Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017

NGƯU HOÀNG THANH TÂM LIQUID

SẢN PHẨM NÀO CHO DỰ PHÒNG VÀ HỖ TRỢ
TRỊ LIỆU ĐỘT QUỴ NÃO HỮU HIỆU ?


     Trong mươi năm gần đây, khi bệnh lý đột quỵ não, còn gọi là tai biến mạch não, có xu hướng ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp thì nhu cầu tìm hiểu và sử dụng các đông dược thành phẩm trở nên hết sức cần thiết. Nhiều chế phẩm trị liệu căn bệnh này có xuất xứ từ các nước như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản...đã có mặt trên thị trường đông dược nước ta bằng nhiều con đường khác nhau, trong đó có một sản phẩm được rất nhiều người quan tâm là Ngưu hoàng thanh tâm (NHTT) dạng nước của Hàn Quốc.
     Sản phẩm này có nguồn gốc từ cổ phương Ngưu hoàng thanh tâm nguyên được ghi trong y thư cổ Hòa tễ cục phương (Trung Quốc) và Đông y bảo giám (Hàn Quốc). Trong phương, ngoài các vị thuốc quý làm nên công dụng thanh nhiệt giải độc, trấn kinh khai khiếu, hóa đàm tức phong như ngưu hoàng, xạ hương, linh dương giác, hoàng cầm, phòng phong, cát cánh, hạnh nhân…giống như An cung ngưu hoàng hoàn nhưng không quá mãnh liệt, còn có các vị thuốc bổ âm huyết, dưỡng dương khí như đương quy, a giao, mạch môn, nhân sâm, bạch truật, hoài sơn nhục quế, bạch linh…giúp cho sản phẩm có khả năng vừa công vừa bổ, lấy công làm bổ, lấy bổ làm công rất thích hợp cho việc dự phòng tích cực và hỗ trợ trị liệu những trường hợp đột quỵ não với các biểu hiện như khí huyết bất túc, đàm nhiệt trở trệ, thần trí hư phiền, ngực bụng bức bối, đầu choáng mắt hoa, miệng mắt méo xệch, bán thân bất toại, không nói được hoặc nói khó, đờm rãi nhiều…, đặc biệt trong giai đoạn bán cấp và hồi phục.
     Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, NHTT có tác dụng hồi tỉnh do hồi phục công năng hướng tâm của cấu trúc lưới trong chất não, trấn tĩnh, giải độc, chống co giật, giải nhiệt hạ sốt, làm giảm huyết áp nhưng lưu lượng động mạch vành và sức co bóp cơ tim lại gia tăng, nâng cao năng lực chịu đựng của tế bào cơ tim và tế bào não trong điều kiện thiếu ôxy, làm tăng lưu lượng tuần hoàn não, giảm mỡ máu, dự phòng tích cực tình trạng vữa xơ động mạch.
     Bởi vây, NHTT có khả năng dự phòng tích cực đột quỵ não, ổn định huyết áp, làm bền vững thành mạch, đặc biệt ở những người có nguy cơ cao như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, người cao tuổi…; hỗ trợ điều trị và phục hồi di chứng tai biến mạch não ; hỗ trợ kiểm soát bệnh cao huyết áp và tình trạng rối loạn tiến đình mạn và cấp tính ; chống huyết khối, giảm thiểu tình trạng thiếu ôxy của não và tim, hỗ trợ củng cố sức khỏe hệ tuần hoàn, sử dụng được cho những những bệnh nhân mắc bệnh tim mạch ; điều hòa lipid máu, chống mệt mỏi, cải thiện giấc ngủ và giảm thiểu hậu quả của stress ; hỗ trợ phục hồi chức năng và sức khỏe cho những trường hợp chấn thương sọ não.
     Ngưu hoàng thanh tâm trước đây thường được bào chế dưới dạng viên hoàn, nhưng hiện nay Công ty Iksu Pharmaceutical Co., Ltd của Hàn Quốc đã cho ra đời NHTT dưới dạng nước được gọi là Ngưu hoàng thanh tâm liquid đảm bảo vẫn giữ nguyên tính hiệu quả và tính an toàn mà lại giúp hấp thu nhanh, tiện sử dụng và có mùi thơm dễ chịu. Sản phẩm được đựng trong chai thủy tinh có nút kín và để trong hộp giấy nhỏ, mỗi chai chứa 50ml, hộp lớn có 3,6 và 10 hộp nhỏ. Với những người lớn sau tai biến, hội chứng tiền đình…uống 1 chai/lần, 1-2 lần/ngày ; dùng dự phòng uống 1 chai/lần/ngày hoặc có thể 3-4 ngày uống 1 lần 1 chai. Chú ý bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, ở nhiệt độ phòng (15 độ C-30 độ C), tránh ánh năng mặt trời.
     Ngưu hoàng thanh tâm liquid quả thực là một trong những sự lựa chọn chính xác và hữu hiệu cho việc dự phòng và hỗ trợ trị liệu đột quỵ não trên nhiều phương diện khác nhau !    

