Thứ Ba, ngày 29 tháng 7 năm 2014

Ngâm chân chữa mất ngủ

NGÂM CHÂN CHỮA CHỨNG MẤT NGỦ



     Thời hiện đại, khi nhịp sống và làm việc quá nhanh và căng thẳng thì mất ngủ là chuyện không hiếm gặp. Khi lâm vào tình trạng này, thông thường người ta hay lấy các thuốc trấn tĩnh, an thần của y học hiện đại làm cứu cánh. Nhưng, không hiếm khi, các thuốc này cũng tỏ ra bất lực, đó là chưa kể đến những tác dụng không mong muốn mà chúng đem lại. Lúc này, nhiều khi, những biện pháp giàu tính tự nhiên của y học cổ truyền như xoa bóp, bấm huyệt, tập luyện khí công dưỡng sinh…lại tỏ ra có vai trò khá hữu hiệu, trong đó không thể không kể đến phương pháp ngâm chân trước ngủ mà đông y gọi là Dược dục liệu pháp. Có thể dẫn ra một số công thức cụ thể như sau :

* Công thức 1 :  Nước ấm tự nhiên 1 chậu, ngâm cả hai chân trong 20 phút, mỗi ngày 1 - 2 lần nhưng nhất thiết phải có 1 lần trước khi ngủ tối, đúng như cổ nhân đã nói : “ Sau ăn 300 bước, trước ngủ một chậu ngâm”. Tuỳ theo điều kiện thời tiết và tính mẫn cảm của từng người, nhiệt độ nước ngâm vào khoảng từ 38 - 43°C.
* Công thức 2 :  Ngô thù du 20g, dấm gạo lượng vừa đủ. Sắc kỹ ngô thù du lấy nước bỏ bã rồi hoà thêm dấm gạo, ngâm cả hai chân trong 30 phút, mỗi ngày 1 lần trước khi ngủ tối. Theo y học cổ truyền, công thức này có tác dụng làm cho hai tạng Tâm và Thận giao hoà được với nhau, từ đó làm cho giấc ngủ có chất lượng hơn.
* Công thức 3 :  Từ thạch 20g, chích ngũ gia 20g, phục thần 15g, ngũ vị tử 10g. Trước tiên, sắc từ thạch trong 30 phút rồi cho các vị thuốc khác vào sắc tiếp 30 phút nữa là được, bỏ bã lấy nước ngâm chân trong 20 phút, mỗi tối 1 lần kết hợp với việc dùng nước thuốc xoa nhiều lần lên vùng trán và thái dương.
* Công thức 4 :  Từ thạch 20g, sinh long cốt 15g, cúc hoa 15g, hoàng cầm 12g, dạ giao đằng 20g. Tất cả các vị đem sắc lấy nước ngâm chân mỗi tối trước khi đi ngủ trong 30 phút. Công thức này rất thích hợp cho những người bị mất ngủ kèm theo đau đầu, hay có cơn bốc hoả, trong ngực bụng cồn cào, bức bối không yên…
* Công thức 5 :  Đan sâm 20g, bạch truật 15g, hoàng liên 12g, viễn chí 10g, toan táo nhân 15g, trân châu mẫu 10g. Tất cả các vị thuốc đem sắc kỹ lấy nước ngâm chân trong 30 phút, mỗi ngày 1 lần trước khi ngủ tối.

     Để làm tăng công dụng tĩnh tâm an thần, trong khi ngâm chân nên kết hợp với thư giãn, toàn thân thả lỏng, thở đều, nhẹ và sâu. Sau đó, có thể dùng các ngón tay day ấn vùng thái dương, miết vùng trán và xoa xát vùng gáy trong vài phút. Đương nhiên, việc điều chỉnh chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chủ động điều tiết đời sống tình cảm, hạn chế đến mức thấp nhất các yếu tố làm căng thẳng thần kinh...là không thể thiếu được.



