Thứ Hai, ngày 20 tháng 6 năm 2016

KHÔNG PHÓNG TINH

ĐÔNG Y ĐƠN GIẢN CHỮA CHỨNG KHÔNG PHÓNG TINH


     Có một nghịch lý là, trong khi không ít đấng “mày râu” thất vọng vì xuất tinh quá nhanh và quá sớm trong các cuộc “mây mưa” thì lại có một số nam giới  khổ sở vì chuyện xuất tinh quá khó khăn hoặc không xuất tinh được mỗi khi “động phòng” mặc dù ham muốn tình dục và độ cương cứng của “cậu nhỏ” vẫn hoàn toàn bình thường. Theo y học hiện đại, chứng không xuất tinh được phần lớn mang tính cơ năng mà nguyên nhân chủ yếu là do rối loạn hoạt động của hệ thống thần kinh trung ương khiến cho trung khu chỉ đạo phản xạ phóng tinh ở tủy sống lâm vào trạng thái ức chế. Ngoài ra, còn có một số nguyên nhân khác như dị tật hoặc bệnh lý thực thể của bộ phận sinh dục, do tác dụng không mong muốn của một số loại thuốc...
     Trong y học cổ truyền, chứng không phóng tinh được gọi là Bất xạ tinh hoặc Xạ tinh bất năng với nguyên nhân chủ yếu là do tiên thiên bất túc (dị tật bẩm sinh), tinh thần tình chí bất điều (rối loạn tâm thần kinh), ngoại cảm tà khí, ẩm thực sở thương (ăn uống không hợp lý), lao lực quá độ và cửu bệnh đại bệnh (bị bệnh lâu ngày, bệnh nặng). Về mặt trị liệu, có thể sử dụng phương pháp biện chứng luận trị, nghĩa là căn cứ vào chứng trạng cụ thể của người bệnh mà phân loại thành các thể bệnh để lựu chọn các vị thuốc và bài thuốc cho phù hợp, ví như : với thể Can uất khí trệ dùng bài Tứ nghịch tán hoặc Sài hồ sơ can tán gia giảm, với thể Huyết ứ dùng bài Huyết phủ trục ứ thang hoặc Tiểu phúc trục ứ thang gia giảm, với thể Thấp nhiệt uất kết dùng bài Tứ diệu tán gia giảm, với thể Thận tinh suy hư dùng bài Hữu quy hoàn gia giảm. Cũng có thể sử dụng các kinh nghiệm dân gian như :

* Dùng thuốc
- Dùng xạ hương 0,3g bôi vào giữa rốn để thông tinh khiếu, mỗi ngày 1 lần trong 07 ngày.
- Viễn chí 9g, xương bồ 9g sắc uống mỗi ngày 1 thang.
- Mã tiền tử chế 12g, sinh ma hoàng 12g, thạch xương bồ 12g, ngô công 18g, đương quy 60g, bạch thược 60g, sinh cam thảo 60g. Tất cả sấy khô, tán thành bột mịn rồi chia làm 40 gói, mỗi tối uống 1 gói với rượu vang. Chú ý : mã tiền tử là vị thuốc có độc nên phải được bào chế cẩn thận, nhất thiết nên mua ở các cơ sở đông dược có giấy phép hành nghề.
- Mã tiền tử chế 0,3g, ngô công 0,5g, băng phiến 0,1g, tất cả tán thành bột, tối trước khi đi ngủ 60 phút uống với nước sắc của ma hoàng 6g, xương bồ 6g và hổ trượng 6g, 30 ngày là 1 liệu trình. Dùng cho tất cả các thể bệnh.
- Xuyên sơn giáp 15g, vương bất lưu hành 15g, lộ lộ thông 10g, ngưu tất 10g sắc uống mỗi ngày 1 thang, 7 ngày là 1 liệu trình.
- Trước khi sinh hoạt tình dục dùng cam công 15g sắc lấy nước ngâm rửa hạ bộ.

* Dùng các món ăn - bài thuốc
- Móng giò lợn 4 cái làm sạch chặt miếng, hành củ 50g bóc bỏ vỏ, hai thứ cho vào nồi với một lượng nước vừa đủ, trước tiên dùng lửa to đun cho sôi rồi dùng lửa nhỏ hầm cho thật nhừ, chế thêm gia vị ăn trong ngày.
- Bồ dục dê trắng 2 quả thái miếng, nhục thung dung 30g tẩm rượu thái phiến, mỡ dê 120g thái miếng, hạt tiêu 6g, trần bì 3g, tất bát 6g, táo tây 6g, hành, gừng và gia vị vừa đủ. Các vị thuốc cho vào túi vải buộc kín miệng rồi đem hầm với bồ dục và mỡ dê, chế đủ gia vị, ăn nóng.
- Chim sẻ 5 con làm sạch, bỏ nội tạng, ướp với gia vị rồi hầm ăn hành ngày.

* Xoa bóp
- Chọn tư thế nằm ngửa, hai cẳng chân gấp tự nhiên, dùng các ngón tay vê tinh hoàn cả hai bên rồi bóp và rung tinh hoàn với một lực từ nhẹ đến mạnh, mỗi ngày làm 2 lần trước khi đi ngủ tối và sáng sớm khi thức dậy, mỗi lần 5 phút, 15 ngày là 1 liệu trình.
- Nếu có điều kiện dùng máy xoa bóp bằng điện đặt ở chế độ rung nhẹ nhất tiến hành xoa rung đầu quy đầu và các vị trí nhậy cảm ở hạ bộ để tạo dần cảm giác phóng tinh.