                                                               ThS.BS Hoàng Khánh Toàn

                                                 Chủ nhiệm khoa Đông y, Bệnh viện TƯQĐ 108

Thứ Ba, 11 tháng 4, 2017

VÀI MÓN ẨM THỰC SINH TÂN

VÀI MÓN ẨM THỰC THANH NHIỆT SINH TÂN




* Canh sa căn thuần điểu trư nhục
     Sa căn (củ đậu) 500g, thuần điểu (chim cút) 500g, thịt lợn nạc100g, một chút trần bì (vỏ quít), nước và gia vị vừa đủ. Sa căn bóc vỏ rửa sạch, thái con chì ; chim cút làm sạch, để nguyên con ; thịt lợn thái mỏng. Tất cả cho vào nồi, chế đủ nước, hầm nhỏ lửa chừng 2,5 giờ cho thật nhừ, chế thêm gia vị, dùng làm canh ăn. Chim cút, còn gọi là Am thuần, Uyển thuần, vị ngọt tính bình, có công dụng bổ tỳ ích khí, thanh nhiệt trừ thấp, làm mạnh gân cốt). Người xưa coi chim cút là "nhân sâm động vật". Củ đậu vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt, sinh tân dịch và làm hết khát. Món canh này có thể cho thêm một chút đậu đỏ và vài lát gừng tươi để tăng tác dụng thanh nhiệt trừ thấp và thêm phần hấp dẫn.
* Canh hà diệp nhị đậu.
     Hà diệp 1 tàu, biển đậu 25g, xích tiểu đậu 25g, trần bì (vỏ quýt) 12g, phụ trúc 50g, vịt 1 con (sau khi làm sạch còn chừng 400g là vừa), thịt lợn nạc 100g, gia vị vừa đủ. Hà diệp rửa sạch, thái nhỏ ; biển đậu, xích tiểu đậu và phụ trúc rửa sạch ; trần bì thái chỉ ; thịt vịt và thịt lợn chặt miếng. Tất cả cho vào nồi, chế đủ gia vị, đổ vừa nước rồi dùng lửa nhỏ hầm chừng 3 giờ là được, dùng làm canh ăn trong ngày. Công dụng : Thanh nhiệt giải thử, sinh tân chỉ khát, kiện tỳ dưỡng âm (giải nhiệt, làm mát, phòng chống nắng nóng, làm tăng lượng dịch đã bị hao tổn vì mồ hôi ra nhiều, giải khát, cải thiện chức năng của dạ dày ruột, kích thích tiêu hoá).
* Nước uống bí đao dưa hấu
     Bí đao 500g, dưa hấu 500g, đường trắng vừa đủ. Bí đao gọt vỏ, bỏ ruột, rửa thật sạch ; dưa hấu lấy ruột, bỏ hạt ; hai thứ thái miếng, dùng máy ép lấy nước rồi chế thêm một chút đường trắng, chia uống nhiều lần trong ngày. Công dụng : thanh nhiệt giải thử, trừ phiền chỉ khát, lợi niệu tiêu thũng. Dùng để giải nhiệt, phòng chống say nắng, say nóng...Theo y học cổ truyền, dưa hấu có công dụng giải say nắng, làm hết khát, trừ phiền, lợi thủy, cầm lỵ...Hai loại quả phối hợp với nhau tạo nên một thứ nước giải khát chữa bệnh lý tưởng trong mùa hè.
* Nước uống bí đao bình quả
     Bí đao 100g, bình quả (loại táo quả to nhập khẩu từ Trung Quốc và các nước Đông Âu) 800g, cà rốt 200g, đường phèn 100g, trần bì 20g. Bí đao gọt vỏ bỏ ruột, thái miếng ; bình quả rửa sạch, bỏ ruột, thái miếng ; cà rốt cạo vỏ, thái miếng ; trần bì ngâm nước cho mềm rồi thái chỉ. Tất cả cho vào nồi, đổ vừa nước, nấu trong 30 phút, chế thêm đường phèn, dùng làm nước giải khát. Công dụng : thanh nhiệt hóa đàm, trừ phiền chỉ khát, lợi niệu tiêu thũng, trợ tiêu hóa, ích tỳ chỉ tả. Theo y học cổ truyền, bình quả có công dụng sinh tân chỉ khát, kiện tỳ ích vị, giải nhiệt thanh tâm ; cà rốt có công dụng bổ tỳ tiêu thực, lợi tràng đạo, bổ can minh mục, thanh nhiệt giải độc, hạ khí chỉ khái.
* Cháo đậu xanh ngân hoa
     Đậu xanh 50g, kim ngân hoa 50g, cam thảo 10g, gạo tẻ 100g. Đậu xanh ngâm trước nửa ngày, kim ngân hoa và cam thảo sắc kỹ rồi bỏ bã lấy nước ninh với gạo và đậu xanh thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày, có thể cho thêm một chút đường phèn. Công dụng : thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm giải thử, dùng thích hợp cho những người hay bị mụn nhọt, lở ngứa, viêm loét, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ...trong những ngày hè nóng bức.
Canh cát căn đại táo trư nhục
     Cát căn (củ sắn dây) 500g, đại táo 4 quả, trư nhục (thịt thăn lợn) 150g, xương ống chân lợn 150g, nước và gia vị vừa đủ. Cát căn bỏ vỏ, rửa sạch, thái con chì ; thịt thăn thái to bằng 1/3 bao diêm ; xương ống đập vỡ ; đại táo rửa sạch. Tất cả cho vào nồi, chế đủ nước hầm nhừ trong 2 giờ, chế thêm gia vị, dùng làm canh ăn. Cát căn có công năng thanh nhiệt giải cơ, sinh tân chỉ khát, trừ phiền, nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy có tác dụng hạ nhiệt, giải độc, làm giãn mạch hạ huyết áp, cải thiện vi tuần hoàn, phòng chống rối loạn nhịp tim, hạ mỡ máu và đường huyết, tăng lưu lượng tuần hoàn não, kháng ô xy hóa và ung thư. Đại táo bổ tỳ ích khí, dưỡng huyết an thần. Thịt lợn tư âm, nhuận táo , bổ huyết. Ba thứ phối hợp với nhau tạo nên công dụng thanh nhiệt trừ phiền, bổ khí dưỡng huyết của món ăn. Loại canh này đặc biệt thích hợp với những người bị tăng huyết áp, đái tháo đường và có bệnh lý động mạch vành.
* Canh hiện nhục việt qua
     Hiện nhục (hến) 1000g, việt qua (quả bầu) 500g, thìa là, hành hoa, mỡ và gia vị vừa đủ. Hến ngâm nước gạo, rửa sạch, cho vào nồi với một bát con nước, đun sôi, thấy hến há miệng thì trút ra rổ, hứng lấy nước, gỡ thịt hến đem rửa sạch, để ráo ; bầu gọt vỏ, rửa sạch, băm nhỏ theo chiều dọc quả, thái vát thành sợi, bỏ ruột ; hành, thìa là rửa sạch, thái nhỏ ; củ hành thái mỏng để riêng. Phi thơm hành mỡ, cho hến vào xào qua, nêm ít nước mắm, xúc ra bát. Nước luộc hến bỏ cặn, đun sôi, cho bầu vào, đun sôi tiếp rồi đổ hến vào, chế thêm gia vị vừa đủ, dùng làm canh ăn nóng. Hến vị ngọt mặn, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi thấp, rất thích hợp cho những người bị mụn nhọt, lở loét ngoài da do nhiệt độc, tiểu tiện vàng đỏ, đái buốt, đái rắt, đái tháo đường. Trong thành phần hóa học của hến rất giàu kẽm nên có khả năng phòng chống u phì đại tiền liệt tuyến. Bầu vị ngọt, tính mát, có công dụng giải nhiệt độc, lợi tiểu tiện, làm hết khát, rất thích hợp cho những người bị viêm đường tiết niệu, mụn nhọt do nhiệt độc, đái tháo đường. Tuy nhiên, nếu tỳ vị hư yếu, đại tiện hay lỏng loãng thì không nên ăn loại canh này.