Những bài thuốc trị thiểu năng tuần hoàn não

NHỮNG BÀI THUỐC ĐƠN GIẢN CHỮA THIỂU NĂNG TUẦN HOÀN NÃO




     Thiểu năng tuần hoàn não (TNTHN) là tình trạng bệnh lý thường gặp ở người có tuổi và hiện nay đang có xu hướng gia tăng. Có hai nguyên nhân chính : một là do các mảng vữa xơ làm hẹp lòng động mạch cung cấp máu nuôi não, hai là do hư xương sụn cột sống cổ gây nên tình trạng thiểu năng hệ động mạch đốt sống - thân nền. Cả hai nguyên nhân đều đưa đến hậu quả làm tổ chức não thiếu dưỡng khí và từ đó phát sinh hàng loạt triệu chứng như : đau nặng đầu, hoa mắt chóng mặt, ù tai, giảm trí nhớ, rối loạn cảm xúc, tê bì tay chân, mất ngủ...
     Trong y học cổ truyền, TNTHN thuộc phạm vi các chứng “huyễn vựng”, “đầu thống”, “thất miên”, “tiểu trúng phong”...với các biện pháp trị liệu hết sức phong phú từ dùng thuốc, châm cứu, xoa bóp đến khí công, dưỡng sinh, y thực trị...Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu một số bài thuốc đông y rất đơn giản trong cấu trúc cũng như về cách dùng để bạn đọc có thể tham khảo và vận dụng khi cần thiết.
   Bài 1 :  Sắn dây tươi (sinh cát căn) 15 - 18g, câu đằng 6 - 9g. Hai vị thái vụn trộn đều, mỗi lần lấy 20 - 30g cho vào túi vải hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 - 30 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : thăng thanh sinh tân, bình can tức phong, dùng rất tốt cho người bị TNTHN do hư xương sụn cột sống cổ có huyết áp cao, đầu gáy cứng đau, tai ù tai điếc. Tuy nhiên, người dễ bị đi lỏng do tỳ vị hư yếu thì không nên dùng bài thuốc này.
   Bài 2 :  Thiên ma 10g, bán hạ chế 9g, xuyên khung 7g, sa tiền tử 15g. Các vị tán vụn trộn đều, mối lần lấy 40g cho vào túi vải, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dung : tức phong, sáng mắt, táo thấp, hoá đàm, dùng thích hợp với những người bị TNTHN biểu hiện triệu chứng mình mấy nặng nề, hay chóng mặt, buồn nôn, lợm giọng, đại tiện lỏng nát...Những người bị âm hư hoả vượng, hay phiền táo thì không nên dùng bài này.
   Bài 3 :  Nấm linh chi 3 - 5 g thái vụn, hãm với nước sôi uống thay trà trong ngày, mỗi ngày từ 1 - 2 lần. Công dụng : bổ hư, an thần, chỉ khái, bình suyễn, giáng áp, dùng thích hợp cho những người bị TNTHN có cao huyết áp, thiểu năng mạch vành, rối loạn lipid máu và đường huyết cao.
   Bài 4 :  Nấm linh chi 10g, hà thủ ô chế 15g, ngọc trúc 15g, kỷ tử 15g, nữ trinh tử 15g, thạch xương bồ 10g. Tất cả đem sắc lấy nước uống, mỗi ngày 1 thang. Công dụng : bổ ích can thận, dùng rất tốt cho những người bị TNTHN do vữa xơ động mạch.
   Bài 5 :  Thảo quyết minh, đan sâm, xuyên khung, sơn tra, liều lượng như nhau. Tất cả đem thái vụn, sao thơm, mỗi lần dùng 20 - 30g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng : hoạt huyết hoá ứ, làm giảm cholesterol máu. Phụ nữ có thai hoặc đang hành kinh thì không nên dùng bài này.
   Bài 6 :  Hồng hoa 10g, đan sâm 30g, sinh sơn tra 30g. Tất cả đem sắc kỹ lấy nước uống, mỗi ngày 1 thang, chia uống 2 lần sáng và chiều. Công dụng : Hoạt huyết, hoá ứ, tiêu trệ, làm giảm cholesterol máu, dùng thích hợp cho những người bị TNTHN có cao huyết áp, thiểu năng mạch vành và rối loạn lipid máu. Phụ nữ có thai hoặc đang hành kinh thì không nên dùng bài này.
   Bài 7 :  Sinh địa sấy khô 12g, mạch môn 12g, huyền sâm 12g, thạch hộc 9g, nữ trinh tử 9g, nhục dung 9g. Tất cả đem sắc lấy nước uống mỗi ngày 1 thang, chia uống 2 lần sáng và chiều. Công dụng : thanh nhiệt tư âm, bổ can ích thận, dùng thích hợp cho những người bị TNTHN có các chứng đầu choang mắt hoa, tứ chi tê bì, khó thở tức ngực, miệng khô họng ráo, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ. Người có chứng đàm thấp, tỳ vị hư yếu dễ đi lỏng thì không nên dùng bài thuốc này.
   Bài 8 :  Đan sâm 100g, tam thất 20g. Cả hai thứ đem sao thơm rồi tán thành bột mịn, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 5g. Công dụng : hoạt huyết, bổ huyết, dùng thích hợp cho những người bị TNTHN có thiếu máu cơ tim, vữa xơ động mạch. Phụ nữ có thai hoặc đang hành kinh thì không nên dùng bài thuốc này.
     Các bài thuốc trên đây đều rất dễ kiếm, dễ chế, dễ dùng và rẻ tiền, nếu sử dụng thường xuyên chắc chắn sẽ thu được kết quả ở các mức độ khác nhau. Hầu hết các vị thuốc nêu trên đều đã được nghiên cứu trên thực nghiệm và lâm sàng chứng minh là có tác dụng cải thiện tuần hoàn não, tuần hoàn vành tim, điều chỉnh rối loạn lipid máu, phòng và chống tắc mạch. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả như mong muốn, lời khuyên và sự chỉ dẫn tỉ mỉ của các thầy thuốc y học cổ truyền bao giờ cũng là điều hết sức cần thiết.




Bảo vệ sức khỏe trong du lịch

BẢO VỆ SỨC KHOẺ TRONG DU LỊCH


     Trong mươi năm gần đây, khi đời sống vật chất ngày càng được cải thiện thì nhu cầu du lịch cũng ngày càng tăng lên. Đi đó đi đây, lên núi trông cây, xuống biển vờn sóng, đến với những di tích lịch sử văn hoá kỳ vĩ..., con người ta chẳng những có dịp để rèn luyện thể chất, tăng thêm hiểu biết mà còn có cơ hội đắm mình vào thiên nhiên cây cỏ, thả hồn theo mây gió để gạt đi bao nỗi mệt mỏi, buồn phiền của cuộc sống căng thẳng thường nhật. Du lịch bổ dưỡng sức khoẻ, nhưng du lịch cũng lại đòi hỏi ở người ta sự khoẻ mạnh về cả thể chất và tinh thần.

@ Những yếu tố bất lợi cho sức khoẻ khi du lịch
     Trước hết, đó là sự thay đổi đột ngột về môi trường tự nhiên, trong đó phải kể đến các yếu tố như địa lý, khí hậu, thuỷ thổ...Những yếu tố này dù có thuận lợi cũng làm cho một số chức năng sinh lý tạm thời bị rối loạn, buộc cơ thể phải huy động mọi cơ chế điều tiết để thích nghi. Ví như, mùa đông đi từ miền bắc vào miền nam hoặc ngược lại, cơ thể phải chịu sự thay đổi rất lớn của nhiệt độ ; mùa hạ người miền nam ra miền bắc sẽ cảm thấy rất khó chịu, dễ đau nhức xương khớp vì không khí ẩm thấp ; người ở miền xuôi lên vùng cao thường có cảm giác mệt mỏi, nặng đầu, mất ngủ...vì nồng độ oxy trong không khí thấp hơn ; thực phẩm và cách chế biến món ăn ở mỗi vùng mỗi khác khiến cho du khách ăn uống không ngon miệng, thậm chí có thể phát sinh rối loạn tiêu hoá, đặc biệt ở những người vốn có những bệnh lý dạ dày, ruột mạn tính...
     Thứ hai, là sự thay đổi và thiếu thốn về điều kiện sinh hoạt, nhất là ở những nơi dịch vụ đảm bảo chưa tốt. Nơi ăn chốn ở chật hẹp và không tiện nghi, thực phẩm và món ăn không hợp khẩu vị, giá cả đắt đỏ, phương tiện giao thông đi lại hạn chế, nhịp điệu sinh hoạt bị đảo lộn...đều ít nhiều ảnh hưởng đến sức khoẻ của du khách và dễ làm phát sinh tình trạng rối loạn giấc ngủ, chán ăn, rối loạn tiêu hoá, căng thẳng mệt mỏi..., đặc biệt là ở những người vốn mắc các bệnh lý thần kinh, tiêu hoá mạn tính.
     Thứ ba, là yêu cầu về năng lượng của cơ thể cho hoạt động du lịch là khá lớn. Mặc dù không phải lao động nặng nhọc nhưng du lịch đòi hỏi nguồn sức lực không nhỏ để giúp cho cơ thể thích nghi với sự thay đổi của môi trường tự nhiên và điều kiện sống, đồng thời có thể tham gia các hoạt động thể lực như đi bộ, leo núi, tắm biển, bơi thuyền...
     Cuối cùng, trong khi du ngoạn điều kiện vệ sinh thường không được tốt do xe cộ chật chội, nước sạch dễ thiếu, các đồ vệ sinh khó mua, nhà cầu không đảm bảo, thực phẩm dễ bị ôi thiu...là điều kiện thuận tiện cho tật bệnh phát sinh và phát triển.

