Thứ Năm, 10 tháng 5, 2018

ĐÔNG Y CHỮA TRÀO NGƯỢC THỰC QUẢN


ĐÔNG Y CHỮA VIÊM THỰC QUẢN TRÀO NGƯỢC


     Viêm thực quản trào ngược, hay còn gọi là bệnh trào ngược dạ dày-thực quản (GERD-Gastro Esophageal Reflux Disease), là tình trạng viêm loét thực quản do dịch dạ dày trào ngược lên thực quản diễn ra thường xuyên hay từng lúc. Mức độ viêm thực quản phụ thuộc vào thời gian và tần suất tiếp xúc giữa các chất trào ngược với niêm mạc thực quản. bệnh không chỉ gây khó chịu cho bệnh nhân mà còn có nguy cơ gây ra những biến chứng nặng nề như loét, hẹp, chảy máu thực, thậm chí dẫn đến ung thư.
     Trong đông y, bệnh lý này thuộc phạm vi các chứng bệnh như “Ế cách”, “Hung thống”, “Thổ toan”…do nhiều nguyên nhân gây nên như rối loạn tình chí, ẩm thực bất điều, lao lực quá độ, cảm thụ ngoại tà…với cơ chế chủ yếu là do vị khí thượng ngịch, thăng giáng thất thường mà phát sinh ra các chứng trạng như ợ hơi, ợ chua, đau tức sau xương ức, viêm rát họng, nôn và buồn nôn..Về mặt trị liệu, đông y có thể sử dụng các biện pháp như sau :
* Dùng thuốc
     Thường lựa chọn theo ba phương thức : biện chứng luận trị (căn cứ theo thể bệnh mà lựa chọn bài thuốc), biện bệnh luận trị (xây dựng một bài thuốc dùng cho mọi thể bệnh) và sử dụng kinh nghiệm dân gian (đơn phương nghiệm phương). Cụ thể :
+ Biện chứng luận trị : Thông qua Tứ chẩn (vọng, văn, vấn, thiết) mà quy vào các thể bệnh và mỗi thể bệnh có phương pháp và bài thuốc phù hợp. Ví như, với thể Can vị bất hòa phải sơ can hòa khí giáng ngịch, trọng dùng bài Tứ nghịch tán hợp Tiểu bánhạ thang gia giảm ; với thể Can vị uất nhiệt phải sơ can tả nhiệt hòa vị, trọng dùng bài Đan chi tiêu dao tán gia giảm ; với thể Đàm khí giao trở phải lý khí hóa đàm hòa sướng cách, trọng dùng bài Khải cách tán gia giảm ; với thể Tỳ vị hư nhược phải kiện tỳ ích khí giáng ngịch, trọng dùng bài Hương sa lục quân tử thang gia giảm ; với thể Khí hư huyết ứ phải ích khí kiện tỳ, hoạt huyết hóa ứ, trọng dùng bài Tứ quân tử thang hợp Đan sâm ẩm gia giảm.
+ Biện bệnh luận trị : Thông qua cơ chế bệnh sinh và các chứng trạng cơ bản mà lựa chọn một bài thuốc có thể dùng cho tất cả các thể bệnh dưới các dạng thuốc khác nhau như thuốc thang sắc hay các đông dược thành phẩm (cao, đơn, hoàn, tán, viên nang, viên nén, trà tan, siro, thuốc nước đóng ống…). Có thể nói, hình thức này hiện nay đang rất phát triển, nhất là các đông dược thành phẩm được bào chế dưới dạng tân dược, bởi tính phổ thông, dễ dùng, tiện bảo quản và vận chuyển. Tuy nhiên, tính “biện chứng” của chúng cũng là một vấn đề cần được xem xét và nghiên cứu.
+ Đơn phương nghiệm phương : Đây là một kho tàng hết sức phong phú, khó có thể kể hết với đặc diểm chung là đơn giản, dễ kiếm, dễ chế, tiện dùng và có hiệu quả ở các mức độ khác nhau. Có thể dẫn ra một số ví dụ :
     - Cây ngũ sắc 14g, hoàng kỳ 16g, tía tô 8g, chỉ xác 6g, xương bồ 16g, hoài sơn 8g, biển đậu 6g, trần bì 8g, đương quy 10g, bạch truật 8g, lá đắng 12g, lá lốt 6g, sinh
Khương 8g, sâm đại hành 10g, sắc uống 2 ngày 1 thang sau khi ăn.
     - Khôi tía 16g, cỏ lào 12g, loét mồm 12g, tam thất nam 12g, khương hoàng 10g, cam thảo 10g, sắc uống 2 ngày 1 thang, mỗi ngày uống 2 lần trước khi ăn sáng và trước khi đi ngủ 30 phút
     - Hắc tao nhân 16g, bạc truật 12g, 10g hoài sơn, 16g phòng sâm, 10g liên nhục, ngưu tất 8g, 10g viễn chi, trần bì 6g, bán hạ chế 12g, chỉ xác 8g, cam thảo 4g.Tất cả đem sắc cùng với 1 lít nước, sắc cô cho đến khi còn một nửa là được, chia uống 3 lần trong ngày sau bữa ăn.
     - Hoài sơn, liên nhục, ngũ gia bì mỗi vị 16g, tía tô 20g, bạch truật 16g, cam thảo 10g, phòng sâm 16g, chỉ xác 8g, bán hạ 10g, sinh khương 4g, cây ngũ sắc (sao vàng hạ thổ) 16g, bạch linh 12g, lá đinh lăng (sao thơm) 12g. Sắc uống 2 ngày 1 thang, uống mỗi ngày 2 lần.
     - Viễn chỉ 12g, cam thảo 12g, trần bì 12g, ngưu tất 16g, hắc táo nhân 16g, cát căn 16g, hoài sơn 16g, liên nhục16g, chỉ xác 10g và bán hạ chế 10g. Sắc uống 2 ngày 1 thang, mỗi ngày uống 2 lần ngay khi còn ấm và uống trước bữa ăn.
* Không dùng thuốc
     Bao gồm nhiều biện pháp như châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, tập luyện khí công dưỡng sinh, yoga, thiền, cân ma đạt kinh, thái cực quyền…Riêng châm cứu cũng rất nhiều phương thức như thể châm, điện châm, thủy châm, nhĩ châm, cấy chỉ cát gút, laser châm, từ châm…Ngoài ra, còn có thể chọn dùng các món dược thiện có công dụng bồi bổ tỳ vị, lý khí giáng nghịch hỗ trợ trị liệu trào ngược dạ dày thực quản rất dễ được cơ thể chấp nhận. Để trị liệu đạt hiệu quả cao và bền vững, đông y thường  hay phối hợp cả hai biện pháp dùng thuốc và không dùng thuốc theo quan điểm chỉnh thể và toàn diện.

                                                                               ThS Hoàng Khánh Toàn




Thứ Tư, 25 tháng 4, 2018

CÓ NÊN PHỐI HỢP ĐÔNG DƯỢC VỚI TÂN DƯỢC ?


CÓ NÊN PHỐI HỢP ĐÔNG DƯỢC VỚI TÂN DƯỢC ?