                                                                                            Hoàng Khánh Toàn


Công dụng của cây mật gấu

TÁC DỤNG CHỮA BỆNH CỦA CÂY MẬT GẤU

     Cây mật gấu với tên gọi khác là cây Hoàng liên ô rô hay cây mã rồ. Đây là loại cây mang nhiều tác dụng chữa bệnh rất hiệu quả. Loài này mọc hoang nhiều ở các tỉnh vùng núi phía bắc có khí hậu mát mẻ như Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn… Ở miền nam hay miền trung, do khí hậu không thích hợp nên cây mật gấu vẫn có thể sống nhưng sẽ phát triểm chậm và kém hơn.
     Cây chứa các hợp chất có tác dụng sinh học khác như: terpene, steroid, coumarin, flavonoid, acid phenolic, lignan, xanthone, anthraquinone, edotide and sesquiterpene (có tác dụng kháng ung thư). Ngoài ra lá còn chứa các chất khoáng: magnesium, chromium, manganese, selenium, sắt, đồng, kẽm, Vitamin A, E, C, B1,B2. protein thô, chất xơ, chất béo, tro, carbohydrate, các acid amin quan trọng: Leucine, Isoleucine, Lysine, Methionine, Phenyl alanine, Threonine, Valine, Histidine, Tyrosine.

     Những hợp chất trong cây mật gấu có tác dụng hỗ trợ điều trị các bệnh do quá trình viêm mạn tính, lão hoá, bệnh nhiễm giun sán, động vật nguyên sinh (protozoan) và vi khuẩn. Theo công bố trên Quyển Y - Sinh học thực nghiệm tháng 2 năm 2004 (Experimental Biology and Medicine of February 2004 Edition) cho thấy lá cây mật gấu có tác dụng hạ thấp tỉ lệ nguy cơ bị ung thư vú. Lá mật gấu dùng nấu dạng canh rau hay xay nhuyễn lấy nước uống như dạng nước bổ dưỡng trong nhiều dạng bệnh lý khác nhau. Nhiều thầy thuốc ở Châu Phi khuyên người dân dùng trị bệnh đường tiêu hoá, đái tháo đường, chán ăn, kiết lỵ và các chứng rối loạn tiêu hoá. Các Polyphenol có tính kháng viêm và anti - oxidant, thải độc, bảo vệ thận, gan, hỗ trợ điều trị một số bệnh ngoài da, làm giảm đường huyết, bao vệ tim mạch do giúp ổn định lipid máu. 

     Theo Đông y, cây mật gấu có vị đắng tính mát, vào 4 kinh: phế, vị, can, thận, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, mát gan, tiêu viêm, làm se, lợi mật, phòng ngừa và chữa sỏi mật, giảm đau lưng và thấp khớp, tăng cường sức khoẻ… Cây mật gấu còn có tác dụng rất tốt trong việc điều trị các triệu chứng về bệnh dạ dầy, rối loạn tiêu hoá,  đường ruột, đau nhức xương khớp, tê thấp, làm tiêu mỡ, giã rượu, cải thiện tình trạng béo phì và bệnh gút. Người ta thường dùng  10 - 20g  rễ hoặc thân cây sắc uống chữa ăn uống không tiêu, trị đau ngực, đau gối, chóng mặt, ù tai, viêm gan, vàng da, tiêu chảy, kiết lỵ, đau mắt. Dùng lá hay quả (8 - 12g) sắc uống hay phối hợp với các vị thuốc khác. Ngoài ra, cây mật gấu còn được dùng để chữa sốt cơn, ho lao, khạc ra máu, lưng gối yếu mỏi, mất ngủ. Dùng ngoài, nấu nước đặc để rửa chữa viêm da dị ứng, lở ngứa…Cách dùng : Chẻ nhỏ sắc nước uống hàng ngày (mỗi ngày sử dụng khoảng 20g) hoặc ngâm rượu (ngày uống 3 lần mỗi lần 10 - 20 ml)