@ Những tật bệnh thường gặp khi du lịch
     Trước hết, đó là chứng say tàu xe, hay xảy ra đối với phụ nữ và trẻ em ở các mức độ khác nhau : nhẹ thì buồn nôn, hoa mắt chóng mặt, rạo rực khó chịu ; nặng thì nôn mật mật vàng, sắc mặt nhợt nhạt, vã mồ hôi lạnh, thậm chí có thể tụt huyết áp, rối loạn nhịp tim...
     Thứ hai, là tình trạng rối loạn giấc ngủ thường xảy ra đối với người có tuổi, chủ yếu là do thay đổi chỗ ngủ, giờ giấc sinh hoạt bị đảo lộn, trạng thái mệt mỏi và căng thẳng thần kinh do mất cân bằng giữa hai quá trình hưng phấn và ức chế, các chứng đau (đau khớp, đau lưng...) do thay đổi môi trường tự nhiên và vận động thể lực quá mức...
     Thứ ba, là tình trạng rối loạn tiêu hoá do nhiều nguyên nhân khác nhau như nhiễm trùng nhiễm độc ăn uống, viêm dạ dày - ruột cấp tính, đợt cấp của viêm đại tràng mạn tính...xảy ra do điều kiện vệ sinh không tốt, đồ ăn thức uống không sạch, khó tiêu hoặc đã biến chất, giờ giấc ăn uống bị đảo lộn, tình trạng no đói thất thường...Biểu hiện bằng các mức độ khác nhau : nhẹ thì đầy bụng, chậm tiêu, buồn nôn, đi lỏng ; nặng thì phát sốt, đau bụng, thượng thổ hạ tả, thậm chí có thể tụt huyết áp do mất nước và điện giải...
     Thứ tư, là chứng bệnh cảm mạo gây ra do cơ thể mệt mỏi, sức đề kháng suy giảm, mất mồ hôi nhiều do nóng bức và hoạt động thể lực nhiều, lạm dụng đồ uống lạnh làm giảm sức chống đỡ của niêm mạc mũi họng tạo điều kiện thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh xâm nhập. Hơn nữa, các khu du lịch thường rất đông người, chỉ cần một vài người bị cảm cúm là có thể lây lan rất nhanh sang những người khác. Biểu hiện chủ yếu là ngây ngấy sốt, rát họng, sổ mũi, hắt hơi, đau đầu, đau mình mẩy, thậm chí có thể sốt cao, ho nhiều...
     Thứ năm, là các hiểm hoạ bất ngờ như tai nạn giao thông, chấn thương do trượt ngã khi leo đồi núi, chết đuối do bơi qua vùng nước chảy xiết hoặc tai nạn đắm tàu thuyền...Những tai nạn này có xu hướng ngày càng tăng về cả số lượng và mức độ thương vong cùng với đà phát triển của giao thông vận tải và du lịch.
Ngoài ra, khi du lịch ở những vùng sơn dã, du khách còn có thể bị các loài trùng thú tấn công gây thương tích, bệnh tật và thậm chí có khi nguy hại đến tính mạng như rắn rết và nhện độc cắn, muỗi và ong đốt...
     Cuối cùng, là các chứng bệnh ít gặp hơn như dị ứng vùng cao, đau buốt tai khi đi máy bay, tê buốt tay và viêm niệu đạo khi đi du lịch bằng xe đạp dài ngày. Điều cần nói thêm là khi du lịch cũng cần phải đề phòng sự tái phát của các bệnh lý mạn tính, trong đó đặc biệt chú ý bệnh hen suyễn, cao huyết áp, cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, rối loạn nhịp tim...