  
     Hiện nay, theo đà phát triển của công tác kết hợp y học hiện đại và y học cổ truyền, việc phối hợp sử dụng tân dược (thuốc tây) và đông dược (thuốc ta) có xu hướng ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, có một câu hỏi không dễ tìm lời giải đáp luôn được đặt ra là : có nên cùng dùng cả hai loại thuốc tây và thuốc ta với nhau hay không ? Có hai ý kiến trái ngược với nhau về vấn đề này : ý kiến thứ nhất cho rằng hoàn toàn không nên bởi lẽ lý luận chỉ đạo, đặc tính và cách dùng hai loại thuốc là rất khác nhau, nếu dùng chung sẽ không thể kiểm soát được và dễ xảy ra các tai biến không mong muốn ; ý kiến thứ hai cho rằng hoàn toàn nên, bởi lẽ phương thức kết hợp sẽ tạo nên tác dụng cộng hưởng và phát huy triệt để thế mạnh của từng loại thuốc.
     Kỳ thực, cả hai quan niệm trên đều không tránh khỏi tính chủ quan và phiến diện. Bởi lẽ, câu trả lời chính xác chỉ có thể có được dựa trên kết quả nghiên cứu một cách khoa học và nghiêm túc. Thực tế đã chứng minh rằng nếu sự phối hợp đó là hợp lý thì có thể nâng cao hiệu quả và mở rộng phạm vi điều trị, giảm bớt các tác dụng phụ của mỗi loại thuốc ; nếu sự phối ngũ đó không hợp lý thì chẳng những công hiệu của dược vật bị hạn chế mà có khi còn làm nặng hơn hoặc phát sinh các tác dụng phụ, thậm chí có thể đưa đến những hậu quả nghiêm trọng.
     Cho đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện khá nhiều tân dược và đông dược khi phối hợp với nhau sẽ làm tăng hiệu quả trị liệu. Ví như, kim ngân hoa phối hợp với Bezyl penicillin có tác dụng ức chế khả năng kháng Penicillin của tụ cầu vàng. Các vị thuốc đông y thuộc nhóm thanh nhiệt giải độc như bồ công anh, diếp cá, lô căn, thạch cao, trúc diệp, bản lam căn...phối hợp với Penicillin G có tác dụng nâng cao hiệu quả trị liệu đối với các đợt bùng phát cấp tính của bệnh viêm phế quản mạn tính. Những đông dược kiềm tính như bằng sa, ngoã lăng tử khi dùng kết hợp với Oxacillin và Erythromycin có thể ngăn được sự phá huỷ của dịch vị, làm tăng khả năng hấp thu và hiệu lực kháng khuẩn của hai loại kháng sinh này. Griseofulvin là một kháng sinh chống nấm thường khó hấp thu và dễ gây ra các phản ứng bất lợi như buồn nôn, nôn, đi lỏng, đau đầu...nếu phối hợp với nhân trần có thể làm tăng độ dung giải, nâng cao hiệu lực sinh học và có thể giảm lượng dùng của Griseofulvin từ 33 - 55%. Diphenhydramine (Benadryl) phối hợp với ma hoàng và Clenbuterol phối hợp với dương kim hoa (cà độc dược) đều có tác dụng hiệp đồng nâng cao hiệu quả điều trị bệnh hen phế quản.
     Mặt khác, không ít sự phối hợp giữa thuốc tây và thuốc ta còn có tác dụng mở rộng phạm vi ứng dụng của mỗi loại thuốc. Ví như, Aminazine khi phối hợp với bột trân châu không những hiệu quả trị liệu được nâng cao rõ rệt mà còn có thể dùng được cho cả những bệnh nhân chức năng gan bị rối loạn do bột trân châu có khả năng cải thiện hoạt động của tế bào gan và dự phòng các thương tổn gây nên do Aminazine. Phức hợp dã cúc hoa - Eutonyl trong chế phẩm “Dã lạc phiến” không chỉ có hiệu năng giảm áp ở người bị huyết áp cao mà còn được mở rộng dùng cho người bị di chứng liệt nửa người do rối loạn tuần hoàn não. Dịch tiêm đan sâm và sinh mạch tán (bài thuốc gồm ba vị : nhân sâm, mạch môn và ngũ vị tử) phối hợp với Hyoscyamine không những làm tăng nhịp tim ở người có hội chứng yếu nút xoang (sick sinus syndrome - SSS) mà còn có tác dụng cải thiện tuần hoàn huyết dịch, cải thiện tình trạng thiếu máu cơ tim, giải quyết cả “ngọn” và “gốc” của vấn đề.
     Một số dược liệu khi phối hợp với thuốc tây còn có khả năng làm giảm thiểu các tác dụng không mong muốn. Ví như, Streptomycin nếu dùng quá dài ngày có thể dẫn đến tình trạng giảm thính lực và chóng mặt do tổn thương hệ thống tiền đình. Khi dùng phối hợp với cam thảo các tác dụng phụ này sẽ được giảm thiểu bởi lẽ Glycyrrhizic acid có trong thành phần của cam thảo sẽ kết hợp với gốc kiềm tính của Streptomycin để tạo nên Streptomycin glycyrrhizinate có độc tính thấp hơn nhưng năng lực kháng khuẩn vẫn được giữ nguyên. Cyclophosphamide là thuốc chữa ung thư nhưng thường có các tác dụng phụ ở đường tiêu hoá như nôn, buồn nôn, đi lỏng.... Khi dùng kết hợp với bạch cập và hải phiêu tiêu thì các rối loạn này được phòng chống một cách tích cực nhờ vào khả năng chỉ huyết, tiêu thũng và bảo vệ niêm mạc dạ dày và ruột của hai vị thuốc này, Thập toàn đại bổ là một bài thuốc cổ có tác dụng vừa bổ khí vừa bổ huyết, khi dùng phối hợp với Rifamixin (thuốc kháng lao) sẽ giảm thiểu chứng hạ bạch cầu do thuốc này gây nên, đồng thời nâng cao hiệu lực kháng lao của nó.
     Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu thực nghiệm và lâm snàg cũng cho thấy : trong nhièu trường hợp sự phối hợp giữa thuốc ta và thuốc tây đã đưa lại những hiệu quả bất lợi. Trước hết, có thể làm giảm tác dụng trị liệu của thuốc thông quaviệc ảnh hưởng đến quá trình hấp thu hoặc tương tác làm biến đổi cấu trúc và hoạt tính dược lý. Ví như, các vị thuốc đông y có chứa nhiều ion kim loại như thạch cao, hải phiêu tiêu, thạch quyết minh, hổ cốt, long cốt, mẫu lệ...(chứa nhiều Ca) ; minh phàn (chứa nhiều Al) ; đại giả thạch, đồng tự nhiên (chứa nhiều Cu) ; xích thạch chi, hoạt thạch (chứa nhiều Mg và Cu)...không nên dùng cùng một số kháng sinh như Tetracycline, Rimifon...vì sẽ làm giảm hệ số hấp thu, ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả trị liệu. Các vị thuốc có chứa nhiều Tanin như đại hoàng, ngô thù du, kim anh tử, kha tử, ngũ bội tử, thạch lựu bì, địa du, biển súc...và các chế phẩm đông dược như Lục vị địa hoàng hoàn, Hoè giác hoàn...không nên hợp dùng với một số kháng sinh như Chloromycetine, Erythromycine, Rifampin, Griseofulvin, Nystatin, Lincomycin, Tetracycline và Vitamin B1 để tránh phản ứng giữa Tanin và các tân dược này tạo nên các sản phẩm kết tủa làm giảm hiệu quả điều trị. Các thuốc tây kiềm tính như Aminophylline, Gastropine, Sodium bicarbonate, Aluminum hydroxide...không nên phối hợp với các vị thuốc đông y toan tính như sơn tra, ô mai, sơn thù, ngũ vị tử...và các chế phẩm như Sơn tra hoàn, Bảo hoà hoàn...vì sẽ gây ra phản ứng trung hoà kiềm toan làm ảnh hưởng đến hiệu lực của thuốc.
     Thêm nữa, một số thuốc tây và thuốc ta khi phối hợp với nhau có thể gây ra các phản ứng độc hại. Ví như, ma hoàng và các chế phẩm có ma hoàng như Đại lạc hoạt đan, Nhân sâm tái tạo hoàn, Chỉ khái định suyễn hoàn...không nên phối hợp với các thuốc có tác dụng ức chế Monoamine oxidase (MAO) như Furazolidone, Eutonyl, Isocarboxazid, Methylhydrazine...vì dễ gây ra các phản ứng phụ nguy hiểm do các chất như Adrenaline, Dopamine, Serotonin không bị phá huỷ, ứ đọng ở các mạt đoạn thần kinh gây nên. Các thuốc lợi tiểu như Lasix, Hypothiazid không nên hợp dùng với cam thảo vì Glycyrrhizin và Glycyrrhetinic acid chứa trong cam thảo sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới thận cùng với các thuốc lợi tiểu dễ gây các phản ứng bất lợi do giảm kali máu quá mức...Các vị thuốc có chứa Alkaloid như ô đầu, hoàng liên, bối mẫu và các thành phẩm như Tiểu hoạt lạc đan, Hương liên hoàn...không nên phối hợp với Atropine, Cafeine và Aminophylline vì dễ gây các phản ứng do trúng độc.
     Như vậy, có thể thấy, tân dược cũng có thể dùng cùng đông dược, thậm chí trong nhiều trường hợp là hết sức cần thiết, nhưng với điều kiện sự phối hợp đó phải hợp lý, có cơ sở khoa học rõ ràng và nghiêm túc, tuyệt đối không phối hợp tuỳ tiện và liều lĩnh. Rất đáng tiếc là, cho đến nay, ở nhiều cơ sở y tế chính danh, việc phối hợp đông dược và tân dược vẫn mang nặng tính chủ quan và kinh nghiệm chủ nghĩa