     Y học dân gian ở nhiều quốc gia cũng dùng cây mật gấu chữa nhiều  bệnh như : Ấn Độ dùng lá chữa tiểu đường, dùng cành, rễ hỗ trợ điều trị HIV, hạ sốt, giảm ho, phát ban, cảm cúm, viêm vú. Congo dùng lá và vỏ rễ chữa kiết lỵ, viêm dạ dày, ruột, sốt rét, viêm gan, nhiễm giun. Nam Phi dùng rễ chữa sán máng (huyết hấp trùng), hiếm muộn, rối loạn kinh nguyệt. Nhiều nơi ở Tây Phi dùng lá làm trà lợi tiểu, chữa táo bón, nhiễm trùng da, đái đường, bệnh chuyển hóa liên quan đến gan… 

                                                                   ThS Hoàng Khánh Toàn



Thứ Ba, 4 tháng 4, 2017

Thói quen xấu ảnh hưởng đến xương khớp

NHỮNG THÓI QUEN ẢNH HƯỞNG XẤU ĐẾN HỆ CƠ XƯƠNG KHỚP


Hiện nay, tỷ lệ bệnh nhân mắc các bệnh lý về cơ xương khớp ngày càng gia tăng và có xu hướng trẻ hóa, đặc biệt là các bệnh lý về cột sống. Ngoài nguyên nhân do quá trình thoái hóa tự nhiên diễn ra, thì phần lớn bệnh lý phát sinh là do những thói quen trong sinh hoạt hàng ngày làm ảnh hưởng xấu đến hệ cơ xương khớp. Việc chữa trị thường kéo dài dễ tái phát, làm giảm chất lượng cuộc sống, hiệu suất công việc cũng như gây gánh nặng về kinh tế. Để tránh mắc phải những căn bệnh liên quan tới xương khớp thì việc phòng bệnh là rất quan trọng. Dưới đây là những thói quen có tác động xấu, làm giảm tuổi thọ của xương khớp mà nhiều người hay mắc phải.
1. Bẻ tay, vặn lưng, cổ quá mức
Việc bẻ khớp ngón tay, vặn lưng, vặn cổ, các khớp hoạt động nhanh đột ngột và quá tầm vận động, dẫn đến việc phá hủy các cấu trúc sụn khớp và dây chằng xung quanh khớp nên rất có hại cho khớp.  
Đây chính là nguyên nhân khiến các khớp ngày càng to lên. Đồng thời, cũng có thể gây ra nhưng tổn thương như: bong gân, giãn dây chằng, trật khớp, làm sụn khớp nhanh bào mòn và đẩy nhanh quá trình lão hóa.
Nếu không bỏ thói quen này, khớp sẽ bị thoái hóa, biến dạng khớp, to khớp ở vùng các ngón tay hay rách dây chằng, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, cột sống thắt lưng, thoát vị nhân đĩa đệm gây chèn ép rễ thần kinh...
2. Đi giày cao gót
Giày cao gót giúp tăng chiều cao cơ thể, tạo dáng đẹp. Tuy nhiên, khi mang giày cao gót, các cơ của cột sống thắt lưng và bắp chân cũng như gân gót lâm vào tình trạng căng giãn quá mức nên rất dễ đau và mỏi. Triệu chứng sẽ là đau lưng, đau bắp chân hay đau phần trên của gót chân. Khi các nhóm cơ làm việc quá tải sẽ yếu, không giữ vững được các cấu trúc như cột sống, khớp gối, cổ chân dễ gây chấn thương do té ngã và tổn hại đến hệ khớp
Bằng việc nâng cao gót chân, toàn bộ trọng lượng cơ thể bình thường chịu lực qua xương gót to và dày thì lại chuyển qua chịu trên xương bàn và các ngón chân vốn dĩ mỏng hơn và nhỏ hơn. Nghiên cứu cho thấy độ cao của đế giày cứ tăng mỗi 2,5 cm thì áp lực lên bàn chân trước tăng 22-25%. Do đó mang giày cao 7cm, áp lực xương bàn phải chịu là 175% mức bình thường. Việc này rất dễ gây thoái hóa khớp bàn ngón, nhất là ngón cái.
Mũi giày càng nhỏ hẹp sẽ ép các ngón chân lại với nhau gây vẹo ngón cái ra ngoài, lâu ngày gây biến dạng ngón cái và các ngón khác. Ngoài ra, việc ép các ngón chân ở mũi giày gây chèn ép, tổn thương các nhánh thần kinh gây đau hay phì đại các nhánh thần kinh vùng bàn chân.
Tóm lại, tránh mang giày cao gót quá lâu, khi chọn mua giày không nên chọn đế quá cao, phần mũi giày không nên ép các ngón chân quá chật, chất liệu da giày nên mềm mại và không gây kích ứng.
3. Các thói quen xấu ảnh hưởng đến cột sống
- Ngồi không đúng tư thế, ngồi lâu.
- Mang balô nặng, mang túi nặng một bên.
- Đi khom người hay đứng xiêu vẹo.
- Nhặt đồ vật khom lưng hay khiêng vật nặng khom lưng
- Mang vật nặng xoay đột ngột.
Nếu bạn là dân văn phòng và phải thường xuyên ngồi máy tính làm việc mỗi ngày thì việc ảnh hưởng xấu đến xương khớp là điều không thể tránh khỏi. Ngồi làm việc hay đứng quá lâu tại một vị trí khiến tuần hoàn máu ở chân sẽ giảm, cơ mông, hông ngày càng trở nên kém linh hoạt, xương dần mỏng đi, giòn và dễ gãy hơn. Các khớp xương bàn tay, cổ tay và cánh tay luôn luôn phải hoạt động với chuột và bàn phím khiến cho các dây chằng và cơ phải chịu sức ép khi hoạt động liên tục.