@ Bảo vệ sức khoẻ khi du lịch
   * Về ăn uống
     Đây là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng đối với sức khoẻ vì đó là nguồn bổ sung năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết để khôi phục và giữ gìn thể lực. Về nguyên tắc, khi du lịch phải đảm bảo ăn uống đủ số lượng, có chất lượng, đảm bảo vệ sinh và hợp khẩu vị. Muốn vậy, cần chú ý ăn nhiều thức ăn giàu nhiệt lượng nhưng phải mềm lỏng và dễ tiêu, uống đủ nước và đảm bảo có đủ rau xanh, hoa quả tươi.
     Nếu du lịch dài ngày và ở những nơi hoang vu, thưa dân, điều kiện dịch vụ hạn chế thì nên mang theo một số thực phẩm cần thiết để tránh sự thay đổi đột ngột về thói quen ăn uống, đảm bảo hợp khẩu vị và đỡ tốn kém. Những thực phẩm mang theo phải có tính cân đối, bên cạnh những thứ giàu tinh bột như mỳ, cháo, phở ăn liền...cần có thêm các thực phẩm giàu đạm và chất béo như thịt cá hộp, xúc - xích, lạp xưởng, sữa bột, bột đậu, trứng...và các loại hoa quả tươi có chứa nhiều nước (nói theo dinh dưỡng học cổ truyền là có tính thanh nhiệt sinh tân dịch) như dưa chuột, dưa hấu, cam, quýt, lê, táo, nho...Nên trọng dụng nước khoáng và nước trà vì cả hai đều có tác dụng thanh nhiệt, kích thích tiêu hoá, nước khoáng cung cấp các chất điện giải và làm kiềm hoá nước tiểu, nước trà còn có tác dụng làm cho đầu óc tỉnh táo.
     Nếu du lịch ngắn ngày và vào mùa hè thì không cần mang theo thức ăn hoặc chỉ mang rất ít vì trời nóng dễ làm thức ăn chóng ôi thiu biến chất. Nếu du lịch vào mùa đông thì có thể mang theo nhiều thực phẩm. Cần chú ý không dùng nhiều đồ ăn sống lạnh và cố gắng ăn uống đúng giờ giấc để tránh làm thương tổn tỳ vị.
   * Về môi trường
     Điều quan trọng là làm sao cho cơ thể nhanh chóng thích nghi với điều kiện tự nhiên nơi du lịch. Muốn vậy, trước hết cần căn cứ vào tình hình cụ thể về sức khoẻ, bệnh tật, tuổi tác, kinh tế...để lựa chọn nơi đến du ngoạn sao cho phù hợp, tránh phiêu lưu mạo hiểm. Tốt nhất nên tìm đến những nơi có không khí trong lành, nhiều ánh nắng mặt trời, đất đai phì nhiêu, cây cỏ tươi tốt, điều kiện dịch vụ đầy đủ, con người sống nhân hậu và sống thọ. Vùng cao sơn thanh thuỷ tú (có núi không cao lắm mà luôn xanh tươi, có sông không sâu lắm mà nước trong vắt), cảnh sắc tươi đẹp mà yên tĩnh thoáng mát ; vùng biển không khí ít bị ô nhiễm, nhiều gió và nắng, cảnh vật khoáng đạt mà thả rộng tầm mắt, thực phẩm phong phú mà giàu chất dinh dưỡng...chính là những nơi du lịch lý tưởng và rất có lợi cho sức khoẻ.
     Thứ hai, là phải chú ý khắc phục tình trạng “lạ nước lạ cái” “không hợp thuỷ thổ”. Muốn vậy, trước khi du lịch cần kiểm tra sức khoẻ, luyện tập sức chịu đựng với điều kiện thời tiết không thuận lợi, bồi bổ sức lực bằng ăn uống và dùng thuốc. Khi du lịch cần chú ý chống nắng, chống nắng hoặc chống rét, chống gió lùa, phòng chống muỗi và côn trùng đốt, thận trọng khi sử dụng những đồ ăn thức uống lạ, dần dần thay đổi khẩu phần ăn để cơ thể dễ thích nghi với tập quán ăn uống tại nơi du lịch.
     Cuối cùng, là không nên coi thường vệ sinh môi trường trên đường du lịch. Điều này rất quan trọng vì điều kiện vệ sinh trên đường du lịch thường không được tốt. Muốn vậy, cần chú ý chuẩn bị đầy đủ những vật dụng cần thiết như nước uống, đồ vệ sinh cá nhân, giấy vệ sinh, túi đựng chất nôn, phương tiện chống nóng hoặc chống rét...
   * Về dùng thuốc bảo vệ sức khoẻ
     Dùng thuốc trong khi du lịch nhằm hai mục đích : bổ dưỡng sức khoẻ và dự phòng bệnh tật. Như trên đã nói, hoạt động du lịch thường làm cho cơ thể phải tiêu hao khá nhiều sức lực, cho nên bên cạnh việc bồi bổ bằng ăn uống rất cần phải nâng cao chính khí (sức đề kháng của cơ thể) bằng dược vật. Tuy nhiên, khi lựa chọn thuốc bổ cũng phải căn cứ vào tình trạng sức khoẻ và tật bệnh của từng người mà sử dụng cho phù hợp để nhằm đạt được hiệu quả cao và phòng tránh các tác dụng phụ không mong muốn. Ví như, nhân sâm và các chế phẩm của nó là một trong những loại thuốc bổ khí có tác dụng phục hồi sức khoẻ, tăng sức dẻo dai về cả thể lực và tinh thần, rất cần có trong hành trang của du khách, nhưng với những người bị cao huyết áp hoặc các bệnh lý khác thuộc thể Âm hư biểu hiện bằng các triệu chứng như người gầy, hay có cảm giác sốt nóng về chiều, lòng bàn tay và bàn chân nóng, trong ngực bức bối không yên, hay khát, đổ mồ hôi trộm, miệng khô họng khát, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ...thì không nên dùng. Ngoài nhân sâm, một số vị thuốc khác cũng có thể dùng khi du lịch như : nấm linh chi và các chế phẩm của nó có công dụng bổ khí dưỡng huyết, hoạt huyết, rất có lợi cho việc cải thiện công năng tim mạch ; bột tam thất chín, trà kỷ tử, trà hà thủ ô...có tác dụng bổ huyết ; đông trùng hạ thảo, nhung hươu, hải mã...có công dụng bổ dương (nên dùng dưới dạng bột cho thuận tiện)
     Mặt khác, một số thuốc và vật dụng y tế cần đem theo trong khi du lịch còn nhằm mục đích dự phòng bệnh tật, nhất là đối với những người có bệnh mạn tính dễ tái phát, trong tình huống du lịch đường trường đến những nơi heo hút, xa cơ sở y tế, tình hình thời tiết không thuận lợi... Tuỳ theo hành trình xa hay gần, số lượng người nhiều hay ít, tình hình thời tiết, tuổi tác, sức khoẻ...mà quyết định chủng loại và số lượng thuốc đem theo, nhưng chắc chắn không thể thiếu những thứ thông dụng như : cồn y tế, bông, băng thường và băng dính ; thuốc chống cảm cúm và lỏng lỵ thông thường, thuốc chống say tàu xe, thuốc giảm đau và kháng sinh thường dùng, dầu gió, thuốc tím, trà gừng...và các thuốc đang điều trị duy trì cho du khách có bệnh mạn tính theo đơn của thầy thuốc, đặc biệt là các thuốc tim mạch, các thuốc dùng cho người có bệnh cơ địa như thuốc hen, thuốc chống dị ứng...