                                                                                  Hoàng Khánh Toàn

CÁCH DÙNG TỎI PHÒNG CHỐNG CAO HUYẾT ÁP

CÁCH DÙNG TỎI PHÒNG CHỐNG CAO HUYẾT ÁP


     Tỏi là một trong những gia vị có công dụng dược lý rất phong phú, trong đó có tác dụng làm giảm huyết áp. Để đạt được điều này có thể sử dụng tỏi dưới các hình thức dưới đây :
   * Tỏi tươi
     Là dạng dễ dùng nhất, có thể ăn sống hoặc dầm vào nước chấm. Nói chung mỗi ngày nên ăn 2 tép tỏi là đủ, nhiều hơn hoặc ít hơn một chút đều được. Theo các nhà dinh dưỡng, mỗi ngày nên ăn khoảng 10g tỏi là hoàn toàn vô hại. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng kiếm được tỏi tươi và ăn tỏi tươi hay có mùi hôi nên người ta thường chế biến thành các dạng khác dùng khác.
   * Tỏi ngâm
     Có thể ngâm dấm hoặc ngâm đường. Trong môi trường axit tác dụng của tỏi tăng gấp 4 lần nên dùng tỏi ngâm dấm là rất tốt. Cách chế : lấy 50g tỏi tươi bóc vỏ rồi ngâm với 100 ml dấm gạo, sau chừng mươi ngày là dùng được, nếu để đủ 30 ngày thì càng tốt. Tỏi ngâm đường : lấy 50g tỏi đem ngâm nước trong 7 ngày, mỗi ngày thay nước một lần, sau đó bóc bỏ vỏ rồi ngâm với muối một lúc cho chảy hết nước. Hoà 800g đường trắng trong một cái liễn miệng nhỏ với lượng nước chín vừa đủ, đổ tỏi vào ngâm trong 1 tháng là có thể ăn được. Tỏi ngâm đường có vị mặn ngọt, mùi thơm rất thú vị.
   * Rượu tỏi
     Có nhiều cách chế rượu tỏi : (1) Lấy 25g tỏi bóc vỏ, giã nát rồi đem ngâm với 100 ml rượu trắng, bịt kín miệng bình, để chỗ thoáng mát, sau 7 ngày là có thể dùng được, mỗi ngày uống 1 - 2 lần, mỗi lần 25 - 30 ml. (2) Dùng một cái bình miệng hẹp hoặc một vò rượu, đổ tỏi đã bóc vỏ vào đầy chừng 7/10 bình, xen kẽ với tỏi rải từng lớp đường phèn đã đập vụn, rót rượu trắng vào cho đến khi ngập hết tỏi. Bịt kín miệng bình, để chỗ râm mát, sau 30 ngày là có thể dùng được, để càng lâu thì càng tốt, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 25 ml. (3) Lấy 50g tỏi bóc vỏ, thái nhỏ rồi đem ngâm với 100 ml rượu trắng 45° trong lọ kín, thỉnh thoảng lắc đều, sau chừng 10 ngày là dùng được, mỗi ngày uống 2 lần (sáng trước khi ăn và tối trước khi ngủ), mỗi lần 40 giọt (tương đương với 1 thìa cà phê nhỏ). (4) Lấy 500g tỏi bóc vỏ, đem hấp trong 20 phút để làm mất mùi, sau khi nguội cho vào trong lọ sứ ngâm với 2500 ml rượu trắng và 500g đường phèn, bịt kín miệng, để nơi thoáng mát, sau 30 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 20 - 25 ml.
   * Siro tỏi
     Có nhiều cách chế siro tỏi : (1) Lấy 100g tỏi bóc vỏ, giã nát rồi đem ngâm trong 200 ml dấm gạo, chế thêm 100g đường đỏ, ngâm trong bình kín, sau 10 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 2 - 3 lần, mõi lần 10 ml. (2) Dùng 500g tỏi bóc vỏ, rửa sạch, giã nát, ép lấy nước rồi pha với 300 ml siro đường đơn (monosaccharide) và 2 ml acid acetic, dùng nước cất pha loãng cho đến 1000 ml là được. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 10 ml. (3) Lấy 50g tỏi vỏ tím, bóc vỏ rồi ngâm vơi nước ấm 38°C trong 2 giờ, sau đó dùng vải màn sạch lọc lấy nước, chế thêm một lượng siro đơn vừa phải, cho vào lọ để trong tủ lạnh dùng dần, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 20 - 30 ml. (4) Dùng 100 ml nước tỏi vỏ tím 20% pha với 40 ml nước lá trà tươi 20% và 60 ml siro đường đơn. Người lớn uống mỗi lần 10 - 15 ml, trẻ em trên 10 tuổi mỗi lần 10 ml, trẻ em dưới 10 tuổi mỗi lần 5 ml, trẻ em 2 - 3 tuổi mỗi lần 2,5 ml.
   * Trà tỏi
     Tỏi 15g, sơn tra 30g, thảo quyết minh 10g. Tỏi bóc vỏ, rửa sạch, thái mỏng rồi đem hãm với nước sôi trong bình kín cùng với sơn tra và thảo quyết minh, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : hạ mỡ máu, giảm huyết áp, chống béo phì, tiêu thực tích.

                                                                                    Hoàng Khánh Toàn


Thứ Tư, ngày 08 tháng 6 năm 2016

DỨA DẠI CÓ CÔNG DỤNG GÌ ?

DỨA DẠI CÓ CÔNG DỤNG GÌ ?