                                                                                   ThS Hoàng Khánh Toàn

Thứ Ba, 10 tháng 4, 2018

Nhịn ăn chữa bệnh, những điều cần biết


NHỊN ĂN CHỮA BỆNH, NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT


     Nhịn ăn để chữa bệnh là một vấn đề đã được đề cập và gây tranh luận từ khá lâu mà chưa có hối kết, nhất là sau ca đột tử của một nữ sinh 18 tuổi ở Hà Nội (chưa xác định rõ nguyên nhân nhưng được biết nạn nhân cũng đang áp dụng chế độ nhịn ăn 10 ngày trước khi chết) và gần đây là trường hợp của một đại gia cà phê gây xôn xao dư luận. Vậy, thực chất của vấn đề này như thế nào ? Dưới đây, xin được đưa ra một số vấn đề để độc giả tham khảo.
1. Nhịn ăn chữa bệnh có từ bao giờ ?
     Nhịn ăn là một trong những cách chữa bệnh cổ xưa nhất của tự nhiên. Ở Phương Tây, các nhà hiền triết và truyền giáo cổ xưa thường nhịn ăn không phải chỉ để khỏe mạnh, phòng chống bệnh tật mà còn để nâng cao tinh thần và linh hồn bời vì như họ nói : “No bụng thì không thích suy nghĩ”. Chúa Jêsu đã nhịn ăn 40 ngày, trong thời gian đó ông đã vượt qua được mọi cám dỗ và chuẩn bị bản thân cho việc lớn và sự đau đớn mà ông sẽ phải chịu đựng. Các nhà triết học Hy Lạp vĩ đại như Socrates, Plato, Pytago…thường nhịn đói trước khí viết các tác phẩm về triết học hoặc trước khi phải trải qua những kỳ kiểm tra đặc biệt vì họ biết rằng nhịn đói sẽ kích thích khả năng trí tuệ. Hyppocrate, ông tổ của ngành y người Hy Lạp đã từng nói : “Trong mỗi người đều có một bác sĩ, chỉ cần giúp “anh ta” làm công việc của mình. Khi bạn ốm mà bạn vẫn ăn là bạn tự nuôi dưỡng bệnh của bạn”.  Ở Phương Đông, y học cổ truyền đã bàn luận và sử dụng phương pháp nhịn ăn với những tên gọi là “đoạn thực”, “đoạn cốc”, “tịch cốc” để phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khỏe dưới hình thức đơn độc hoặc phối hợp với các biện pháp không dùng thuốc khác như châm cứu, xoa bóp, tập luyện khí công dưỡng sinh, yoga, thiền…
2. Nhịn ăn có lợi ích gì ?
     Nhiều chuyên gia cho rằng, nhịn ăn là phương pháp giúp cơ thể nghỉ ngơi và chỉ tập trung cho việc thanh lọc thất độc tích tụ trong cơ thể. Nhịn ăn đúng cách có những lợi ích sau đây :
- Giúp cho toàn bộ các cơ quan, tạng phủ trong cơ thể được nghỉ ngơi và phục hồ sức khỏe để làm việc có hiệu quả hơn, đặc biệt là hệ tiêu hóa và tim mạch.
- Làm tăng khả năng bài tiết chất độc tích tụ trong cơ thể, điều mà người ta gọi là tình trạng “nhiễm độc nội sinh” thông qua việc làm tan các chất độc bám ở tất cả các cơ quan và các mô, nhờ đó mà thực hiện hữu hiệu quá trình thanh lọc cơ thể một cách tự nhiên.
- Giúp tái lập sự hoạt động bình thường và cân bằng của các tổ chức, cơ quan, làm trẻ hóa toàn bộ cơ thể, giúp làm chậm quá trình lão hóa và kéo dài tuổi thọ.
- Giúp duy trì được năng lượng và hướng nó vào các hoạt động của tinh thần và trí tuệ cao siêu như thiền định, làm đầu óc nhẹ nhàng, sáng sủa, cảm giác sắc bén, tăng khả năng ghi nhớ và tập trung .
- Góp phần đốt cháy và loại bỏ những chất liệu vô ích, chất béo dư thừa, làm giảm thể trọng ở những người thừa cân và béo phì.
- Giúp phục hồi độ rộng bình thường của dạ dày, làm mất thói quen phàm ăn bất bình thường, giảm trạng thái thèm rượu và thuốc lá.
- Việc nhịn ăn định kỳ giúp làn da trở nêm trẻ trung và trong sạch, tăng cường sức đề kháng chống lại mọi sự nhiễm trùng, giúp cơ thể phòng chống nhiều loại bệnh tật.
- Như một loại :thuốc an thần của tạo hóa” nhờ tác động thư giãn hệ thần kinh và làm tâm hồn trở nên thanh thản, giúp phòng chống mất ngủ.
- Giúp cho toàn bộ cơ thể, đặc biệt là hệ tiêu hóa được nghỉ ngơi và làm sạch. Nhịn ăn đúng cách và thường xuyên làm cho ta cảm thấy tăng cường sức khỏe, khí lực, trí lực, năng lượng và sự minh mẫn.
3. Những quan niệm nào chưa đúng về nhịn ăn chữa bệnh ?
     Trên thực tế, hiện nay vẫn tồn tại hai quan niệm chưa đúng về phương pháp nhịn ăn chữa bệnh và nâng cao sức khỏe. Quan niệm thứ nhất coi đây là một cách thức chữa bệnh không khoa học, có người cho là “phản khoa học” vì họ cho rằng cơ thể mỗi ngày nhất thiết phải được cung cấp một lượng đồ ăn thức uống nhất định theo nguyên tắc đầy đủ, cân bằng và hợp lý để đảm bảo đủ năng lượng tối thiểu cho cơ thể hoạt động bình thường, những người nhịn ăn thường xuyên, đặc biệt là nhịn ăn quá dài sẽ khiến cơ thể suy mòn, nguồn năng lượng sẽ cạn kiệt, các chất dinh dưỡng sẽ thiếu hụt, ảnh hưởng không tốt tới hàng loạt các chức phận bên trong cơ thể đặc biệt là não. tạo nguy cơ gây nên nhiều bệnh lý thậm chí có thể gây tử vong, ví như tình trạng hôn mê do tụt đường huyết. Từ đó, họ cho rằng chỉ nên ăn kiêng chứ không nên nhịn ăn. Quan niệm thứ hai coi nhịn ăn là phương thuốc chữa bệnh tự nhiên và vạn năng, thậm chí có thể chữa được cả bệnh ung thư. Họ cho rằng bệnh tật là do sự tích lũy chất độc trong cơ thể do ăn uống quá nhiều cả về lượng và chất. Có một chuyên gia dinh dưỡng nói : “Không một loài thú nào bụng lại đầy thức ăn không tiêu bị lên men, thối rữa do ăn quá nhiều thức ăn không tự nhiên như cái gọi là “con người văn minh”. Theo tự nhiên, mỗi con vật đều nhịn đói theo bản năng khi bị ốm, nhưng con người chúng ta lại đi lạc với tự nhiên quá xa, đáng lẽ khi thiếu sự ngon miệng vì ốm, cần nhịn ăn để thanh lọc cơ thể thì chúng ta lại nhồi nhét quá nhiều thức ăn để “tăng sức khỏe của mình”. Thực chất, đây là hai quan niệm đều mang tính thái quá. Điều quan trọng không phải là phủ định hay khẳng định một cách cực đoan phương pháp nhịn ăn chữa bệnh mà rất cần phải có những công trình nghiên cứu khoa học cả trên lý thuyết lẫn thực hành, cả trên thực nghiệm lẫn lâm sàng để làm sáng tỏ vấn đề này.
4. Khi thực hành nhịn ăn chữa bệnh cần chú ý những gì ?
     Hiện nay, trên thực tế không ít người vẫn thực hành nhịn ăn để phòng chống bệnh tật theo nhiều cách khác nhau. Ví như, nhịn ăn ngắn ngày khoảng 1 tuần, nhịn ăn dài ngày có khi kéo dài 30-40 ngày, nhịn ăn vào ngày mồng 1 và 15 âm lịch, nhịn ăn tuyệt đối không ăn một tí gì kể cả nước, nhịn ăn nhưng vẫn uống nước lọc, nhịn ăn kết hợp với thực hành Thiền…Không thể phủ nhận là đã có những trường hơp dùng cách nhịn ăn chữa khỏi một số bệnh, nhưng cũng đã xuất hiện nhưng tai biến không đáng có khi thực hành liệu pháp này. Vậy nên, trong khi nhịn ăn liệu pháp được khuyến cáo là chưa nên khuyến khích thì việc thực hành cần chú ý những điều sau đây :
- Cần được khám xét, đánh giá và chẩn đoán chính xác tình trạng sức khỏe và bệnh tật, nên hỏi ý kiến bác sĩ hoặc các chuyên gia về dinh dưỡng xem có cần nhịn ăn hay không, nếu có cần và có thể nhịn ăn hay không.
- Không áp dụng nhịn ăn ở những người suy kiệt, suy dinh dưỡng, thiếu máu, ung thư tiến triển, lao, AIDS, người mắc bệnh tiểu đường típ I (nhóm phụ thuộc insulin), bệnh gan, tim, thận nặng, hạ đường huyết, nhừng trường hợp măc bệnh cấp tính…Không được áp dụng cho trẻ em, phụ nữ có thai và cho con bú.
- Nên thực hành nhịn ăn một cách tăng dần, tránh đột ngột bất ngờ. Lúc đầu có thể chỉ ăn hoa quả và uống sữa, sau đó chỉ cần hoa quả và nước uống, sau đó chỉ nước và cuối cùng là không dùng gì cả. Người ốm hoặc yếu không thể nhịn ăn được thì có thể thực hiện nhịn từ bữa trưa cho đến tận sáng hôm sau hoặc có thể uống nước hoa quả, sữa hoặc súp rau xanh.
- Chú ý lắng nghe cơ thể mình, nếu thấy bất cứ một dấu hiệu nặng nề nào thì phải ngừng nhịn ăn và tiến hành khám bệnh ở các cơ sở y tế có đủ tư cách pháp nhân.
- Khi ngừng nhịn ăn chú ý ăn lại từ từ thoe nguyên tắc từ ít đến nhiều, từ lỏng đế đặ, từ dễ tiêu đến khó tiêu trong một thời gian nhất định theo hướng dẫn của các thầy thuốc và chuyên gia dinh dưỡng.
- Nên thực hiện theo nguyên tắc “tam nhân chế nghi” của y học cổ truyền là : nhân nhân chế nghi (tùy người mà dùng), nhân địa chế nghi (tùy nơi mà dùng) và nhân thời chế nghi (tùy lúc mà dùng)