@ Dự phòng một số bệnh thường gặp khi du lịch
   * Say tàu xe :  trước khi lên tàu xe không nên ăn quá no và cũng không nên để bụng đói, uống thuốc chống nôn theo chỉ dẫn, có thể dùng cao salonpas dán vào rốn. Ngồi trên xe mắt nhìn thẳng ra xa, nên chọn nơi thoáng gió, miệng ngậm một lát gừng tươi hoặc ô mai gừng, dùng ngón tay cái day ấn huyệt Nội quan (ở mặt trước cẳng tay, phía trên lằn chỉ cổ tay chừng 4 cm, ở giữa hai gân nổi khi gấp bàn tay vào cẳng tay). Khi xe quay đầu, lượn vòng hoặc đi vào chỗ đường xóc nên ngả người theo xe. Khi máy bay cất hoặc hạ cánh nên hít một hơi thật sâu để hạn chế cảm giác khó chịu.
   * Rối loạn tiêu hoá :  điều quan trọng đầu tiên là phải đảm bảo vệ sinh trong ăn uống, không ăn thực phẩm đã biến chất, hoa quả và rau cỏ ăn sống phải được rửa sạch và tiệt trùng bằng dung dịch thuốc tím trước khi ăn, nước uống nhất thiết phải được nấu chín. Thứ đến là phải trọng dụng các đồ ăn thức uống quen thuộc, ấm nóng và dễ tiêu, rất thận trọng khi dùng các thực phẩm mới lạ, chú ý sử dụng các gia vị có tính ấm nóng và kích thích tiêu hoá như tỏi, gừng, hạt tiêu..., đồ uống nên dùng các loại trà dân gian có lợi cho đường tiêu hoá như trà nụ vối, trà vằng, trà gừng...Cuối cùng, những người bị viêm dạ dày ruột mạn tính nên mang theo đủ thuốc dự phòng, có thể mạnh dạn uống một trong những chế phẩm đông dược như Sâm linh bạch truật tán, Đại tràng hoàn PH, Bổ trung ích khí hoàn...
   * Cảm mạo :  cần chú ý tránh bị lạnh đột ngột, không lạm dụng đồ uống có nhiều nước đá, nhiệt độ phòng ngủ có máy điều hoà không nên để quá thấp, súc miệng nước muối hàng ngày hoặc ngậm kẹo bạc hà để phòng chống viêm họng, nên dùng nhiều tỏi trong bữa ăn, hạn chế tiếp xúc với những người bị cảm cúm, trọng dụng các loại trà dược cổ truyền như trà ngọc bình phong tán, trà kim ngân, trà cúc hoa...
                                                                            


Người bị acid urics máu cao nên ăn gì

NHỮNG NGƯỜI CÓ ACID URIC MÁU CAO NÊN ĂN GÌ ?



     Trong mươi năm gần đây, cùng với các bệnh lý rối loạn chuyển hoá như hội chứng rối loạn lipid máu và bệnh tiểu đường, số lượng những người có acid uric máu cao có xu hướng ngày càng gia tăng, chủ yếu ở nam giới. Một bộ phận đã có những biểu hiện của bệnh gút thực sự với những triệu chứng đau khớp cấp hoặc mạn tính, nhưng phần đông hầu như chưa có chứng trạng gì đặc biệt.
     Có thể nói, nguyên nhân trực tiếp gây bệnh gút là acid uric. Trong cơ thể, acid uric được tạo thành từ ba nguồn : thoái giáng từ các chất có nhân purin do thức ăn đưa vào, thoái giáng các chất có nhân purin từ trong cơ thể và tổng hợp các purin từ con đường nội sinh. Để giữ cân bằng, hàng ngày acid uric phải được thải trừ ra ngoài, chủ yếu theo nước tiểu, một phần qua phân và các con đường khác. Vì lý do nào đó lượng acid uric trong máu tăng cao thì sẽ lắng đọng ở một số tổ chức và cơ quan dưới dạng tinh thể, đặc biệt là ở khớp mà gây ra bệnh gút. Bởi vậy, một trong những biện pháp quan trọng để phòng chống acid uric trong máu tăng cao là nên chọn dùng các thực phẩm không hoặc ít có nhân purin và có công dụng tăng cường đào thải acid uric qua đường tiết niệu. Có thể dẫn ra một số thực phẩm thông dụng như sau :