    Gần đây, trong dân gian người ta nói nhiều đến cây dứa dại với các bộ phận của nó như hoa, quả, lá non và rễ để làm thuốc. Những ai đi tham quan Yên tử, Hương tích…thường không quên mua về một ít quả dứa dại khô nghe nói là có thể chữa được các bệnh viêm gan, sỏi thận, phù thũng, tiểu buốt...Vậy, dứa dại là gì và trong y học cổ truyền nó được sử dụng làm thuốc ra sao ? Nội dung bài viết dưới đây sẽ giúp bạn đọc có thêm hiểu biết về vấn đề này.
    Dứa dại, tên khoa học là Pandanus tectorius Sol., trong dân gian còn gọi là dứa gai, dứa gỗ, lộ đâu lặc, lâm trà, lục cổ, cò len (Thái), pán tày (Tày)..., là một loại cây thảo phân nhánh ở ngọn, cao 1- 2 m, có rất nhiều rễ phụ thả xuống đất. Lá mọc ở đầu nhánh thành chùm, hình bản dài 30- 80 cm, gân giữa và mép có gai sắc. Cụm hoa có mo bao bọc, mo ngoài dạng lá nhưng ngắn hơn nhiều. Quả phức, đơn độc, gồm khoảng 80 quả hạch mang vòi nhuỵ tồn tại. Cây mọc hoang hoặc được trồng ở nhiều nơi để làm hàng rào. Trong y học cổ truyền, lá non, hoa, quả và rễ dứa dại được dùng làm thuốc.
      @ Lá non (đọt non) : Theo các y thư cổ như Bản thảo cầu nguyên, Sinh thảo dược tính bị yếu..., đọt non dứa dại vị ngọt, tính lạnh ; có công dụng thanh phong, tán nhiệt độc, lương huyết, cầm máu, sinh cơ ; được dùng để chữa các chứng bệnh như sởi, ban chẩn, đơn độc, thử nhiệt, chảy máu chân răng, mụn nhọt độc lở loét máu mủ đầm đìa...Ví dụ, để chữa viêm loét cẳng chân kinh niên, sách Lĩnh nam thái dược lục dùng đọt non dứa dại và đậu tương giã nát, đắp vào tổn thương ; với các vết loét sâu gây thối xương dùng đọt non dứa dại giã đắp để hút mủ ; để thanh tâm giải nhiệt, làm hết tình trạng trong ngực nóng nẩy, bồn chồn, tay chân vật vã không yên, sách Lục xuyên bản thảo dùng đọt non dứa dại 2 lạng ta, xích tiểu đậu 1 lạng ta, đăng tâm thảo 3 con, búp tre 15 cái, sắc uống. Kinh nghiệm dân gian còn dùng đọt non dứa dại 15 - 20g sắc uống để chữa đái rắt, đái buốt, đái ra máu, đái ra sỏi và thủy thũng hoặc giã nát đắp đầu đinh, bó gãy xương, chữa lòi dom...
      @ Hoa :  Thường được thu hái vào mùa hè, mùi khá thơm, có chứa nhiều tinh dầu với thành phần gồm Methyl phenylethyl ether 65,97%, Dipentene 8,31%, d-Linalool 18,71%, Phenylethyl acetate 3,48%, Citral 1,82 %. Ngoài ra, còn chứa Stearoptene, ester of phthalic acid...Theo y học cổ truyền, hoa dứa dại vị ngọt, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt, lợi thủy, trừ thấp nhiệt, chỉ nhiệt tả, được dùng để chữa các chứng bệnh như sán khí (thoát vị bẹn hoặc thoát vị bìu, đau từ bìu dái lan lên bụng dưới), lâm trọc (đái buốt, đái đục), tiểu tiện không thông, đối khẩu sang (nhọt mọc ở gáy chỗ ngang với miệng), cảm mạo khái thấu...Ví dụ, để chữa ho do cảm mạo, sách Quảng đông trung thảo dược dùng hoa dứa dại 4 - 12g sắc uống. Thông thường liều dùng uống trong từ 10 - 30g, dùng ngoài thì tán thành bột rắc lên tổn thương.
      @ Quả :  Thường thu hoạch vào mùa thu, tách riêng các quả hạch sấy hoặc phơi khô dùng dần. Theo sách Cương mục thập di, quả dứa dại có công dụng bổ tỳ vị, cố nguyên khí, chế phục cang dương (khí dương không có khí âm điều hòa, bốc mạnh lên mà sinh bệnh), làm mạnh tinh thần, ích huyết, khoan bĩ (làm hết bế tắc), tiêu đàm, giải ngộ độc rượu, làm nhẹ đầu sáng mắt, khai tâm ích trí...; được dùng để chữa nhiều chứng bệnh như sán khí, tiểu tiện bất lợi, đái đường, bệnh lỵ, trúng nắng, mắt mờ, mắt hoa...Ví dụ, để chữa bệnh lỵ dùng quả dứa dại 30 - 60g sắc uống ; để chữa chứng mờ mắt, nhặm mắt sách Bản thảo thập di dùng quả dứa dại ngâm mật ong uống liền trong một tháng ; để chữa trúng nắng sách Lĩnh nam thái dược lục dùng hoa hoặc quả dứa dại sắc uống ; để chữa đái buốt, đái rắt, đái đục...kinh nghiệm dân gian dùng quả dứa dại khô 20 - 30g thái vụn hãm uống thay trà trong ngày. Có nơi còn dùng quả dứa dại ngâm rượu uống để bồi bổ cơ thể.
      @ Rễ :  Còn gọi là lộ đâu lặc cương, lặc giác cương, lộ đâu căn..., được thu hái quanh năm, rửa sạch, thái phiến, phơi hoặc sấy khô dùng dần, trong thành phần có chứa Carbohydrate, Phenols, Amino acid...Theo y học cổ truyền, rễ dứa dại vị ngọt đạm, tính mát, có công dụng phát hãn (làm ra mồ hôi), giải nhiệt (hạ sốt), lợi thủy hóa thấp ; được dùng để chữa các chứng bệnh như cảm mạo, sốt dịch, viêm gan, viêm thận, viêm đường tiết niệu, phù thũng, đau mắt đỏ, thương tổn do trật đả...Ví dụ, để chữa phù thũng, xơ gan cổ trướng, kinh nghiệm dân gian thường dùng rễ dứa dại 30 - 40g phối hợp với rễ cỏ xước 20 - 30g, cỏ lưỡi mèo 20 - 30g sắc uống ; để chứa thương tổn do trật đả dùng rễ dứa dại tươi không kể liều lượng, giã nát đắp. Có người cho rằng dùng rễ non chưa bám đất thì tốt hơn.