                                                                                  ThS Hoàng Khánh Toàn
    


Thứ Hai, 26 tháng 3, 2018

ĐÔNG Y TRỊ LIỆU BỆNH HÔ HẤP TRẺ EM


ĐÔNG Y TRỊ LIỆU BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP TRẺ EM


     Bệnh lý đường hấp ở trẻ em là hết sức thường gặp, phức tạp và dễ gây biến chứng, thậm chí có thể tử vong. Có thể kể ra những căn bệnh chính như viêm đường hô hấp trên,  viêm khí phế quản cấp tính, viêm phổi, viêm phế quản thể hen, hen phế quản…Với những tiến bộ khoa học y học vượt bậc, tây y đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc phòng chống bệnh lý đường hô hấp cho trẻ. Tuy nhiên, với không ít trường hợp, ở trong những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, đông y vẫn có một vai trò quan trọng trên cơ sở thực hành  nhiều biện pháp dùng thuốc và không dùng thuốc theo quan điểm “biện bệnh luận trị” hoặc “biện chứng luận trị”, trong đó phương thức biện chứng luận trị vẫn là cơ bản.

1. Viêm đường hô hấp trên cấp tính
     Viêm đường hô hấp trên cấp tính  không phải là một bệnh đơn lẻ mà là tổng hợp các bệnh do bị cảm lạnh, viêm mũi, viêm họng, viêm xoang, viêm thanh quản….với triệu chứng dể nhận biết như sốt cao, hắt hơi sổ mũi, chảy nước mũi, đau rát họng, ho, khàn tiếng, đau mỏi toàn thân….Trong đông y, nhóm bệnh này thuộc phạm vi các chứng như cảm mạo, khái thấu, nhũ nga, hầu tý…với nguyên nhân chủ yếu là do phong hàn, phong nhiệt gây nên. Chẩn trị cụ thể như sau :
* Với thể Ngoại cảm phong hàn
- Triệu chứng : Sợ lạnh, không ra mồ hôi, đau đầu, nghẹt mũi, chảy nước mũi, ngứa họng, ho, không sốt hoặc sốt nhẹ , lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch khẩn
- Phép chữa : Tân ôn giải biểu, tuyên phế tán hàn
- Bài thuốc : Tô kiều giải biểu thang gồm các vị : tô diệp 6g, kinh giới 6g (cho sau), phòng phong 6g, kim ngân hoa 10g, liên kiều 10g, cát cánh 8g, tiền hồ 8g, cam thảo 3g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Ngoại cảm phong nhiệt
- Triệu chứng : Phát sốt, ra mồ hôi, nghẹt mũi, chảy nước mũi, đau đầu, đau mình mẩy, hầu họng đỏ đau, ho khạc đờm vàng, mặt đỏ, họng khô, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch phù sác.
- Phép chữa : Tân lương giải biểu, tuyên phế chỉ khái lợi hầu
- Bài thuốc : (1) Nếu họng đau nhiều, sốt cao dùng bài Liên kiều tán gia giảm gồm : liên kiều 10g, kim ngân hoa 10g, cát cánh 8g, bạc hà 5g, trúc nhự 6g, kinh giới 6g (cho sau), đạm đậu xị 6g, ngưu bàng tử 5g, cam thảo 5g, bản lam căn 10g, hoàng cầm 7g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. (2) Nếu ho nhiều dùng bài Tang cúc ẩm gia giảm gồm : tang diệp 10g, cúc hoa 10g, liên kiều 10g, hạnh nhân 8g, cát cánh 8g, bạc hà 5g (cho sau), cam thảo 3g, bản lam căn 10g, hoàng cầm 7g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Kiêm chứng
     Bất luận là ngoại cảm phong hàn hay phong nhiệt nếu có kiêm các chứng đàm, trệ hoặc co giật thì gia thêm các vị thuốc, cụ thể như sau :
+ Ngoại cảm kiêm đàm có ho khạc đờm nhiều, tiếng ho trầm nặng, khàn tiếng, đại tiện táo, tiểu tiện vàng gia thêm qua lâu nhân 10g, đông qua nhân 10g, sa sâm 12g, mạch môn 8g, bối mẫu 6g.
+ Ngoại cảm kiêm trệ có hiện tượng bụng chướng đầy, chán ăn, buồn nôn và nôn ra nước chua, đi lỏng, mùi chua và khó chịu, hơi thở hôi gia thêm hoắc hương 6g, (cho sau), chỉ xác 6g, lai phục tử 10g, cốc nha 12g
+ Ngoại cảm kiêm co giật gia thêm câu đằng 8g, thuyền thoái 5g, linh dương cốt 10g, (sắc trước), toàn yết 3g.