   * Rau cần :  Cần trồng dưới nước tính mát, vị ngọt có công dụng thanh nhiệt lợi thuỷ. Cần trồng trên cạn tính mát, vị đắng ngọt, có công dụng thanh nhiệt, khu phong và lợi thấp. Cả hai loại đều có thể dùng, đặc biệt tốt trong giai đoạn gút cấp tính. Rau cần rất giàu các sinh tố, khoáng chất và hầu như không chứa nhân purin. Có thể ăn sống, ép lấy nước uống hoặc nấu canh ăn hàng ngày.
   * Xúp lơ :  Là một trong những loại rau rất giàu sinh tố C và chứa ít nhân purin (mỗi 100g chỉ có dưới 75 mg). Theo dinh dưỡng học cổ truyền, xúp lơ tính mát, vị ngọt, có công dụng thanh nhiệt, lợi tiểu và thông tiện nên là thực phẩm rất thích hợp cho người có acid uric máu cao.
   * Dưa chuột :  Là loại rau kiềm tính, giàu sinh tố C, muối kali và nhiều nước. Muối kali có tác dụng lợi niệu nên người bị gút cần ăn nhiều dưa chuột. Theo dinh dưỡng học cổ truyền, dưa chuột tính mát, vị ngọt, có công dụng thanh nhiệt lợi thuỷ, sinh tân chỉ khát và giải độc nên loại rau có khả năng bài tiết tích cực acid uric qua đường tiết niệu.
   * Cải xanh :  Cũng là loại rau kiềm tính, giàu sinh tố C, muối kali và hầu như không chứa nhân purin. Cải xanh có tác dụng giải nhiệt trừ phiền, thông lợi tràng vị. Sách Trấn nam bản thảo cho rằng cải xanh còn có tác dụng “lợi tiểu tiện”, rất thích hợp với người bị thống phong (bệnh gút).
   * Cà :  Cà pháo, cà bát, cà tím...đều có tác dụng hoạt huyết tiêu thũng, khứ phong thông lạc, thanh nhiệt chỉ thống. Đây cũng là loại thực phẩm kiềm tính và hầu như không chứa nhân purin. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, cà còn có tác dụng lợi niệu ở một mức độ nhất định.
   * Cải bắp :  Là loại rau hầu như không có nhân purin, rất giàu sinh tố C và có tác dụng lợi niệu. Sách Bản thảo cương mục thập di cho rằng cải bắp có công dụng “bổ tinh tuỷ, lợi ngũ tạng lục phủ, lợi quan tiết (có ích cho khớp), thông kinh hoạt lạc” nên là thực phẩm rất tốt cho người có acid uric máu cao.
   * Củ cải :  Tính mát, vị ngọt, có công dụng “lợi quan tiết”, “hành phong khí, trừ tà nhiệt” (Thực tính bản thảo), “trừ phong thấp” (Tuỳ tức cư ẩm thực phổ), rất thích hợp với người bị phong thấp nói chung và thống phong nói riêng. Đây cũng là loại rau kiềm tính, giàu sinh tố, nhiều nước và hầu như không có nhân purin.
   * Khoai tây :  Là một thực phẩm kiềm tính, giàu sinh tố C và muối kali. Trong thành phần hoá học hầu như không có nhân purin. Theo dinh dưỡng học cổ truyền, khoai tây tính bình, vị ngọt, có công dụng bổ khí, kiện tỳ, là thực phẩm thích hợp cho những người tỳ vị hư nhược, mắc các chứng bệnh ung thư, viêm loét đường tiêu hoá, cao huyết áp và thống phong.
   * Bí đỏ :  Tính ấm, vị ngọt, có công dụng bổ trung ích khí, giảm mỡ máu và hạ đường huyết. Sách Trấn nam bản thảo cho rằng nam qua (bí đỏ) có tác dụng thông kinh hoạt lạc và lợi tiểu tiện. Đây cũng là loại thực phẩm kiềm tính và hầu như không chứa nhân purin, là thực phẩm lý tưởng cho những người bị cao huyết áp, rối loạn lipid máu, béo phì và tăng acid uric trong máu.
   * Bí xanh : Tính mát, vị ngọt đạm, có tác dụng thanh nhiệt tiêu đàm, lợi tiểu tiện, giải độc, giảm béo. Là loại thực phẩm kiềm tính, nhiều nước, giàu sinh tố (đặc biệt là sinh tố C) và chứa rất ít nhân purin, có khả năng thanh thải acid uric qua đường tiết niệu khá tốt.
   * Dưa hấu :  Tính lạnh, vị ngọt, có công dụng thanh nhiệt giải thử, trừ phiền chỉ khát và lợi tiểu tiện. Trong thành phần có chứa nhiều muối kali, nước và hầu như không có nhân purin. Đây là loại quả đặc biệt tốt cho những người bị gút trong giai đoạn cấp tính.
   * Đậu đỏ :  Còn gọi là xích tiểu đậu, tính bình, vị ngọt chua, có công dụng kiện tỳ chỉ tả, lợi niệu tiêu thũng. Sách Bản thảo cương mục viết : “Xích tiểu đậu hành tân dịch, lợi tiểu tiện, tiêu chướng trừ thũng”.Trong thành phần hoá học của đậu đỏ hầu như không có nhân purin, là thực phẩm rất tốt cho bệnh nhân bị bệnh gút.
   * Lê và táo :  Đây là hai loại quả tính mát, vị ngọt, có công dụng thanh nhiệt sinh tân, chỉ khát trừ phiền. Trong thành phần có chứa nhiều nước, sinh tố, muối kali và hầu như không có nhân purin. Là loại quả kiềm tính, dùng rất tốt cho bệnh nhân bị bệnh gút cấp tính và mạn tính.
   * Nho :  Tính bình, vị ngọt, có công dụng bổ khí huyết, cường gân cốt và lợi tiểu tiện. Sách Danh y biệt lục viết : “quả nho trục thuỷ, lợi tiểu tiện”. Sách Bách thảo kính cho rằng nho có tác dụng “trị gân cốt thấp thống, lợi niệu rất tốt”. Đây cũng là loại quả kiềm tính, nhiều nước, giàu sinh tố và hầu như không có nhân purin.
   * Sữa bò :  Là loại thực phẩm bổ dưỡng rất giàu chất đạm, nhiều nước và chứa rất ít nhân purin. Là thứ nước uống lý tưởng cho bệnh nhân bị bệnh gút cả cấp tính và mạn tính.
   * Đậu tương :  Có thể là đậu tương và các chế phẩm từ đậu tương, là các thực phẩm kiềm tính, có chứa ít nhân purin, giàu chất đạm, nhiều sinh tố và khoáng chất, có khả năng tăng cường bài xuất acid uric qua đường tiết niệu.

     Ngoài ra, người có acid uric máu cao cũng nên trọng dụng các thực phẩm khác như cà rốt, cà chua, măng, mướp, dưa gang, cải trắng, mã thầy, hành tây, mía, chuối, cam, quýt, đào, anh đào, mơ, hạt dẻ...Tăng lượng nước uống để kích thích thải acid uric ra ngoài. Nên kiêng hoặc hạn chế các thực phẩm có chứa nhiều nhân purin như phủ tạng động vật (gan, thận, não, tuỵ...), thịt lợn, thịt dê, thịt bò, thịt cừu, thịt gà, thịt vịt, thịt ngan, thịt ngỗng, thịt hun khói, chim cút, cá chép, cá chạch, cá thờn bơn, cá hồi, lươn, nghêu, sò, cua, rau chân vịt, rau câu, đậu hà lan, nấm, biển đậu...và không dùng các đồ ăn thức uống có tính kích thích như nước trà đặc, cà phê, rượu trắng, hạt tiêu, hồi, quế, ớt...Người bị gút nặng, acid uric máu tăng quá cao nên ăn chay theo chu kỳ như ngày ăn táo, ngày ăn dưa chuột, ngày ăn rau xanh để hỗ trợ điều trị bệnh. Nếu ăn táo hoặc dưa chuột, mỗi ngày ăn 1,5 kg chia 3 - 4 bữa ; nếu ăn rau xanh, mỗi ngày 1,5 kg chia nhiều bữa dưới các dạng nấu, xào hoặc làm nộm.




Thứ Ba, ngày 15 tháng 7 năm 2014

Rượu ngâm cây thuốc phiện

RƯỢU NGÂM CÂY THUỐC PHIỆN CÓ THỰC SỰ BỔ DƯƠNG ?