                                                                                  ThS Hoàng Khánh Toàn


Thứ Ba, ngày 31 tháng 5 năm 2016

CHƯÃ CHAI CHÂN MẮT CÁ BẰNG ĐÔNG Y

ĐÔNG Y CHỮA BỆNH CHAI CHÂN


     Chai chân (clavus), hay còn gọi là mắt cá chân, là tình trạng tăng sinh dày lớp thượng bì nhất là lớp sừng, thường gặp ở các điểm tì ép nhiều trong lòng bàn chân như gót chân, các điểm đối diện với ngón chân 3 và 5, có khi ở lưng ngón chân. Tổn thương nổi thành từng đám dày sừng, màu vàng xẫm, ở giữa có ‘‘nhân’’, ấn vào đau chói. Bệnh không nguy hiểm nhưng gây nhiều phiền toái vì ảnh hưởng đến việc đi lại do đau đớn, đặc biệt là mắt cá ở gót chân.
     Để chữa trị bệnh này, tây y thường băng mỡ salixilic 5 - 20%, gọt bỏ lớp sừng, đốt điện hoặc khoét bỏ bằng phẫu thuật nhưng chỉ mang lại kết quả tạm thời, nhiều khi vẫn tái phát hoặc để lại sẹo xơ hoá to hơn, ấn vào vẫn đau chói.
     Trong đông y, chai chân thuộc phạm vi các chứng bệnh như Nhục chích, Kê nhãn..., được xử lý đơn giản bằng một số phương pháp như :
- Hồng hoa 3g, địa cốt bì 6g, tán bột trộn với dầu vừng và một chút bột mì thành dạng cao rồi đắp lên tổn thương.
- Ô mai 30g sấy khô, tán vụn, đem ngâm với 250 ml giấm chua trong 2 tuần rồi lấy dịch thuốc bôi vào tổn thương mỗi ngày 3 lần.
- Trần bì 15g, cẩu tích 30g, uy linh tiên 30g, địa phu tử 30g, hồng hoa 10g, sắc lấy nước ngâm chân khi còn nóng, mỗi ngày 2 lần. Mỗi thang có thể dùng 3 - 4 lần.
- Bột huyết kiệt 5g, bột đá vôi lượng vừa đủ, hai thứ đem hoà với 100 ml nước muối đặc thành dạng cao rồi đắp lên tổn thương, dùng băng y tế cố định trong 24 giờ. Sau đó, tháo băng, gỡ bỏ cao thuốc, bóc hết chai rồi dùng mật quạ bôi một lớp mỏng trong 24 giờ. Một nghiên cứu của Trung Quốc tién hành trên 100 ca đều đạt kết quả tốt.
- Giấy cũ nát 30g đem ngâm với 50 ml rượu tốt, sau 7 ngày thì dùng được. Trước tiên gọt bỏ lớp sừng dày rồi bôi dịch thuốc, mỗi ngày 2 lần, chừng 7 ngày thì khỏi.
- Trước tiên, rửa sạch tổn thương, sát khuẩn bằng cồn y tế rồi dùng dao lam nhẹ nhàng gọt bỏ lớp sừng dày. Sau đó, lấy lá lô hội tươi thái phiến mỏng đắp lên tổn thương và dùng băng cố định , mỗi ngày thay thuốc 2 lần, làm liên tục cho đến khi khỏi.
- Phèn phi 10g, hoàng đan 10g, phác tiêu 10g, ba thứ tán bột, trộn đều. Trước tiên, dùng mũi dao khoét 1 lỗ ở trung tâm tổn thương, sau đó dùng bột thuốc rắc đầy và cố định bằng băng y tế, mỗi ngày thay thuốc 1 lần.
- Tỏi vỏ tím 1 củ, hành tươi 1 củ, giấm chua vừa đủ. Trước tiên, dùng cồn y tế sát trùng rồi lấy dao lam nhẹ nhàng gọt bỏ lớp sừng dày. Tiếp đó, ngâm chân bằng nước muối trong 20 phút (200 ml nước chín pha với 5g muối) rồi dùng tỏi và hành giã nát trộn với giấm chua đắp lên tổn thương, cố định bằng băng y tế, mỗi ngày thay thuốc 1 lần, thông thường 5 đến 7 ngày là khỏi.
- Ngô công sống (con rết) 1 con rửa sạch, giã nát đem trộn với 1,5g lưu hoàng rồi đắp lên tổn thương, mỗi ngày thay thuốc 1 lần, thường sau 3 đến 4 lần là khỏi. Có thể thay lưu hoàng bằng băng phiến 1g.
- Ô mai 30g, muối ăn 3g, giấm lâu năm lượng vừa đủ. Ô mai đem ngâm vào nước muối trong 1 ngày rồi bỏ hạt, giã nát, trộn với giấm thành dạng hồ và đắp lên tổn thương, mỗi ngày thay thuốc 1 lần, thường sau 3 lần là khỏi.
- Trước tiên, ngâm chân bằng nước ấm rồi dùng dao lam nhẹ nhàng gọt bỏ lớp sừng dày. Sau đó, lấy mật quạ bôi lên tổn thương, dùng băng cố định bên ngoài, 3 đến 4 ngày thay thuốc 1 lần.
- Ngô công sống 1 con, dầu vừng lượng vừa đủ. Đem ngô công ngâm vào dầu vừng trong 2 ngày rồi lấy ra giã nát và đắp lên tổn thương, thường sau 1 đêm lớp chai chân sẽ bong ra.
- Lấy 1 miếng sáp ong đắp lên tổn thương rồi dùng băng cố định bên ngoài, thường sau vài ngày lớp chai chân sẽ bong ra, nếu 1 lần chưa có hiệu quả thì làm thêm một lần nữa.
- Lấy 30g phá cố chỉ tán nhỏ đem ngâm với 100 ml cồn 95% trong lọ thuỷ tinh, bịt kín miệng, mỗi ngày lắc đều 1 lần, sau 10 ngày thì dùng được. Trước tiên, sát trùng tổn thương bằng cồn y tế rồi dùng dao lam nhẹ nhàng gọt bỏ lớp sừng dày sao cho không chảy máu là được, tiếp đó dùng bông thấm dịch thuốc đắp lên vùng bị chai, cố định cho đến khi khô thì thôi, mỗi ngày làm 1 lần, thường sau 5 đến 7 ngày là khỏi.