2. Viêm khí phế quản cấp tính
     Trong đông y, viêm khí phế quản cấp tính thuộc phạm vi chứng khái thấu thường do phong hàn và phong nhiệt gây nên. Chẩn trị cụ thể như sau :
* Với thể Phong hàn khái thấu
- Triệu chứng : Ho nhiều, khạc đờm trong loãng, chảy nước mũi trong, sợ lạnh, không vã mồ hôi, sốt, đau đầu, ngứa họng, mình mẩy đau nhức nặng nề, chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch nhu khẩn\
- Phép chữa : Sơ phong tán hàn, tuyên phế chỉ khái, hóa đàm
- Bài thuốc : Dùng bài Chỉ khái tán gia giảm gồm : tử uyển 8g, cát cánh 8g, bạch tiền 8g, bách bộ 10g, kinh giới 6g (cho sau), trần bì 3g, bán hạ chế 8g, ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, cam thảo 3g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Phong nhiệt khái thấu
- Triệu chứng : Phát sốt, ho tiếng nặng, đờm nhiều vàng dính và khó khạc, miệng khô họng đau, mồ hôi dâm dấp, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch phù sác
- Phép chữa : Sơ phong thanh nhiệt, tuyên phế chỉ khái
- Bài thuốc : Dùng bài Tang cúc ẩm hợp với bài Ma hạnh thạch cam thang gia giảm, gồm các vị : ma hoàng 3g, thạch cao 18g, hạnh nhân 8g, cam thảo 5g, hoàng cầm 8g, liên kiều 10g, cát cánh 8g, qua lâu nhân 10g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.

3. Viêm phổi
     Trong đông y, viêm phổi thuộc phạm vi các chứng như phong ôn, khái suyễn, mã tỳ phong…với nguyên nhân là do chính khí suy nhược, công năng tạng phủ rối loạn khiến tà khí bên ngoài xâm nhập sâu vào phần “lý” (bên trong) mà gây thành bệnh. Chẩn trị cụ thể như sau :
* Với thể Phong tà bế phế
- Triệu chứng : Phát sốt, ho, khó thở, khạc đờm trắng loãng, không có mồ hôi, không khát, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù khẩn hoặc phù sác.
- Phép chữa : Tân ôn giải biểu, tuyên phế hóa đàm
- Bài thuốc : Dùng bài Tam ảo thang gia giảm gồm : ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, trần bì 3g, bán hạ chế 8g, kinh giới tuệ 6g (cho sau), bạch giới tử 8g, lai phục tử 10g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Phong nhiệt bế phế
- Triệu chứng : Sốt cao, ho nhiều, khó thở, vã mồ hôi, miệng khát, ngực đau, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác
- Phép chữa : Tân lương giải biểu, tuyên phế hóa đàm
- Bài thuốc : Dùng bài Ma lâu thang gia giảm gồm : ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, thạch cao 12g, cam thảo 5g, qua lâu nhân 10g, lai phục tử 10g, hoàng cầm 10g, liên kiều 10g, săc uống mỗi ngày 1 thang.
* Với thể Phong ôn bế phế
- Triệu chứng : Ho và khó thở nhiều, tắc mũi, sốt cao, vã mồ hôi, phiền khát, đau ngực, môi miệng xanh tím, đờm vàng dính, lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch sác.
- Phép chữa : Thanh nhiệt giải biểu, tuyên phế bình suyễn
- Bài thuốc : Dùng bài Ngũ hổ thang hợp với Tam hoàng thạch cao thang gia giảm gồm các vị : ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, thạch cao 12g, cam thảo 5g, hoàng cầm 10g, hoàng liên 3, ngưu bàng tử 6g, lai phục tử 10g, tang bạch bì 10g, hoàng bá 8g, sắc uống mỗi ngày 1 thang
* Với thể Đàm nhiệt bế phế
- Triệu chứng : Ho và khó thở nhiều, sốt cao, môi khô miệng khát, khạc đờm nhiều màu vàng và dính, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu vàng dính, mạch khẩn sác.
- phép chữa : Thanh nhiệt tuyên phế, dục đàm bình suyễn
- Bài thuốc : Dùng bài Ma hạnh thạch cam thang hợp với Đình lịch đại táo tả phế thang gia giảm gồm : ma hoàng 3g, hạnh nhân 8g, thạch cao 15g, cam thảo 5g, ngư tinh thảo 15g, ngưu bàng tử 6g, thiên trúc hoàng 8g, tang bạch bì 10g, hầu táo tán 1g (uống cùng nước thuốc sắc), sắc uống mỗi ngày 1 thang, uống thêm trúc lịch lượng vừa đủ.

4. Viêm phế quản thể hen và hen phế quản
     Trong đông y, hai bệnh lý này thuộc phạm vi các chứng như háo chứng, suyễn chứng, nguyên nhân do chính khí hư suy, công năng tạng phủ rối loạn, đặc biệt là Phế, Tỳ và Thận, tà khí thừa cơ xâm nhập mà gây nên bệnh. Chẩn trị cụ thể như sau:
* Trong giai đoạn phát bệnh
- Với thể Hàn chứng
+ Triệu chứng : Ho và khó thở thành cơn, có khi phải ngồi dậy để thở, có nhiều tiếng rít trong khí quản, đờm trong loãng, sắc mặt nhợt nhạt, tay chân lạnh, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng loãng, chất lưỡi nhợt, rêu trắng mỏng, mạch hoạt khẩn.
+ Phép chữa : Ôn phế tán hàn, giáng khí bình suyễn
+ Bài thuốc : Dùng bài Tiểu thanh long thang hợp Tam tử dưỡng tân thang gia giảm gồm : can khương 1,5g, quế chi 3g, ma hoàng 3g, bạch thược 10g, tế tân 1,5g, bán hạ chế 8g, ngũ vị tử 5g, tô tử 8g, bạch giới tử 5g, lai phục tử 10g, cam thảo 5g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
- Với thể Nhiệt chứng
+ Triệu chứng : Ho và khó thở thành cơn, nhiều đờm rãi, có thể có sốt, đờm vàng, tức ngực buồn phiền, khát nước muốn uống, tiểu tiện vàng, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ, rêu vàng dính, mạch hoạt sác.
+ Phép chữa : Thanh nhiệt tuyên phế, hóa đàm định suyễn
+ Bài thuốc : Dùng bài Định suyễn thang gia thạch cao gồm các vị ma hoàng 3g, ngân hạnh 10g, hoàng cầm 8g, tang bạch bì 10g, tô tử 8g, bán hạ chế 10g, khoản đông hoa 10g, hạnh nhân 8g, cam thảo 5g, thạch cao 15g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
* Trong giai đoạn hồi phục
- Triệu chứng : ho và khó thở nhẹ, khạc đờm loãng, sắc mặt không tươi, mệt mỏi vô lực, cơ thể tiều tụy gầy yếu, ăn kém, bụng đầy, đại tiện lỏng loãng, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch nhu vô lực.
- Phép chữa : Bổ phế kiện tỳ ôn thận
- Bài thuốc : Dùng bài Bổ phế kiện tỳ ôn thận thang gồm : đẳng sâm 10g, thục địa 10g, ngũ vị tử 3g, khoản đông hoa 8g, bạch linh 12g, hoài sơn 12g, hồ đào nhục 12g, thỏ ty tử 10g, , địa long 6g, chích thảo 3g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
     Ngoài việc dùng thuốc, với tất cả các bệnh lý đường hô hấp trẻ em đều có thể kết hợp với châm cứu, xoa bóp, tập thở, sử dụng các món ăn-bài thuốc phù hợp với tuổi, thể chất và mức độ bệnh.