     Mấy năm gần đây, không ít người trong cánh “mày râu” đua nhau tìm mua và sử dụng loại rượu được ngâm với rễ hoặc cả cây thuốc phiện với kỳ vọng tăng cường năng lực trong chuyện “chăn gối”. Nguồn cung cấp loại rượu này hầu hết là từ những người dân một số xã vùng cao của huyện Trạm Tấu (Yên Bái) như: Bản Mù, Bản Công, Xà Hồ, Túc Đán, Làng Nhì và Tà Si Láng và một số khu vực giáp ranh với huyện Phù Yên, Bắc Yên (Sơn La). Dân nhậu Yên Bái vẫn nói đùa rằng đây là rượu… một ba tám! Nguyên do có tên gọi này bởi một số địa phương có Ban chỉ đạo 138 về phòng chống tái trồng cây thuốc phiện.
     Trên thực tế, từ lâu người dân vùng cao vẫn có thói quen uống loại rượu ngâm rễ cây thuốc phiện, nhưng chỉ vài năm trở lại đây mới rộ lên phong trào uống loại rượu này. Hồi cuối năm 2008, đầu năm 2009, rễ cây thuốc phiện tươi (hoặc khô) vẫn được những người dân tộc bày bán công khai, với giá từ 150 đến trên 200 ngàn đồng/kg rễ cây khô. Những bình rượu ngâm rễ cây thuốc phiện có giá từ 200 đến 500 ngàn, nếu bình nào có quả thuốc phiện khô (đã chích nhựa) có thể lên 800 đến 1,2 triệu đồng tuỳ theo dung tích từ 2 - 3 lít. Vậy, câu hỏi được đặt ra là, rượu ngâm cây thuốc phiện có thực sự bổ dương ? Dùng loại rượu này có lợi hay có hại ?
     Theo dược học cổ truyền, cây thuốc phiện vị chua sáp, tính bình, có độc, vào được ba đường kinh Phế, Thận và Đại tràng, có công dụng liễm phế, chỉ khái (giảm ho), sáp tràng, chỉ thống (giảm đau) thường được dùng để chữa các chứng bệnh như ho kinh niên, đi lỏng và kiết lỵ lâu ngày, thoát giang (sa trực tràng), đại tiện ra máu, hoạt tinh, tiểu tiện nhiều lần, bạch đới (khí hư màu trắng) và các chứng đau. Thuốc phiện được xếp vào nhóm thuốc bệnh có tác dụng thu sáp, chỉ khái, bình suyễn chứ không phải là thuốc bổ khí huyết hay bổ âm dương và càng không phải là thuốc có công năng tăng cường sinh lý cho đàn ông.
     Theo nghiên cứu hiện đại, trong cây thuốc phiện, đặc biệt là quả, có chứa mocphin, codein, nacotin, naxein, acid meconic, acid tactric, acid citric và một ít papaverin, có tác dụng giảm đau, an thần, giảm ho, làm giãn mạch máu, gây co thắt cơ trơn đường mật, co đồng tử, dễ gây nghiện và táo bón. Thuốc phiện hoàn toàn không có ảnh hưởng trực tiếp đến nội tiết tố và cơ quan sinh dục.
     Trên thực tế, từ lâu thuốc phiện đã được dùng để làm thuốc giảm đau và an thần, nhưng là loại dược vật nguy hiểm, dễ ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh gây nghiện.  Thuốc phiện cũng là một loại cây nằm trong danh mục cây thuốc chữa bệnh. Nhưng ngay trong việc dùng cho mục đích chữa bệnh cũng phải bào chế hết sức cẩn trọng mới có thể dùng chứ không thể dùng trực tiếp từ cây tươi và khi dùng phải đúng chỉ định với liều lượng nghiêm ngặt. Vậy nên những lời quảng cáo, đồn thổi về công dụng bổ thận tráng dương, tăng cường sinh lý của loại rượu ngâm rễ hoặc cây thuốc phiện là hoàn toàn không đúng và không có tính khoa học, thậm chí còn hết sức nguy hiểm. Vụ việc 6 bợm nhậu ở xã Bản Mù, Trạm Tấu, Yên Bái đã phải vào viện cấp cứu do ngộ độc rượu ngâm rễ cây thuốc phiện ở Bệnh viện Y học cổ truyền Yên Bái là một ví dụ điển hình. Thêm nữa, nếu uống nhiều loại rượu này thì khi thử cũng dương tính với ma tuý và đây cũng là một hình thức cổ súy cho việc tái trồng cây thuốc phiện, điều mà hiện tại chúng ta đang nghiêm cấm.

                                                                                               Hoàng Khánh Toàn

nước giải khát từ cây cỏ

NƯỚC GIẢI KHÁT, THANH NHIỆT TỪ CÂY CỎ, LỢI HAY HẠI ?