                                                                                             Hoàng Khánh Toàn

Thứ Năm, ngày 19 tháng 5 năm 2016

TRÀ DƯỢC CHỐNG MỆT MỎI SAU LAO ĐỘNG

TRÀ DƯỢC CHỐNG MỆT MỎI SAU LAO ĐỘNG


     Lúc giả lao hay sau một ngày làm việc căng thẳng, mệt mỏi có nhiều cách để phục hồi sức khỏe như chơi thể thao, tập khí công dưỡng sinh, ăn uống bồi bổ sức lực, nằm hoặc ngồi thư giãn..., trong đó có một phương pháp còn ít người biết đến là sử dụng các món trà dược của y học cổ truyền. Nói là trà bởi vì cách sử dụng của nó cũng tương tự như pha trà uống hàng ngày chứ không nhất thiết trong thành phần phải có trà búp, trà mạn thực thụ. Người ta thường căn cứ vào tính chất công việc, thời tiết và thể chất của người dùng để lựa chọn loại trà dược nào cho phù hợp nhằm thu được hiệu quả cao nhất. Có thể dẫn ra vài loại điển hình như sau :
* Độc sâm trà : Nhân sâm thái phiến hoặc nghiền vụn, mỗi ngày dùng 3-9g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Nếu không có sâm củ thì dùng trà sâm đóng gói thay thế. Công dụng : bổ khí cường thân, hồi phục sinh lực sau lao động rất tốt, đặc biệt là lao động chân tay. Người bị cao huyết áp cần thận trọng khi dùng loại trà này.
* Nhân sâm đại táo trà : Nhân sâm 3-5g thái phiến, đại táo 10 quả bỏ hạt, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : bổ khí sinh huyết, chống mệt mỏi sau lao động nặng.
* Nhân sâm liên tử trà : Nhân sâm 6g thái phiến, liên tử (hạt sen) 10g đập vụn ngâm trong nước 30 phút, cho thêm đường phèn vừa đủ rồ đem hấp cách thủy, sau 1 giờ thì dùng được, uống nước ăn cái trong ngày. Công dụng : bổ tỳ ích phế, cường tráng thân thể.
* Tăng dịch ích âm trà : Huyền sâm 15g, mạch môn 12g, sa sâm 12g, sinh địa 12g, ngọc trúc 12g. Các vị thuốc thái phiến hoặc nghiền vụn rồi hãm với nước sôi trong bình kín trong 15 phút, uống thay trà trong ngày. Công dụng : dương âm sinh tân, nhuận táo, dùng rất tốt cho những người lao động trong điều kiện năng nóng, háo khát do mất mồ hôi nhiều. Những người tỳ hư đi lỏng không nên dùng loại trà này.
* Thanh hao mai đông trà : Thanh hao 15g, ô mai 7g, mạch môn 10g, lá sen tươi 9g. Các vị nghiền vụn hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : thanh nhiệt khứ thử, sinh tân chỉ khát, dùng rất tốt cho những người lao động trong mùa hè nắng nóng, môi khô, miệng khát, ra mồ hôi nhiều. Những người có thể chất tỳ vị hư hàn hay đi lỏng thì không nên dùng.
* Hoàng kỳ táo khương trà : Hoàng kỳ sao 10g, đại táo 3 quả bỏ hạt, gừng tươi 2 lát. Các vị thuốc nghiền vụn hãm với nước sôi trong 15 phút, uống thay trà trong ngày. Công dụng : ích khí phù chính, hòa dinh cố biểu, dùng rất tốt cho những người làm việc trong thời tiết gió rát, băng giá dễ bị cảm mạo.
* Quế chi cam thảo trà : Quế chi 10g, cam thảo sống 5g nghiền vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : ôn bổ tâm dương, hòa dinh ích khí, dùng rất tốt cho những người lao động ngoài trời vào mùa đông hoặc công nhân nhà máy nước đá, đông lạnh. Những người có chứng viêm nhiệt không nên dùng loại trà này.
* Ngũ vị táo nhân kỷ tử trà : Ngũ vị tử 6g, toan táo nhân sao đen 6g. Các vị nghiền vụn hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : định tâm an thần, kiện não ích trí, dùng rất tốt cho những người lao động trí óc dễ căng thẳng thần kinh.
* Thủ ô đan sâm trà : Hà thủ ô chế 25g, đan sâm 25g, mật ong lượng vừa đủ. Các vị thuốc tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : ích thận bổ can, hoạt huyết hóa ứ rất tốt, dùng cho những người bị thiểu năng mạch vành, cao huyết áp. Những người huyết áp thấp không nên dùng loại trà này.
* Ba kích đỗ trong ngưu tất trà : Ba kích 20g, ngưu tất 15g, đỗ trọng 20g, ngũ vị tử 9g. Các vị nghiền vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : ôn bổ can thận, làm mạnh gân cốt, dùng rất tốt cho những người lao động cơ bắp phải bê vác, vận động cột sống nhiều.
     Ngoài công dụng chống mệt mỏi do lao động, các loại trà dược nói trên, nếu dùng thường xuyên, còn góp phần chữa trị các chứng bệnh mạn tính. Nhìn chung, tất cả đều đơn giản, rẻ tiền, dễ kiếm và dễ dùng.


                                                                                  Hoàng Khánh Toàn

Chủ Nhật, ngày 15 tháng 5 năm 2016

HẠT DƯA HẤU CÓ CÔNG DỤNG GÌ ?

HẠT DƯA HẤU CÓ CÔNG DỤNG GÌ ?