                                                                                  Hoàng Khánh Toàn

Thứ Ba, 13 tháng 3, 2018

CÂY MẬT GẤU


TÁC DỤNG CHỮA BỆNH CỦA CÂY MẬT GẤU

     Cây mật gấu với tên gọi khác là cây Hoàng liên ô rô hay cây mã rồ. Đây là loại cây mang nhiều tác dụng chữa bệnh rất hiệu quả. Loài này mọc hoang nhiều ở các tỉnh vùng núi phía bắc có khí hậu mát mẻ như Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn… Ở miền nam hay miền trung, do khí hậu không thích hợp nên cây mật gấu vẫn có thể sống nhưng sẽ phát triểm chậm và kém hơn.
     Cây chứa các hợp chất có tác dụng sinh học khác như: terpene, steroid, coumarin, flavonoid, acid phenolic, lignan, xanthone, anthraquinone, edotide and sesquiterpene (có tác dụng kháng ung thư). Ngoài ra lá còn chứa các chất khoáng: magnesium, chromium, manganese, selenium, sắt, đồng, kẽm, Vitamin A, E, C, B1,B2. protein thô, chất xơ, chất béo, tro, carbohydrate, các acid amin quan trọng: Leucine, Isoleucine, Lysine, Methionine, Phenyl alanine, Threonine, Valine, Histidine, Tyrosine.

     Những hợp chất trong cây mật gấu có tác dụng hỗ trợ điều trị các bệnh do quá trình viêm mạn tính, lão hoá, bệnh nhiễm giun sán, động vật nguyên sinh (protozoan) và vi khuẩn. Theo công bố trên Quyển Y - Sinh học thực nghiệm tháng 2 năm 2004 (Experimental Biology and Medicine of February 2004 Edition) cho thấy lá cây mật gấu có tác dụng hạ thấp tỉ lệ nguy cơ bị ung thư vú. Lá mật gấu dùng nấu dạng canh rau hay xay nhuyễn lấy nước uống như dạng nước bổ dưỡng trong nhiều dạng bệnh lý khác nhau. Nhiều thầy thuốc ở Châu Phi khuyên người dân dùng trị bệnh đường tiêu hoá, đái tháo đường, chán ăn, kiết lỵ và các chứng rối loạn tiêu hoá. Các Polyphenol có tính kháng viêm và anti - oxidant, thải độc, bảo vệ thận, gan, hỗ trợ điều trị một số bệnh ngoài da, làm giảm đường huyết, bao vệ tim mạch do giúp ổn định lipid máu. 

     Theo Đông y, cây mật gấu có vị đắng tính mát, vào 4 kinh: phế, vị, can, thận, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, mát gan, tiêu viêm, làm se, lợi mật, phòng ngừa và chữa sỏi mật, giảm đau lưng và thấp khớp, tăng cường sức khoẻ… Cây mật gấu còn có tác dụng rất tốt trong việc điều trị các triệu chứng về bệnh dạ dầy, rối loạn tiêu hoá,  đường ruột, đau nhức xương khớp, tê thấp, làm tiêu mỡ, giã rượu, cải thiện tình trạng béo phì và bệnh gút. Người ta thường dùng  10 - 20g  rễ hoặc thân cây sắc uống chữa ăn uống không tiêu, trị đau ngực, đau gối, chóng mặt, ù tai, viêm gan, vàng da, tiêu chảy, kiết lỵ, đau mắt. Dùng lá hay quả (8 - 12g) sắc uống hay phối hợp với các vị thuốc khác. Ngoài ra, cây mật gấu còn được dùng để chữa sốt cơn, ho lao, khạc ra máu, lưng gối yếu mỏi, mất ngủ. Dùng ngoài, nấu nước đặc để rửa chữa viêm da dị ứng, lở ngứa…Cách dùng : Chẻ nhỏ sắc nước uống hàng ngày (mỗi ngày sử dụng khoảng 20g) hoặc ngâm rượu (ngày uống 3 lần mỗi lần 10 - 20 ml)

     Y học dân gian ở nhiều quốc gia cũng dùng cây mật gấu chữa nhiều  bệnh như : Ấn Độ dùng lá chữa tiểu đường, dùng cành, rễ hỗ trợ điều trị HIV, hạ sốt, giảm ho, phát ban, cảm cúm, viêm vú. Congo dùng lá và vỏ rễ chữa kiết lỵ, viêm dạ dày, ruột, sốt rét, viêm gan, nhiễm giun. Nam Phi dùng rễ chữa sán máng (huyết hấp trùng), hiếm muộn, rối loạn kinh nguyệt. Nhiều nơi ở Tây Phi dùng lá làm trà lợi tiểu, chữa táo bón, nhiễm trùng da, đái đường, bệnh chuyển hóa liên quan đến gan… 

