còn có khả năng tẩy uế không khí ô nhiễm trong phòng, phóng thích những chất có ích cho việc điều trị các bệnh lý đường hô hấp.
     Thứ ba, cho đến nay ở nước ta kinh nghiệm trồng hái và sử dụng lược vàng làm thuốc đã trở nên khá phổ biến. Số lượng các bài báo, các tư liệu viết truyền tay nói về thành công trong việc dùng lược vàng để chữa bệnh là hết sức phong phú. Tựu trung lại, dược liệu này đã được dùng để chữa các bệnh và chứng bệnh như viêm khớp, đau cứng khớp, vôi hóa đốt sống, đau mỏi toàn thân, viêm loét dạ dày tá tràng, ung thư dạ dày, xơ gan cổ chướng, u gan lành tính, bệnh nóng gan do hỏa vượng, viêm gan siêu vi A,B,C, gan nhiễm mỡ, viêm túi mật, viêm phúc mạc cấp, đầy hơi không tiêu, viêm ống dẫn mật, sỏi mật (dạng bùn), ngộ độc thức ăn, táo bón, ho do viêm phế quản lâu ngày, do viêm họng, bệnh nóng gan do hỏa vượng, u nang buồng trứng, rối lọan tiền đình, parkinson (chứng rung tay chân ở người già), tâm thần phân liệt, suy nhược thần kinh, mất ngủ, đau đầu, mộng du, ngủ mơ thấy ác mộng, kém trí nhớ (bệnh down), cảm mạo phong hàn, yếu sinh lý, xuất tinh sớm, di tinh, mộng tinh, liệt dương, hiếm muộn, dái nước, lở miệng do nóng, chống viêm loét ngoài da, bầm tím da, vẩy nến, mẩn ngứa, giời leo, chứng ra mồ hôi chân tay ở người lớn và đổ mồ hôi trộm ở trẻ em, đau răng, chảy máu chân răng, đau lưng, côn trùng cắn, đái tháo đường, làm sáng mắt, đục thủy tinh thể ở người già, sạn sỏi ở thận, sài đẹn…Tuy nhiên, đây vẫn chỉ là những kinh nghiệm chữa bệnh mang tính chất cá nhân, truyền miệng và đơn lẻ. Hầu hết nói về thành công và không có bất cứ một thông báo nào về việc thất bại trong việc dùng lược vàng chữa bệnh.
     Thứ tư, với tinh thần thực sự cầu thị, giới dược học Việt nam đã hết sức tích cực trong việc nghiên cứu về thành phần hóa học, tác dụng sinh học và độc tích của cây lược vàng trên thực nghiệm với vai trò của TS Nguyễn Minh Khởi, TS Trịnh Thị Điệp và các nhà khoa học thuộc Viện Dược liệu đã cho thấy có rất nhiều vấn đề về cây lược vàng cần được làm sáng tỏ, trong đó có những kết quả nghiên cứu thu được rất bất ngờ. Ví như, kết quả thử tác dụng chống viêm cấp trên thực nghiệm với liều dùng tương đương với 50g dược liệu tươi/kg thể trọng chuột cho thấy lược vàng không có tác dụng chống viêm, thậm chí cao chiết cồn 50% từ thân lược vàng còn tăng phản ứng viêm. Về khả năng kháng khuẩn, trong 3 chủng vi khuẩn thường gặp, cao chiết của lá và thân lược vàng có tác dụng kháng khuẩn đối với Staphylococcus aureus nhưng phải ở nồng độ rất cao so với kháng sinh tham chiếu là azithromycin. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cao chiết lá và thân lược vàng còn có độc tính cấp, gây chết chuột thí nghiệm ở liều uống cao. Rất tiếc, cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào trên lâm sàng khảo sát công dụng của lược vàng trên một bệnh lý cụ thể. Vì thế, việc dùng lược vàng theo kinh nghiệm truyền miệng vẫn cứ lưu truyền trong dân gian mà chưa biết giá trị trị liệu cụ thể và hậu quả khôn lường của nó ra sao.
     Cuối cùng, cũng như rất nhiều cây thuốc và con thuốc khác ở Việt Nam, lược vàng rất cần có những nghiên cứu sâu hơn để làm sáng tỏ nhiều vấn đề như : lược vàng trổng Việt Nam có gì khác so với lược vàng ở Mexico và Nga về các tiêu chí dược học và độc tính, trên lâm sàng giá trị chữa bệnh của lược vàng ở những mặt bệnh nào, hiệu quả đến đâu, tác dụng không mong muốn như thế nào. Và đương nhiên rất cần những đề tài nghiên cứu nghiêm túc về vấn đề này để có thể đưa ra những kết luận đầy đủ và toàn diện về cây lược vàng nhằm làm sáng tỏ xem cây này có tác dụng thực sự như dân gian truyền miệng hay không và hoạt chất thực sự của nó là gì. Trên cơ sở đó sớm cung cấp những thông tin khoa học chính xác để trả lời dư luận, giúp người dân sử dụng cây lược vàng an toàn và hiệu quả. Tiến sĩ Trịnh Thị Điệp rất có lý khi nói rằng :  “Nếu không nghiên cứu chuyên sâu về loại cây này có thể sẽ làm lãng phí một nguồn dược liệu dễ trồng nhưng cũng có thể không phát hiện ra yếu tố không có tác dụng tốt cho sức khỏe con người”.

                                                                                            Hoàng Khánh Toàn