      Dưa hấu là một trong những loại hoa quả thông dụng trong đời sống người Việt, nhất là vào mùa hè nóng nực với công dụng thanh nhiệt giải thử, trừ phiền chỉ khát, lợi tiểu tiện và được coi là thứ quả có tác dụng thanh nhiệt tả hỏa tựa như cổ phương trứ danh Bạch hổ thang. Thông thường, người ta chỉ dùng ruột của quả dưa hấu mà không biết rằng hạt của nó cũng có giá trị tăng cường sức khỏe và phòng chống bệnh tật.
     Theo dược học cổ truyền phương Đông, hạt dưa hấu vị ngọt, tính mát khi chưa rang chín và tính bình sau khi đã rang, có công dụng thanh phế nhuận tràng, hòa trung chỉ khát, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như : (1) Ho khạc nhiều đờm dùng hạt dưa hấu bóc vỏ ăn sống hoặc lấy 20g hạt sức lấy nước uống ; (2) Ho kéo dài dùng hạt dưa hấu giã nát 15g, lạc nhân 15g, hoa hồng 1,5g, đường phèn 30g, sắc lấy nước uống và ăn lạc nhân ; (3) Huyễn vựng, đầu thống (cao huyết áp) dùng hạt dưa hấu ăn sống hoặc sau khi rang chín lúc bụng đói ; (4) Đa kinh (kinh nguyệt quá nhiều dùng nhân hạt dưa hấu 9g nghiền vụn chiêu uống với nước ấm mỗi ngày 2 lần ; (5) Thổ huyết (nôn ra máu) dùng 50g hạt dưa hấu tươi sắc lấy nước uống ; (5) Viêm bàng quang cấp tính dùng 40g hạt dưa hấu sắc uống…Ngoài ra, hạt dưa hấu còn được dùng để hỗ trợ tiêu hóa và bổ dưỡng cơ thể.
     Kết quả nghiên cứu của y học hiện đại cho thấy, cứ trong mỗi 100g hạt dưa hấu có chứa 10g protid, 11g lipid, 4g glucid, cung cấp 160 calo. Điều đặc biệt là loại hạt này chứa nhiều acid béo không bão hòa như acid linoleic, giàu acid amin thiết yếu như tryptophan, acid glutamic, lysine, arginine…; các loại vitamin như vitamin B1, B2, B6, B12, E, PP…, nhất là vitamin B3 (trong một lon hạt dưa có chứa 3,8mg niacin, tức 19% hàm lượng cần thiết trong ngày, có chức năng duy trì hoạt động của hệ thần kinh, hệ tiêu hóa và sức khỏe của da ; các nguyên tố vi lượng như Ca, Fe, P, Se, Mg…và các hoạt chất như lycopene có lợi cho đời sống tình dục, cucurbecitrin có tác dụng hạ huyết áp và chống viêm bàng quang…Bởi vậy, hạt dưa hấu có khá nhiều công dụng :
- Bổ dưỡng cơ thể do thành phần dinh dưỡng khá phong phú, đặc biệt là giàu đạm và các vitamin.
- Có lợi cho tim mạch, giúp hạ huyết áp, giảm cholesterol máu, ngăn ngừa tích cực tình trạng vữa xơ động mạch do có nhiều vitamin nhóm B, magiê và acid linleic.
- Hỗ trợ tiêu hóa, phòng ngừa chứng táo bón do chứa nhiều chất xơ.
- Giúp tăng cường trí nhớ, nâng cao chức năng não-thần kinh, nhanh chóng phục hồi sức hoạt động của tế bào não.
- Giúp kiểm soát bệnh tiểu đường. Người ta thường dùng trà hạt dưa hấu bằng cách hãm 2-3 muỗng cà phê hạt dưa hấu trong 2-3 cốc nước trong khoảng 30-45 phút. Loại trà này được tin rằng có khả năng kiểm soát lượng đường trong máu và bệnh tiểu đường.
- Giúp ổn định men gan và lượng lipid huyết thanh rất có ích cho người bị viêm gan và những người bị rối loạn lipid máu.
- Giúp giải độc cho cơ thể bằng cách dùng trà hạt dưa hấu và uống 3 ly mỗi ngày để giúp thanh lọc cơ thể và tăng cường sức khỏe.
- Chống phù nề bằng cách trộn một muỗng cà phê bột ​​hạt giống dưa hấu với mật ong, chế thêm một chút nước lọc, quấy đề rồi uống, mỗi ngày 2 lần.
- Làm giảm ho bằng cách lấy hạt dưa hấu 20 g sắc đặc để uống, mỗi ngày 2 lần.
- Cải thiện đời sống tình dục. Với hàm lượng lycopene và vitamin cao, hạt dưa hấu rất tốt cho đời sống tình dục. Chúng làm tăng khả năng sinh sản ở nam giới, duy trì hoạt động của hệ thần kinh và tăng cường sự bền bỉ trong dương sự.
- Hỗ trợ trị liệu phì đại tiền liệt tuyến lành tính. Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí European Journal cho thấy lợi ích của hạt giống dưa hấu trong điều trị phì đại tuyến tiền liệt. Có thể dùng bằng cách đổ hai muỗng canh bột hạt dưa hấu khô trong nửa lít nước sôi, để khoảng nửa giờ và sử dụng thường xuyên để hỗ trợ điều trị căn bệnh này.
     Cuối cùng, hạt dưa hấu còn có giá trị về văn hóa. Hạt dưa là một món ăn nhâm nhi trong ngày Tết, ngày Lễ của người Việt Nam, đây là món chủ nhà đãi khách trong dịp Lễ Tết. Nguyên liệu chính của món hạt dưa đơn giản là chỉ từ những hạt của các loại dưa nhưng chủ yếu là dưa hấu. Hạt dưa hấu được tách ra và nướng lên làm phần bên trong hạt chín. Khi thưởng thức, người ra sẽ dùng răng (thường là răng cửa) cắn mạnh vào đầu hạt dưa và tách làm đôi hạt dưa để ăn phần lõi màu vàng bên trong gọi là chíp hạt dưa hay cúp hạt dưa. Thực khách vừa nhâm nhi hạt dưa vừa uống trà, trò chuyện giúp không khí  ngàyTết, ngày Lễ thêm sinh động. Nhân hạt dưa có vị béo, thơm khá đặc trưng. Màu hồng đỏ của hạt dưa nhuộm bằng phẩm màu thực phẩm thường đem lại sắc hồng tươi thắm cho đôi môi. Đây cũng là một nét văn hóa đặc sắc của người Việt Nam. Không chỉ lễ Tết, ngày nào trong năm cũng có hạt dưa đỏ để ăn. Vào quán trà chén ven đường phố cũng có món hạt dưa, vào các nhà hàng cũng có món hạt dưa. Sinh nhật, cưới hỏi, người ta cũng dùng cúp hạt dưa.
     Tuy hạt dưa là món ăn ngon và vui trong ngày Tết nhưng cũng có nhiều cảnh báo về những nguy cơ khi ăn hạt dưa như một số nơi phát hiện hạt dưa có chất gây ung thư do được nhuộm bằng phẩm màu công nghiệp. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, có trong màu công nghiệp là chất độc có thể ngộ độc hoặc gây ung thư nếu dùng lâu dài nên bị cấm sử dụng trong thực phẩm.