Thói quen ngồi lâu, liên tục trên hai giờ làm mỏi nhóm cơ cạnh cột sống khiến chúng ta khòm lưng và cúi ra trước, dẫn đến căng các nhóm cơ và dây chằng phía sau cột sống. Sự mệt mỏi của hệ thống giữ vững này gây đau và nếu kéo dài làm cột sống không vững, dẫn đến tổn thương các đốt sống, thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống. Do đó, chúng ta cần hạn chế ngồi làm việc lâu quá hai giờ. Để phòng ngừa các bệnh xương khớp, bạn hãy từ bỏ thói quen ngồi làm việc quá lâu tại một vị trí mà hãy tranh thủ một vài phút giải lao đi lại, vận động nhẹ nhàng vừa giúp tinh thần thoải mái vừa ngăn ngừa bệnh thoái hóa khớp cổ, vai, cột sống.
Ngoài ra, việc mang balô hay túi nặng một bên khiến cột sống phải nghiêng hẳn một bên, các nhóm cơ hoạt động không đều dễ bị vẹo cột sống, tổn thương đốt sống và dây chằng. Do vậy khi mang túi xách, chúng ta không nên mang quá 10% trọng lượng cơ thể và khi phải mang nhiều hơn, chúng ta mang đều hai tay.
Khi cúi gập ngang hông lưng quá 90 độ, hệ thống dây chằng phía sau căng quá mức có thể bị rách, đĩa đệm chịu lực quá mức có thể lồi ra phía sau gây thoát vị đĩa đệm. Nên hạn chế gập lưng quá mức, nhất là khi nhặt đồ vật rơi. Đặc biệt không nên cúi người khiêng vật nặng. Tư thế đúng trong các việc này là ngồi xuống và thẳng lưng để nhặt đồ vật.
4. Ngồi xổm, leo cầu thang, chéo chân hay bó chân
Khớp gối gồm khớp chè đùi và khớp đùi chày, chịu toàn bộ trọng lượng của cơ thể. Khi gối co, áp lực do cơ ở phần đùi và gân bánh chè sẽ ép xương bánh chè trượt trên xương đùi. Lúc đi bộ, lực này tác động bằng khoảng 1/2 trọng lượng cơ thể, khi leo cầu thang lực này gấp 3-4 lần trọng lượng cơ thể và khi ngồi xổm, lực này gấp 7-8 lần trọng lượng cơ thể. Do vậy thói quen ngồi xổm tạo áp lực rất lớn phá hủy sụn xương bánh chè và sụn xương đùi gây thoái hóa khớp chè đùi. Tập luyện cơ tứ đầu đùi và tránh thói quen ngồi xổm, hạn chế tối đa lên xuống cầu thang hay khiêng vác lên cầu thang sẽ giúp bảo vệ khớp chè đùi.
5. Dùng thuốc giảm đau không theo chỉ định
Một lý do đáng lưu ý khác được xuất phát từ việc dùng thuốc giảm đau không đúng. Trong nhóm thuốc giảm đau kháng viêm thì tác dụng phụ viêm dạ dày là hay gặp nhất. Nguy cơ tim mạch, bệnh thận từ thuốc giảm đau cũng được ghi nhận với nhóm NSAID.
Nhóm thuốc kháng viêm mạnh như corticoid có hiệu quả cao, nhưng dùng lâu dài sẽ gây loãng xương và lệ thuộc thuốc, gây hội chứng Cushing do thuốc. Do vậy nên dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ.
6. Dinh dưỡng thiếu và không cân đối
Chế độ ăn uống ảnh hưởng rất lớn để khả năng hoạt động của hệ xương khớp. Ăn uống thiếu chất khiến cơ thể không đủ dinh dưỡng để nuôi dưỡng xương khớp. Ngược lại, chế độ ăn quá nhiều các chất đường và chất béo cũng khiến bạn thừa cân, béo phì, làm cho hệ xương khớp phải chịu đựng sức nặng nhiều hơn, hoạt động nhiều hơn, làm tăng nguy cơ bị các bệnh xương khớp.
Bệnh chuyển hóa ngày càng nhiều và gặp ở lứa tuổi ngày càng trẻ dần. Bệnh bao gồm rối loạn lipid máu, đái tháo đường, bệnh gout... Bệnh gout ảnh hưởng đến khớp nhiều nhất trong nhóm bệnh này, thường gặp ở những người hay ăn nhậu, uống nhiều bia rượu và ăn nhiều hải sản, nội tạng đôngn vật...
Thói quen sử dụng nhiều rượu bia, thuốc lá, cà phê, nước ngọt có ga cũng làm giảm lượng canxi và khả năng hấp thụ canxi gây ra bệnh loãng xương. Vì thế, tăng cường uống sữa, ăn nhiều rau xanh lá đậm, trái cây tươi, ngũ cốc, hải sản… vừa tốt cho sức khỏe vừa bảo vệ hệ xương khớp vững chắc.
8. Lười vận động                     
Lười vận động là một trong những thói quen xấu gây hại cho xương khớp. Theo một số nghiên cứu khoa học nhận thấy Việt Nam là một trong 10 nước có tỷ lệ người lười vận động nhất trên thế giới. Thói quen lười vận động sẽ dẫn đến hàng loạt các bệnh nguy hiểm như: tim mạch, tiểu đường, béo phì, đặc biệt là các bệnh về xương khớp như: viêm khớp, thoái hóa khớp, đau vai gáy, đau cột sống…
Thay vì ngồi một chỗ, mỗi ngày bạn chỉ cần dành khoảng 30 phút thực hiện những bài tập thể dục đơn giản, không chỉ rất hữu ích cho hệ xương khớp mà còn tăng cường sức khỏe như: bơi lội, đạp xe, đá bóng, cầu lông, võ thuật, tập thái cực quyền, khí công dưỡng sinh…
9. Giảm cân quá nhanh