     Vào những ngày hè nóng nực, nhu cầu về nước uống của cơ thể là rất lớn. Thật khó có thể kể hết các loại nước giải khát mang tính công nghiệp đang lưu hành trên thị trường hiện nay, nhưng xu hướng lựa chọn và tự chế biến các đồ uống từ những cây cỏ quanh nhà, quanh vườn theo kinh nghiệm dân gian vẫn còn khá nhiều người ưa chuộng, đặc biệt là ở nông thôn. Có thể kể ra những thứ thông dụng như nước trà xanh, nước nụ hoặc lá vối, nước nhân trần, nước la hán, nước chó đẻ răng cưa, nước rau má, nước chè vằng, nước mía, nước cỏ ngọt, nước râu ngô, nước cúc hoa, nước hoa hòe, nước quả dứa dại, nước mạch môn, nước đậu đen sao cháy, nước khổ qua, nước bí đao...Người ta có thể dùng độc vị hoặc có thể dùng một vài vị phối hợp với nhau để tạo nên những thứ nước giải khát thơm ngon, dễ uống và làm tăng hiệu quả thanh nhiệt, giải độc, mát gan như hoa hòe với cúc hoa, đậu đen với mạch môn, nụ vối với la hán, râu ngô với quả dứa dại..., thậm chí có thể phối hợp khá nhiều vị với nhau để tạo nên các loại trà tam bảo, ngũ bảo, bát bảo rất hấp dẫn.
     Nhìn chung, các loại nước giải khát này đều không độc hại vì chúng được chế biến từ những cây cỏ mang tính thức ăn - vị thuốc và đã được sử dụng trong đời sống từ rất lâu đời. Theo dược học cổ truyền, tất cả các loại nước giải khát này đều có công dụng thanh nhiệt giải độc, lương huyết chỉ khát, thường được dùng để phòng ngừa và giải trừ tình trạng “tích nhiệt” trong cơ thể. Theo quan niÖm cña y häc cæ truyÒn, “nhiÖt” lµ mét trong nh÷ng nguyªn nh©n g©y bÖnh th­êng gÆp, nhiÖt nÆng h¬n ®­îc gäi lµ “ho¶”. NhiÖt ®­îc t¹o nªn tõ nhiÒu nguån : tõ ngoµi lµ do ngo¹i tµ x©m nhËp vµo bªn trong c¬ thÓ mµ ho¸ sinh, ®Æc biÖt lµ hai nh©n tè thö vµ thÊp th­êng gÆp vµo mïa hÌ, ®­îc gäi lµ “ngò khÝ ho¸ ho¶” ; tõ trong lµ do nh÷ng rèi lo¹n vÒ t×nh chÝ (yÕu tè tinh thÇn kinh) vµ c«ng n¨ng c¸c t¹ng phñ (yÕu tè chuyÓn ho¸) g©y nªn, ®­îc gäi lµ “ngò chÝ ho¸ ho¶” vµ “néi th­¬ng ho¸ ho¶”. TÝnh chÊt cña nhiÖt lµ nãng bøc, dÔ g©y hao tæn t©n dÞch vµ h×nh thÓ. Tuú theo vÞ trÝ t¸c ®éng mµ nhiÖt t¹o nªn c¸c bÖnh c¶nh l©m sµng kh¸c nhau : nhiÖt tÝch ë da (b× phu) g©y môn nhät, lë loÐt ; nhiÖt tÝch ë ®­êng h« hÊp (phÕ t¹ng) g©y ®au häng, viªm khÝ phÕ qu¶n, viªm phæi..., nhiÖt tÝch ë  ®­êng tiªu ho¸ (tú, vÞ, ®¹i trµng) g©y t­a l­ìi, loÐt miÖng, viªm d¹ dµy, loÐt hµnh t¸ trµng, t¸o bãn, trÜ h¹...Bëi vËy, c¸c lo¹i n­íc gi¶i nhiÖt d©n gian lµ hÕt søc cã ý nghÜa trong mïa hÌ vµ víi nh÷ng ng­êi cã thÓ chÊt “thiªn nhiÖt”
     Theo nghiên cứu hiện đại, các cây cỏ này đều có tác dụng giải nhiệt, kháng khuẩn, tiêu viêm ở các mức độ khác nhau. Ngoài ra, tùy từng loại còn có các tác dụng riêng biệt như nước hoa cúc làm hạ huyết áp, nước hoa hòe làm bền vững thành mạch máu, nước râu ngô và dứa dại lợi tiểu và làm tan sỏi đường tiết niệu, nước mạch môn, rau má và đậu đen bảo hộ tế bào gan, nước nụ vối kích thích tiêu hóa...Tuy nhiên, dù là thực phẩm đi nữa khi sử dụng các loại nước giải khát, thanh nhiệt này cũng cần phải chú ý một số vấn đề sau đây :
- Trước hết, liều lượng cần vừa phải, tránh lạm dụng quá mức, đặc biệt đối với trẻ em, người già và những người tỳ vị hư yếu dễ bị lạnh bụng, đi lỏng. Nếu có dùng cam thảo để tạo nên vị ngọt, dễ uống và điều hòa thì tuyệt đối không dùng quá nhiều, thông thường mỗi ấm trà chỉ cho vài ba lát là dược.
- Sau những bữa ăn có nhiều đồ sống lạnh thì nên giảm lượng các loại nước uống này để tránh gây rối loạn tiêu hóa.
- Khi chọn mua các cây cỏ này ở dạng khô thì phải tránh thứ bị ẩm mốc và đã để quá lâu, không còn hoạt chất có lợi. Tốt nhất là nên mua đồ tươi về nấu nước uống hoặc phơi sấy khô, bảo quản cẩn thận để dùng dần.
- Không nên uống các loại nước này quá nhiều vào buổi tối.
     Có thể nói, dùng cây cỏ làm nước giải khát theo kinh nghiệm dân gian là một thói quen tốt và đáng khích lệ vì loại đồ uống này rất có lợi cho sức khỏe, không chứa hóa chất độc hại, không có của rởm, rẻ tiền và lại được cơ thể rất dễ chấp nhận.


                                                                                            Hoàng Khánh Toàn

Thứ Ba, ngày 08 tháng 7 năm 2014

Cai thuốc lá bằng đông dược

CAI THUỐC LÁ BẰNG ĐÔNG DƯỢC


     Nghiện thuốc lá là một trong những vấn đề thời sự hiện nay ở nước ta. Theo số liệu thống kê, những người trong độ tuổi từ 15 trở lên có khoảng 17 triệu người hút thuốc, nam giới 56,1%, nữ giới 1,8%, trong đó có 81,8% hút thuốc lá hàng ngày. Số liệu thăm dò thống kê của Tổ chức Y tế thế giới ở 14 quốc gia có số người hút thuốc lá nhiều nhất cho thấy, ở Việt Nam, qua khảo sát 11000 hộ gia đình với 9925 người được phỏng vấn, tỷ lệ hút thuốc lá là 47,4%. Để ngăn ngừa tác hại của thuốc lá và giúp những người nghiện thuốc có thể cai thuốc thành công đã có nhiều sản phẩm lưu hành trên thị trường. Tuy nhiên, tính an toàn và tính hiệu quả của các sản phẩm này vẫn còn nhiều hạn chế. Trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm của người xưa, bài viết này xin được giới thiệu một số bài thuốc giúp cai nghiện thuốc lá, thuốc lào để độc giả tham khảo và vận dụng khi cần thiết.
Bài 1 :  Hoa trà hay hoa hồng trà lượng vừa phải, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút là dùng được, uống thay trà trong ngày.
Bài 2 :  Bạch nhân sâm 15g, viễn chí 45g, địa long 45g, rau diếp cá 50g, sắc kỹ 3 lần, lấy nước cốt hòa chung rồi cô đặc bằng lửa nhỏ, chế thêm 100g đường trắng, cô tiếp sao cho khi dùng muỗng múc lên thấy thành sợi, đổ vào đĩa sứ có xoa dầu ăn khi còn nóng, đợi nguội rồi cắt ra thành từng miếng kẹo, ngậm thường xuyên hoặc khi muốn hút thuốc lá thì lấy ra ăn.
Bài 3 :  Mứt hồng lượng vừa đủ. Ăn 1 quả mứt hồng một giờ trước khi muốn hút thuốc lá, ăn liên tục trong 1 tháng thì có thể cắt được cơn thèm thuốc. Người nghiện nặng thì dùng với lượng nhiều hơn.
Bài 4 :  Dây bí đỏ lượng vừa đủ, rửa sạch, giã nát, vắt lấy 100 ml, hòa với đường đỏ uống, mỗi ngày 1 lần.
Bài 5 :  Lươn sống 1 con, rượu trắng 250 ml, đem lươn ngâm rượu trong 2 ngày rồi lấy rượu chia uống vài lần.


                                                                                                Hoàng Khánh Toàn