                                                                   ThS Hoàng Khánh Toàn

Thứ Năm, 25 tháng 1, 2018

TRÀ DƯỢC DƯỠNG SINH TRƯỜNG THỌ

 DƯỠNG SINH TRƯỜNG THỌ BẰNG TRÀ DƯỢC


     Tết đến Xuân về, bên cạnh những đồ giải khát của thời hiện đại, có gia đình nào trên bàn tiếp khách lại thiếu vắng ấm trà. Người ta uống trà để giải khát, để giã rượu tiêu cơm, để hưng phấn và tỉnh táo, để nhâm nhi mà bàn chuyện đạo lý và sự đờiNhưng, chắc hẳn không phải ai cũng biết rằng : uống trà đúng cách còn giúp cho người ta có thể sống khoẻ hơn và sống lâu hơn, điều mà ai nấy đều mong mỏi và cầu chúc cho nhau mỗi dịp Xuân về.
     Y học cổ truyền phương Đông đã nhận biết công năng và sử dụng trà làm thuốc chữa bệnh và kéo dài tuổi thọ từ rất sớm. Y thư cổ Thần nông bản thảo kinh đã từng khen trà là thứ thuốc “vị khổ hàncửu phục an tâm ích khíkhinh thân nại lão” (vị đắng tính hànuống lâu ngày có công dụng an tâm ích khílàm nhẹ mình và sống lâu). Rồi dần theo thời gian, ngoài việc dùng trà hãm uống đơn thuần, cổ nhân còn nghĩ ra cách cho thêm vào ấm trà một số vị thuốc hoặc thậm chí chỉ mượn phương thức pha và uống mà dùng thuốc thay trà để bồi bổ cơ thể, nâng cao sức khoẻ nhằm mục đích phòng chống lão hoá và kéo dài tuổi thọ. Từ đó, hình thành nên loại hình dùng thuốc hết sức đặc biệt, được gọi là Trà dược dưỡng sinh trường thọ.
@ - Trà dược dưỡng sinh trường thọ là gì ?
     Trà dược, có thể hiểu một cách đơn giản theo hai nghĩa : Nghĩa hẹp, là để chỉ các loại chế phẩm dùng trà hoặc lấy trà làm chủ phối hợp với một số vị thuốc khác nhằm mục đích phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ con người ; Nghĩa rộng, là để chỉ dạng thuốc bao gồm một hay nhiều loại dược liệu được chế biến và sử dụng giống như trà uống hàng ngày nhưng kỳ thực không hề có chút lá trà nào trong thành phần, người ta gọi là “dĩ dược đại trà” (lấy thuốc thay trà).
     “Dưỡng” là nuôi dưỡng, bảo vệ ; “sinh” là sự sống, mạng sống ; dưỡng sinh, còn gọi là “bảo sinh”, “nhiếp sinh”, “đạo sinh”, có nghĩa là bảo vệ và nuôi dưỡng sinh mạng. Trà dược dưỡng sinh trường thọ chính là một loại chế phẩm dùng trà đơn thuần, dùng trà phối hợp với các vị thuốc hoặc dùng thuốc thay trà để phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhằm mục đích kéo dài tuổi thọ.
@ - Trà dược dưỡng sinh trường thọ có từ bao giờ ?
     Thật khó có thể nói mốc thời gian chính xác, nhưng qua ghi chép trong các y thư cổ có thể nói rằng : trà dược nói chung và trà dược dưỡng sinh trường thọ nói riêng đã có một lịch sử phát sinh, tồn tại và phát triển lâu đời. Như trên đã nói, Thần nông bản thảo kinh là cuốn y thư cổ nói đến công dụng “khinh thân bất lão” của lá trà sớm nhất. Rồi sau đó các sách thuốc cổ khác như  Thần nông thực kinh, Ngoại đài bí yếu, Hoà tễ cục phương, Thái bình thánh huệ phương...đã lần lượt bàn luận và ghi lại một khối lượng lớn các phương trà dược mà trong thành phần có hoặc không hề có một chút lá trà nào, trong đó nhiều loại trà dược có công dụng dưỡng sinh trường thọ. Những năm gần đây, trà dược ích thọ ngày càng được chú ý sưu tầm, chỉnh lý, nâng cao và sáng tạo ra nhiều phương mới nhằm không ngừng đáp ứng nhu cầu sống khoẻ và sống lâu của con người.
@ - Có mấy loại trà dưỡng sinh trường thọ ?
     Căn cứ vào thành phần, cách chế, loại hình sử dụng mà người ta chia trà dược dưỡng sinh trường thọ thành nhiều loại khác nhau. Tuỳ theo thành phần có thể chia làm ba loại : trà diệp đơn hành (chỉ dùng duy nhát lá trà), trà dược tương phối (dùng phối hợp trà và các vị thuốc) và dĩ dược đại trà (dùng thuốc thay trà). Tuỳ theo cách chế có thể chia thành hai loại : trà hỗn hợp là đem các vị thuốc có trong thành phần sấy khô, tán vụn rồi trộn đều và trà đóng bánh là tán dược liệu thành bột thô rồi trộn với hồ hoặc một vị thuốc có chất dính để đóng thành bánh. Tuỳ theo dạng sử dụng mà chia thành các loại như trà hãm, trà ngâm, trà hầm, trà sắcvà đặc biệt là trà tan, đây là dạng trà được chế biến theo công nghệ hiện đại bằng cách đưa dung dịch trà thuốc đã được xử lý theo quy trình pha chế thích hợp vào máy sấy phun sương (spray - drayer) để làm khô thành dạng bột trà dượcanraats tiện sử dụng và bảo quản.
@ - Tại sao trà dược lại có thể kéo dài tuổi thọ ?
     Trước hết, là do công dụng tuyệt vời của lá trà. Theo dược học cổ truyền, trà có thể vào được cả 5 đường kinh quan trọng là Tâm, Can, Tỳ, Phế và Thận, có công năng thanh đầu mục, trừ phiền khát, hoá đàm, tiêu thực, lợi niệu, giải độcNhiều y thư cổ gọi trà là “vạn bệnh chi dược” (thuốc chữa vạn bệnh), điều này không nên hiểu là khi bị bất cứ bệnh gì đều có thể dùng trà để chữa, mà ý nghĩa sâu xa là ở chỗ : nếu dùng trà thường xuyên và đúng cách thì có thể dự phòng và tránh được nhiều loại bệnh tật. Bởi thế, cổ nhân đã xếp trà vào nhóm các vị thuốc có công dụng “trị vị bệnh” (dự phòng bệnh tật, chữa bệnh từ khi bệnh chưa hoặc mới phát và phòng tránh các biến chứng có thể xảy ra khi đã mắc bệnh).
     Kể từ thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay, trà đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu sâu rộng của nhiều nhà khoa học và càng ngày người ta càng phát hiện ra nhiều tác dụng quý giá của trà. Ngoài những công dụng đã biết từ lâu như giải nhiệt chống khát, lợi niệu giải độc, kháng khuẩn tiêu viêm, kích thích tiêu hoá, tăng hưng phấn và cải thiện trí nhớ, chống viêm loét đường tiêu hoá, sáp tràng cầm đi lỏng, chống dị ứng, dự phòng sự hình thành sỏi tiết niệu và đường mật, kết quả nghiên cứu hiện đại còn cho thấy : trà có khả năng tăng cường chức năng miễn dịch, làm giảm mỡ máu, chống ôxy hoá và tiêu trừ các gốc tự do, chống phóng xạ, chống mệt mỏi và làm chậm quá trình lão hoá, làm giảm đường máu, dự phòng các bệnh lý như rối loạn tuần hoàn não, đái đường, gút, béo phì, cường giáp trạng, tình trạng thiếu máu và sinh tố, đặc biệt trà còn có khả năng phòng chống ung thư. Bởi vậy, công dụng dưỡng sinh trường thọ của trà là hoàn toàn có cơ sở khoa học.
     Thứ đến, là do công dụng của các vị thuốc y học cổ truyền. Tuỳ theo sự lựa chọn, bào chế, phối ngũ, liều dùng và cách dùng các vị thuốc khác nhau mà tạo nên các loại trà dược dưỡng sinh trường thọ khác nhau. Ngoài thành phần chủ yếu là các vị thuốc bổ (bổ khí, bổ huyết, bổ âm hoặc bổ dương) theo quan niệm của dược học cổ truyền, người ta còn dùng thêm một số  vị thuốc bệnh theo nguyên tắc “dĩ công vi bổ” (lấy công làm bổ) để nhằm mục đích cuối cùng là bồi bổ chính khí, nâng cao sức đề kháng của cơ thể, làm chậm quá trình lão hoá và kéo dài tuổi thọ, cổ nhân gọi là “dưỡng sinh diên thọ”. Nghiên cứu hiện đại đã chứng minh : thuốc bổ của y học cổ truyền có khả năng tăng cường và điều tiết chức năng miễn dịch của cơ thể ; cải thiện tình trạng vi tuần hoàn, làm tăng lưu huyết não, tăng khả năng ghi nhớ và sức chú ý, từ đó hạn chế và làm chậm quá trình lão hoá của não ; đồng thời còn ảnh hưởng tích cực tới quá trình chuyển hoá vật chất, tới hệ thống nội tiết, tuần hoàn, tiêu hoá, tạo huyết và vận độngBởi vậy, công năng dưỡng sinh trường thọ của các vị thuốc bổ trong y học cổ truyền cũng là điều dễ hiểu.
@ - Một số loại trà dược dưỡng sinh trường thọ điển hình
   * Nhân sâm cố bản trà :  Nhân sâm 120g, mạch môn 240g, thiên môn 240g, thục địa 240g, sinh địa 240g. Tất cả sấy khô tán vụn, mỗi ngày dùng 40 - 50g hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : ích khí dưỡng âm, phù chính cố bản, diên niên ích thọ ; dùng thích hợp cho những người thể chất gầy yếu, có bệnh lý hô hấp mạn tính, hay có cảm giác khó thở, môi khô miệng khát, đại tiện táoĐây là loại trà được ghi trong y thư cổ Trương thị y thông.
   * Ngũ phúc ẩm trà :  Thục địa 9g, đương quy 9g, nhân sâm 6g, bạch truật 6g, chích thảo 6g, gong tươi 3 lát, đại táo 2 quả. Tất cả tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 - 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : bổ khí dưỡng huyết, khứ bệnh diên niên ; dùng thích hợp cho những người trung lão niên ngũ tạng khí huyết suy nhược, sắc mặt nhợt nhạt, tinh thần mệt mỏi, chán ăn, mất ngủ, hay quênĐây là loại trà được ghi trong y thư cổ Cảnh Nhạc toàn thư.
   * Diên niên ích thọ bất lão trà :  Hà thủ ô 240g, địa cốt bì 120g, bạch linh 120g, sinh địa 90g, thục địa 90g, mạch môn 90g, thiên môn 90g, nhân sâm 90g. Tất cả sấy khô, tán vụn, mỗi ngày dùng 30 - 50g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 - 30 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : bổ thận ích tinh, ích thọ diên niên, dùng thích hợp cho những người trung lão niên thể chất suy nhược, mắc nhiều bệnh mạn tính, tinh thần mệt mỏi, dễ vã mồ hôi, lưng đau gối mỏi, đầu choáng mắt hoa, liệt dương, di tinh, suy giảm khả năng tình dục
   * Khứ bệnh diên niên trà :  Trà 1000g, hoa sen 2 đoá, hoa quế 60g, hoa đào 20g, cúc hoa 60g, nhan sâm 60g, kỷ tử 250g, đường phèn 250g. Các vị thuốc sấy khô, tán vụn, mỗi ngày dùng 20g hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, chế thêm một chút đường phèn, uống thay trà trong ngày. Công dụng : bổ ích nguyên khí, thanh điều ngũ tạng lục phủ, mỹ dung cường thận, điều lý âm dương, dùng lâu có thể khứ bệnh diên niên, dưỡng sinh ích thọ ; dùng thích hợp cho những người từ 40 tuổi trở lên.
   *Thủ ô giáng chi trà :  Đan sâm 20g, hà thủ ô 10g, cát căn 10g, tang ký sinh 10g, hoàng tinh 10g, cam thảo 6g, trà 6g. Tất cả sấy khô, tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : làm giảm mỡ máu, thông mạch, hoạt huyết khứ ứ, bổ âm ích khí ; dùng thích hợp cho những người bị rối loạn lipid máu, béo bệu, đầu choáng mắt hoa, ngực bụng đầy tức, ăn kém chậm tiêu, mắc các bệnh tim mạch. Đây là loại trà được ghi trong sách Kỳ hiệu lương phương tập thàn.
   * Ngũ tử diễn tông trà :  Kỷ tử 240g, thỏ ty tử 240g, phúc bồn tử 120g, xa tiền tử sao 60g, ngũ vị tử 30g. Các vị sấy khô, mỗi ngày dùng từ 20 - 30g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 30 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : bổ thận ích tinh, ích thọ diên niên ; chuyên dùng cho những người cơ thể suy nhược, nam giới liệt dương, di tinh, xuất tinh sớm, suy giảm chất lượng và số lượng tinh trùng ; nữ giới muộn con, suy giảm ham muốn tình dục, lưng đau gối mỏi, dầu choáng mắt hoa, rối loạn kinh nguyệt, tóc bạc sớmĐây là loại trà được ghi trong y thư cổ Y học nhập môn.
     Có thể thấy, trà dược dưỡng sinh trường thọ là một trong những phương thức dùng thuốc hết sức độc đáo của y học cổ truyền phương Đông. Chúng khá tự nhiên, dễ kiếm, dễ chế, dễ dùng và rất rẻ tiền. Điều cơ bản là phải sử dụng đúng cách và kéo dài thì mới mong đạt được hiệu quả như mong muốn. Nước ta có nguồn dược liệu phong phú, lại có nền y học cổ truyền lâu đời đã và đang ngày càng phát triển, thiết nghĩ việc đi sâu nghiên cứu vấn đề trà dược dưỡng sinh trường thọ với mục đích ích nước lợi dân là hết sức cần thiết.