Một nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ cho thấy tác dụng phụ của việc giảm béo đột ngột, kém an toàn chính là hạn chế quá trình hấp thụ canxi ở xương và đẩy nhanh quá trình lão hóa. Vì khi giảm cân quá nhanh khiến sự liên kết của lớp mỡ và bắp thịt trở nên lỏng lẻo. Đó là lý do vì sao mà trong một số trường hợp xảy ra sự cố như: ngã, trượt chân, thậm chí là gãy xương. Điều này cũng lý giải vì sao những người sau khi giảm cân lại yếu và dễ mắc bệnh loãng xương.

Trả lời bạn đọc

     Hỏi :  Cháu bị sổ mũi, nghẹt mũi. Đi khám bác sĩ chẩn đoán viêm mũi dị ứng và vẹo vách ngăn, uống thuốc nhưng không khỏi. Cháu đọc 1 bài báo có nói bài thuốc tên "thương nhĩ tán" có thể chữa viêm mũi, viêm xoang. Xin hỏi bác sĩ cháu có thể uống bài thuốc này được không, liều lượng và cách dùng như thế nào, mua ở đâu ạ? Xin bác sĩ chỉ giúp. Cháu cảm ơn!
     Đáp : Thương nhĩ tử tán là một phương thuốc do y gia trứ danh Nghiêm Dụng Hoà, tự Tử lễ, người Giang Tây, Trung Quốc sáng chế và được ghi lại trong trước tác Tế sinh phương nổi tiếng của Ông với thành phần đơn giản gồm : Thương nhĩ tử 2 tiền rưỡi (7g), tân di nửa lạng ta (15g), bạch chỉ 1 lạng (30g), bạc hà nửa tiền (1,5g), tất cả sấy hoặc phơi khô, tán thành bột mịn, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 6g.
    Thương nhĩ tử tán có công dụng tán phong hàn, thông tỵ khiếu (làm thông mũi), chỉ đầu thống (chống đau đầu), thường được dùng để trị các chứng bệnh về mũi xoang như Tỵ cừu (chảy nước mũi trong và hắt hơi nhiều, Tỵ tắc (ngạt mũi), Tỵ thế (chảy nước mũi), Tỵ trất (Ngạt mũi), Tỵ uyên (chảy nước mũi tanh hôi kéo dài)..., tương ứng với y học hiện đại là các bệnh như viêm mũi dị ứng, viêm mũi cấp và mạn tính, viêm xoang cấp và mạn tính...
     Trong phương, thương nhĩ tử vị cay đắng, tính ấm, có công dụng thông mũi, trừ phong thấp, chỉ thống (giảm đau) ; bạch chỉ vị cay, tính ấm, có công dụng giải biểu, trừ phong táo thấp, tiêu thũng bài nùng (chống phù nề và làm hết mủ), chỉ thống ; tân di vị cay, tính ấm, có công dụng tán phong hàn, thông tỵ khiếu ; bạc hà vị cay, tính mát, có công dụng sơ tán phong nhiệt, thanh lợi đầu mục, lợi hầu, thấu chẩn.
     Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, thương nhĩ tử có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, giảm đau, giảm ho, ức chế miễn dịch, chống ôxy hoá, hạ huyết áp và đường huyết, hưng phấn hô hấp và chống ung thư ; bạch chỉ có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, giảm đau, giải nhiệt, chống co giật, hạ huyết áp, chống ung thư và cầm máu ; tân di có tác dụng giảm đau, tiêu viêm, giảm phù nề, chống dị ứng, hạ huyết áp, kháng khuẩn, ức chế ngưng tập tiểu cầu, chống ung thư và làm hưng phấn hô hấp ; bạc hà có tác dụng giải nhiệt, giảm đau, kháng khuẩn, kháng virut, chống viêm, giảm ho, trừ đàm, giảm ngứa, và lợi mật. Điều này giải thích vì sao bốn vị thuốc phối hợp với nhau trong phương thuốc lại có công dụng trị liệu hữu hiệu các bệnh lý viêm nhiễm ở mũi xoang.
     Bạn hoàn toàn có thể dùng bài thuốc này dưới dạng thuốc sắc uống hoặc sử dụng các thành phẩm đông dược có nguồn gốc từ Thương nhĩ tử tán ví như viên nang Thương nhĩ tử tán của công ty Mediplantex hoặc Thông xoang tán của công ty Nam dược. Tuy nhiên, các sản phẩm này được sản xuất để dùng chung cho mọi đối tượng nên hiệu quả chỉ ở mức vừa phải. Tốt nhất là bạn nên đến các cơ sở y học cổ truyền để khám và kê đơn theo quan điểm “biện chứng luận trị” thì kết quả sẽ tốt hơn nhiều. Thông thường người ta hay dùng bài thuốc này phối hợp với bài Ngọc bình phong tán. Nếu có thể, bạn hãy đến khoa Đông y, bệnh viên trung ương Quân đội 108, số 1, Trần Hưng Đạo, Hà Nội, chúng tôi sẽ sẽ sẵn lòng giúp bạn. Địa chỉ liên hệ : 069572256 hoặc 0983585858.