                                                                                     Hoàng Khánh Toàn


Thứ Năm, ngày 12 tháng 5 năm 2016

ĐÔNGY TRỊ LIỆU BÊNH HÔ HẤP TRẺ EM

ĐÔNG Y TRỊ LIỆU BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP TRẺ EM


     Bệnh lý đường hấp ở trẻ em là hết sức thường gặp, phức tạp và dễ gây biến chứng, thậm chí có thể tử vong. Có thể kể ra những căn bệnh chính như viêm đường hô hấp trên,  viêm khí phế quản cấp tính, viêm phổi, viêm phế quản thể hen, hen phế quản…Với những tiến bộ khoa học y học vượt bậc, tây y đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc phòng chống bệnh lý đường hô hấp cho trẻ. Tuy nhiên, với không ít trường hợp, ở trong những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, đông y vẫn có một vai trò quan trọng trên cơ sở thực hành  nhiều biện pháp dùng thuốc và không dùng thuốc theo quan điểm “biện bệnh luận trị” hoặc “biện chứng luận trị”, trong đó phương thức biện chứng luận trị vẫn là cơ bản.

1. Viêm đường hô hấp trên cấp tính
     Viêm đường hô hấp trên cấp tính  không phải là một bệnh đơn lẻ mà là tổng hợp các bệnh do bị cảm lạnh, viêm mũi, viêm họng, viêm xoang, viêm thanh quản….với triệu chứng dể nhận biết như sốt cao, hắt hơi sổ mũi, chảy nước mũi, đau rát họng, ho, khàn tiếng, đau mỏi toàn thân….Trong đông y, nhóm bệnh này thuộc phạm vi các chứng như cảm mạo, khái thấu, nhũ nga, hầu tý…với nguyên nhân chủ yếu là do phong hàn, phong nhiệt gây nên. Chẩn trị cụ thể như sau :
* Với thể Ngoại cảm phong hàn
- Triệu chứng : Sợ lạnh, không ra mồ hôi, đau đầu, nghẹt mũi, chảy nước mũi, ngứa họng, ho, không sốt hoặc sốt nhẹ , lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch khẩn
- Phép chữa : Tân ôn giải biểu, tuyên phế tán hàn
- Bài thuốc : Tô kiều giải biểu thang gồm các vị : tô diệp 6g, kinh giới 6g (cho sau), phòng phong 6g, kim ngân hoa 10g, liên kiều 10g, cát cánh 8g, tiền hồ 8g, cam thảo 3g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Ngoại cảm phong nhiệt
- Triệu chứng : Phát sốt, ra mồ hôi, nghẹt mũi, chảy nước mũi, đau đầu, đau mình mẩy, hầu họng đỏ đau, ho khạc đờm vàng, mặt đỏ, họng khô, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch phù sác.
- Phép chữa : Tân lương giải biểu, tuyên phế chỉ khái lợi hầu
- Bài thuốc : (1) Nếu họng đau nhiều, sốt cao dùng bài Liên kiều tán gia giảm gồm : liên kiều 10g, kim ngân hoa 10g, cát cánh 8g, bạc hà 5g, trúc nhự 6g, kinh giới 6g (cho sau), đạm đậu xị 6g, ngưu bàng tử 5g, cam thảo 5g, bản lam căn 10g, hoàng cầm 7g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. (2) Nếu ho nhiều dùng bài Tang cúc ẩm gia giảm gồm : tang diệp 10g, cúc hoa 10g, liên kiều 10g, hạnh nhân 8g, cát cánh 8g, bạc hà 5g (cho sau), cam thảo 3g, bản lam căn 10g, hoàng cầm 7g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Kiêm chứng
     Bất luận là ngoại cảm phong hàn hay phong nhiệt nếu có kiêm các chứng đàm, trệ hoặc co giật thì gia thêm các vị thuốc, cụ thể như sau :
+ Ngoại cảm kiêm đàm có ho khạc đờm nhiều, tiếng ho trầm nặng, khàn tiếng, đại tiện táo, tiểu tiện vàng gia thêm qua lâu nhân 10g, đông qua nhân 10g, sa sâm 12g, mạch môn 8g, bối mẫu 6g.
+ Ngoại cảm kiêm trệ có hiện tượng bụng chướng đầy, chán ăn, buồn nôn và nôn ra nước chua, đi lỏng, mùi chua và khó chịu, hơi thở hôi gia thêm hoắc hương 6g, (cho sau), chỉ xác 6g, lai phục tử 10g, cốc nha 12g
+ Ngoại cảm kiêm co giật gia thêm câu đằng 8g, thuyền thoái 5g, linh dương cốt 10g, (sắc trước), toàn yết 3g.

2. Viêm khí phế quản cấp tính
     Trong đông y, viêm khí phế quản cấp tính thuộc phạm vi chứng khái thấu thường do phong hàn và phong nhiệt gây nên. Chẩn trị cụ thể như sau :
* Với thể Phong hàn khái thấu
- Triệu chứng : Ho nhiều, khạc đờm trong loãng, chảy nước mũi trong, sợ lạnh, không vã mồ hôi, sốt, đau đầu, ngứa họng, mình mẩy đau nhức nặng nề, chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch nhu khẩn\
- Phép chữa : Sơ phong tán hàn, tuyên phế chỉ khái, hóa đàm
- Bài thuốc : Dùng bài Chỉ khái tán gia giảm gồm : tử uyển 8g, cát cánh 8g, bạch tiền 8g, bách bộ 10g, kinh giới 6g (cho sau), trần bì 3g, bán hạ chế 8g, ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, cam thảo 3g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Phong nhiệt khái thấu
- Triệu chứng : Phát sốt, ho tiếng nặng, đờm nhiều vàng dính và khó khạc, miệng khô họng đau, mồ hôi dâm dấp, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch phù sác
- Phép chữa : Sơ phong thanh nhiệt, tuyên phế chỉ khái
- Bài thuốc : Dùng bài Tang cúc ẩm hợp với bài Ma hạnh thạch cam thang gia giảm, gồm các vị : ma hoàng 3g, thạch cao 18g, hạnh nhân 8g, cam thảo 5g, hoàng cầm 8g, liên kiều 10g, cát cánh 8g, qua lâu nhân 10g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.