                                                                                      Hoàng Khánh Toàn

Thứ Năm, 4 tháng 1, 2018

LIỆU PHÁP TỰ NHIÊN DƯỠNG DA

LIỆU PHÁP THIÊN NHIÊN LÀM ĐẸP DA MẶT




     Thật khó có thể kể hết các loại hoá mỹ phẩm có công dụng làm đẹp da mặt có mặt trên thị trường hiện nay. Tuy nhiên, không ít người vẫn thích các biện pháp làm đẹp đơn giản bằng cách sử dụng các loại rau quả, thảo dược thông dụng hàng ngày vì tính an toàn, dễ kiếm, rẻ tiền và có hiệu quả của chúng. Ví như một số liệu pháp cụ thể dưới đây :
- Cà chua lượng vừa đủ, nghiền nát, dùng vải màn lọc lấy nước, hoà thêm một chút mật ong rồi xoa lên da mặt mỗi ngày 2 lần. Công dụng : làm nhuận và trắng da, phòng chống lão hoá da.
- Nhân hạt đào 280g, nấu cháo loãng, lọc lấy nước rồi bỏ nhân hạt đào vào ninh nhừ, nghiền nát thành dạng hồ, cho vào lọ kín để dùng dần (bảo quản trong tủ lạnh). Mỗi ngày 2 lần, mỗi lần lấy một ít, hâm nóng rồi rửa mặt. Công dụng : hoạt huyết hoá ứ, làm nhuận và trắng da.
- Lá dâu hái vào mùa đông không kể nhiều ít, rửa sạch, sắc kỹ, lọc lấy nước đựng trong bình kín để dùng dần. Mỗi buổi sáng lấy 30 ml nước thuốc hoà với nước ấm rửa mặt. Công dụng : khu phong thanh nhiệt, làm đẹp da mặt.
- Sáp ong và dầu vừng (tỷ lệ 5/1) hoà lẫn với nhau, mỗi ngày thoa lên da mặt 1 lần. Công dụng : làm nhuận và trắng da.
- Chuối tiêu 1/2 quả nghiền nát, hoà thêm một chút sữa tươi rồi xoa lên mặt, mỗi tuần 3 lần. Công dụng : làm da mịn màng và trắng đẹp.
- Trứng gà mới đẻ 3 quả, rượu tốt lượng vừa đủ. Ngâm trứng gà vào trong bình rượu, bịt kín, 28 ngày sau thì dùng dùng được. Mỗi tối trước khi đi ngủ dùng rượu trứng thoa đều lên da mặt. Công dụng : làm nhuận da, phòng chống các nếp nhăn.
- Nước chanh 50 ml, bột mì 3 thìa, hai thứ trộn đều với nhau thành dạng hồ. Rửa sạch mặt rồi thoa hồ thuốc lên thành một màng mỏng, sau 30 phút thì lau sạch. Công dụng : làm da nhu nhuận, trắng đẹp và phòng chống nếp nhăn.
- Móng lợn 4 cái, rửa sạch, cho vào nồi ninh kỹ thành dạng keo đặc là được, đựng trong lọ kín dùng dần. Mỗi tối trước khi đi ngủ lấy một chút keo này thoa đều lên mặt, sáng hôm sau dùng nước ấm rửa sạch. Công dụng : Làm da mềm min và chống nếp nhăn. Bảo quả keo thuốc trong tủ lạnh.
- Trứng gà mới đẻ 1 quả, mật ong 1 thìa. Đập trứng lấy lòng trắng, quấy cho sủi bọt,  cho mật ong vào hoà đều rồi thoa lên da mặt thành một lớp mỏng, chờ cho khô dùng nước ấm rửa sạch, mỗi tuần làm 2 lần. Công dụng : làm mềm và trắng da, nếu da dầu thì cho thêm 1 thìa nước chanh.
- Hạnh nhân và lòng trắng trứng lượng vừa đủ. Ngâm hạnh nhân vào nước nóng để tróc vỏ, giã thật nát, đem trộn đều với lòng trắng trứng. Mỗi tối trước khi đi ngủ dùng cao thuốc bôi đều lên da mặt, sáng hôm sau dùng nước ấm rửa sạch. Công dụng : trừ phong, nhuận da, chống nhăn.
- Bầu tươi 1 quả, bột ngó sen, lòng đỏ trứng gà lượng vừa đủ. Bầu bỏ vỏ, thái miếng, nghiền nát, lọc lấy nước rồi hoà đều với bột ngó sen và lòng đỏ trứng gà. Dùng dịch thuốc thoa đều lên mặt, sau 20 phút dùng nước ấm rửa sạch, mỗi ngày làm 1 lần. Công dụng : làm mềm, ẩm và đẹp da.
- Lòng đỏ trứng gà 1 quả, sữa chua 3 thìa, mật ong 1 thìa. Ba thứ đem hoà đều rồi bôi lên mặt, sau 10 phút dùng nước ấm rửa sạch. Công dụng làm sạch và đẹp da mặt, đặc biệt tốt với da dầu.
- Lòng đỏ trắng gà 1/2 quả, vitamin E 0,4g 5 viên. Trộn lòng đỏ trứng gà với vitamin E rồi thoa lên da mặt, sau 20 phút dùng nước ấm rửa sạch. Công dụng : làm mềm, sạch và đẹp da mặt, thích hợp với loại da dầu.

                                                                                   Hoàng Khánh Toàn