Thứ Năm, 9 tháng 3, 2017

DU XUÂN CHÓ MUA NHẦM GIẢ DƯỢC

DU XUÂN, CHỚ MUA NHẦM GIẢ DƯỢC

     Du xuân là một nét văn hóa đẹp và đầy ý nghĩa của người Việt. Ngoài việc thưởng ngoạn các danh lam thắng cảnh, tìm hiểu những di tích văn hóa và lịch sử, thực hiện các hoạt động tâm linh lành mạnh..., du khách còn có dịp biết đến các sản vật phong phú và độc đáo của mỗi vùng, trong đó không thể không kể đến các cây, con và khoáng vật được dùng để làm thuốc. Với ước vọng có được sức khỏe thật tốt trong năm mới cho bản thân và gia đình, nhiều người sẵn sàng xả tiền ra để mua các dược liệu này mà không cần biết hoặc giả không thể biết chúng là của thật hay của dởm, nhất là khi người bán lại có “nghệ thuật” thuyết giáo hết sức mùi mẫn. Vậy, những dược liệu nào hay bị làm “dởm” ?
     Khó có thể kể hết các loại dược liệu dễ bị gian thương làm giả vì mục đích trục lợi. Tuy nhiên, có thể dẫn ra một số loại thông dụng như :
- Nhân sâm thường được làm giả bằng hoa sơn sâm, thổ nhân sâm (những loại sâm có công dụng thua kém nhân sâm rất nhiều), thương lục (là vị thuốc bệnh có tác dụng trục thủy, dùng không đúng chỉ định rất nguy hiểm)
- Tam thất chính hiệu bị làm “dởm” bởi các dược liệu khác như nga truật (nghệ đen), bạch cập (là vị thuốc cầm máu), cúc tam thất, củ hồi đầu, thổ tam thất, tam thất gừng (khương tam thất)...hoặc bị chế tác từ loại xấu thành loại tốt bằng cách cắt và dùng keo ghép các củ tam thất nhỏ và kém chất lượng thành những củ to, được đánh bóng và găm các mảnh chì bên trong để bán với giá cao hơn.
- Hoài sơn thường được làm giả bằng sắn, khoai mỡ, khoai lang
- Ba kích thật bị làm giả bởi rễ cây mặt quỷ (dương giác đằng), song hoa ba kích (Morinda shuanghuaensis), bạch mộc thông, tam diệp mộc thông...
- Đỗ trọng bị làm giả bởi vỏ cây tử hoa lạc thạch (Trachelospermum axillare), đỗ trọng nam...
- Sa nhân giả thường được chế từ thảo quả (hồng xác sa nhân), bạch đậu khấu, thổ sa nhân, sơn khương...
- Tắc kè thường được làm giả từ các loại thạch sùng có tên là bích hổ (Gekko chinensis) hoặc liễm hổ (Eublepharis lichterfeldri)...
- Mật gấu giả được chế từ túi mật của các loại động vật khác như lợn, dê, trâu, bò...hoặc được chế từ bàng quang hoặc một đoạn ruột động vật, bên trong có chứa cao thực vật có mầu và vị đắng giống mật gấu thật.
- Huyết kiệt được làm giả từ hỗn hợp nhựa thông, bột đá và nguyên liệu có màu sắc gióng huyết kiệt thật...

Việc mua và dùng phải các loại dược liệu “dởm” khiến cho du khách không chỉ lâm vào tình trạng “tiền mất tật mang” mà còn có thể dẫn đến những hậu quả nguy hiểm như dị ứng, ngộ độc..., thậm chí có thể tử vong. Bởi vậy, khi đi chơi xuân, du khách nên hết sức thận trọng trong việc tìm mua các loại dược liệu được bầy bán.