3. Viêm phổi
     Trong đông y, viêm phổi thuộc phạm vi các chứng như phong ôn, khái suyễn, mã tỳ phong…với nguyên nhân là do chính khí suy nhược, công năng tạng phủ rối loạn khiến tà khí bên ngoài xâm nhập sâu vào phần “lý” (bên trong) mà gây thành bệnh. Chẩn trị cụ thể như sau :
* Với thể Phong tà bế phế
- Triệu chứng : Phát sốt, ho, khó thở, khạc đờm trắng loãng, không có mồ hôi, không khát, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù khẩn hoặc phù sác.
- Phép chữa : Tân ôn giải biểu, tuyên phế hóa đàm
- Bài thuốc : Dùng bài Tam ảo thang gia giảm gồm : ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, trần bì 3g, bán hạ chế 8g, kinh giới tuệ 6g (cho sau), bạch giới tử 8g, lai phục tử 10g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Phong nhiệt bế phế
- Triệu chứng : Sốt cao, ho nhiều, khó thở, vã mồ hôi, miệng khát, ngực đau, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác
- Phép chữa : Tân lương giải biểu, tuyên phế hóa đàm
- Bài thuốc : Dùng bài Ma lâu thang gia giảm gồm : ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, thạch cao 12g, cam thảo 5g, qua lâu nhân 10g, lai phục tử 10g, hoàng cầm 10g, liên kiều 10g, săc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Phong ôn bế phế
- Triệu chứng : Ho và khó thở nhiều, tắc mũi, sốt cao, vã mồ hôi, phiền khát, đau ngực, môi miệng xanh tím, đờm vàng dính, lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch sác.
- Phép chữa : Thanh nhiệt giải biểu, tuyên phế bình suyễn
- Bài thuốc : Dùng bài Ngũ hổ thang hợp với Tam hoàng thạch cao thang gia giảm gồm các vị : ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, thạch cao 12g, cam thảo 5g, hoàng cầm 10g, hoàng liên 3, ngưu bàng tử 6g, lai phục tử 10g, tang bạch bì 10g, hoàng bá 8g, sắc uống mỗi ngày 1 thang
* Với thể Đàm nhiệt bế phế
- Triệu chứng : Ho và khó thở nhiều, sốt cao, môi khô miệng khát, khạc đờm nhiều màu vàng và dính, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu vàng dính, mạch khẩn sác.
- phép chữa : Thanh nhiệt tuyên phế, dục đàm bình suyễn
- Bài thuốc : Dùng bài Ma hạnh thạch cam thang hợp với Đình lịch đại táo tả phế thang gia giảm gồm : ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, thạch cao 15g, cam thảo 5g, ngư tinh thảo 15g, ngưu bàng tử 6g, thiên trúc hoàng 8g, tang bạch bì 10g, hầu táo tán 1g (uống cùng nước thuốc sắc), sắc uống mỗi ngày 1 thang, uống thêm trúc lịch lượng vừa đủ.

4. Viêm phế quản thể hen và hen phế quản
     Trong đông y, hai bệnh lý này thuộc phạm vi các chứng như háo chứng, suyễn chứng, nguyên nhân do chính khí hư suy, công năng tạng phủ rối loạn, đặc biệt là Phế, Tỳ và Thận, tà khí thừa cơ xâm nhập mà gây nên bệnh. Chẩn trị cụ thể như sau:
* Trong giai đoạn phát bệnh
- Với thể Hàn chứng
+ Triệu chứng : Ho và khó thở thành cơn, có khi phải ngồi dậy để thở, có nhiều tiếng rít trong khí quản, đờm trong loãng, sắc mặt nhợt nhạt, tay chân lạnh, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng loãng, chất lưỡi nhợt, rêu trắng mỏng, mạch hoạt khẩn.
+ Phép chữa : Ôn phế tán hàn, giáng khí bình suyễn
+ Bài thuốc : Dùng bài Tiểu thanh long thang hợp Tam tử dưỡng tân thang gia giảm gồm : can khương 1,5g, quế chi 3g, ma hoàng 3g, bạch thược 10g, tế tân 1,5g, bán hạ chế 8g, ngũ vị tử 5g, tô tử 8g, bạch giới tử 5g, lai phục tử 10g, cam thảo 5g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
- Với thể Nhiệt chứng
+ Triệu chứng : Ho và khó thở thành cơn, nhiều đờm rãi, có thể có sốt, đờm vàng, tức ngực buồn phiền, khát nước muốn uống, tiểu tiện vàng, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ, rêu vàng dính, mạch hoạt sác.
+ Phép chữa : Thanh nhiệt tuyên phế, hóa đàm định suyễn
+ Bài thuốc : Dùng bài Định suyễn thang gia thạch cao gồm các vị ma hoàng 3g, ngân hạnh 10g, hoàng cầm 8g, tang bạch bì 10g, tô tử 8g, bán hạ chế 10g, khoản đông hoa 10g, hạnh nhân 8g, cam thảo 5g, thạch cao 15g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Trong giai đoạn hồi phục
- Triệu chứng : ho và khó thở nhẹ, khạc đờm loãng, sắc mặt không tươi, mệt mỏi vô lực, cơ thể tiều tụy gầy yếu, ăn kém, bụng đầy, đại tiện lỏng loãng, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch nhu vô lực.
- Phép chữa : Bổ phế kiện tỳ ôn thận
- Bài thuốc : Dùng bài Bổ phế kiện tỳ ôn thận thang gồm : đẳng sâm 10g, thục địa 10g, ngũ vị tử 3g, khoản đông hoa 8g, bạch linh 12g, hoài sơn 12g, hồ đào nhục 12g, thỏ ty tử 10g, , địa long 6g, chích thảo 3g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
     Ngoài việc dùng thuốc, với tất cả các bệnh lý đường hô hấp trẻ em đều có thể kết hợp với châm cứu, xoa bóp, tập thở, sử dụng các món ăn-bài thuốc phù hợp với tuổi, thể chất và mức độ bệnh.

                                                                                  Hoàng Khánh Toàn