ĐÔNG Y CHỮA UNG THƯ

Bằng thuốc sắc theo nguyên tắc “biện chứng luận trị” + chế độ ăn uống và tập luyện, khoa Y học cổ truyền bệnh (YHCT) viện TƯ quân đội 108 đã kéo dài cuộc sống cho bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối không còn khả năng chữa trị
ThS Hoàng Khánh Toàn, Chủ nhiệm Khoa Y học cổ truyền Bệnh viện TƯQĐ 108 cho biết, trên thực tế có không ít bệnh nhân bị ung thư tìm đến với YHCT với 2 lý do: Thứ nhất, có thể họ bị ung thư quá nặng cộng với tuổi tác, sức khỏe không cho phép can thiêp phẫu thuật, thủ thuật, hóa trị hoặc xạ trị...; Thứ hai, là các bệnh nhân không muốn sử dụng phương pháp của y học hiện đại (YHHĐ). Vì vậy, trên thực tế lâm sàng khoa đã điều trị cho một số bệnh nhân bị ung thư và nhiều người đã có hiệu quả ở các mức độ khác nhau.
Bệnh nhân Nguyễn Văn T., 82 tuổi (Đống Đa, Hà Nội) bị ung thư phổi trái sát tim với kích thước lớn có xâm lấn. Tây y kết luận bệnh nhân không còn khả năng điều trị. Tuy nhiên, gia đình và người bệnh không muốn “buông xuôi” có nguyện vọng điều trị YHCT. Khoa đã kê đơn thuốc sắc cho bệnh nhân uống theo nguyên tắc “biện chứng luận trị” của đông y và sử dụng một số dược liệu có tác dụng hỗ trợ trị liệu ung thư như : đông trùng hạ thảo, nấm linh chi, tam thất...kết hợp với chế độ ăn, tập luyện khí công dưỡng sinh. Lẽ ra với những trường hợp như vậy, thời gian sống của người bệnh chỉ có thể tính bằng tháng, nhưng thật bất ngờ bệnh nhân này đã sống được 3,5 năm.
Tương tự, anh Phạm Mạnh H, 68 tuổi (Ba Đình, Hà Nội) có 3 khối u với kích thước đường kính từ 3 - 6cm trong gan. Tuy thể trạng bệnh nhân tốt, ăn được, không đau, chưa có hạch di căn... nhưng vì có nhiều khối u nên biện pháp phẫu thuật, tiêm cồn ...không có khả năng can thiệp. Vả lại, bệnh nhân  cũng không muốn trị liệu bằng y học hiện đại, khoa đã dùng thuốc sắc uống kết hợp với mật gấu, nấm linh chi, tam thất bột và ăn uống hợp lý và thực hành các động tác yoga có công dụng dưỡng can. Kết quả bệnh nhân đã sống được 5,5 năm và “ra đi” nhẹ nhàng.
Theo ThS Toàn, bệnh ung thư theo YHCT có tính chất “bản hư tiêu thực”. “Bản” là gốc, là sức đề kháng miễn dịch bị suy giảm, là công năng của các tạng phủ, đặc biệt là tạng can bị rối loạn. “Tiêu” là ngọn, là các hội chứng bệnh lý như khí trệ, huyết ứ, đàm trệ, thủy thũng, tỳ khí hư, can huyết hư... nên trong cấu trúc của đơn thuốc bao giờ cũng có 2 phần: Bồi bổ chính khí và giải quyết các vấn đề rối loạn trong cơ thể. Ví như, điều trị giảm đau, hạ sốt, chống viêm, chống phù nề, chống rối loạn hoạt động của các tạng phủ, trong đó hết sức trọng dụng những vị thuốc có tác dụng phòng chống “chứng nham” - chứng bệnh tương tự với căn bệnh ung thư của YHHĐ. Những vị thuốc này không chỉ do kinh nghiệm truyền lại mà còn được YHHĐ chứng minh là có tác dụng tiêu diệt hoặc ức chế tế bào ung thư như: tam thất, bạch hoa xà thiệt thảo, bán chi liên, kim ngân hoa, hải tảo, côn bố, toàn yết (bọ cạp)...
Kiên nhẫn và dùng thuốc đúng chỉ định
ThS Toàn nhấn mạnh, sự tác động của thuốc đông y với các bệnh lý nói chung và ung thư nói riêng thông thường đều mang tính chất chậm và tiệm tiến. Vì vậy, khi sử dụng YHCT điều trị đòi hỏi bệnh nhân phải kiên nhẫn, sử dụng thuốc đúng theo chỉ định của bác sĩ, tuyệt đối không được dùng những bài thuốc, vị thuốc theo ông lang, bà mế không được đào tạo một cách chính thống. Khi điều trị, bệnh nhân cần lạc quan, tin tưởng và thầy thuốc không nên ép buộc bệnh nhân theo cho đến cùng YHCT nếu bệnh nhân muốn chuyển sang điều trị Tây y.
Theo ThS Toàn, Đông y điều trị ung thư theo quan điểm biện chứng luận trị, tức là, không có bài thuốc, vị thuốc nào chung cho tất cả bệnh nhân hoặc một bệnh và ngay cả một bệnh nhân cũng không có bài thuốc chung trong suốt quá trình điều trị. Thuốc sắc phải tùy thuộc vào tính chất bệnh lý, biến chứng của bệnh, tuổi tác, kết quả thăm khám... từng đợt mà xây dựng phác đồ cho phù hợp. Quá trình điều trị tùy theo tính chất bệnh lý và sức khỏe người bệnh có thể sử dụng thuốc thành từng đợt, có thể thay đổi dạng bào chế của thuốc: thuốc sắc, cao đơn hoàn tán, xoa đắp... Có trường hợp không cần sử dụng thuốc liên tục nhưng bệnh nhân vẫn phải tuân thủ chế độ ăn uống theo đúng chỉ dẫn.
Box: “Có thể nói, cho đến nay sự khẳng định việc dùng các biện pháp YHCT có khả năng điều trị khỏi hoàn toàn căn bệnh ung thư là chưa có. Nhưng thực tế việc sử dụng YHCT để hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối hoặc kết hợp điều trị Tây y là hoàn toàn có thể. Nhiều ca bệnh có kết quả tốt. Vấn đề này rất mong các nhà y học, đặc biệt ung thư học nên chú trọng, lưu tâm nghiên cứu và đưa ra những kết luận bằng những công trình nghiên cứu nghiêm túc và khoa học”.
Ảnh: thăm khám cho bệnh nhân
                                                                           Thúy Nga

                                                                     (Báo Khoa học và Đời sống)