Chủ Nhật, ngày 02 tháng 11 năm 2014

Phòng chống xuất tinh sớm bằng khí công

PHÒNG CHỐNG TẢO TIẾT BẰNG KHÍ CÔNG


     Tảo tiết là tình trạng nam giới xuất tinh quá sớm khi sinh hoạt tình dục, nhẹ là khi dương vật cho vào âm đạo trong thời gian ngắn (dưới một phút), nặng là khi dương vật vừa mới cương cứng chưa đưa vào âm đạo mới chỉ chạm vào thân thể nữ giới mà đã xuất tiết tinh dịch. Nam giới bình thường đôi khi cũng có hiện tượng này, nhưng nếu xuất hiện thường xuyên khiến cho quá trình giao cấu không thể hoàn thành thì được coi là trạng thái bệnh lý.
     Y học cổ truyền giải quyết tảo tiết bằng nhiều biện pháp như dùng thuốc uống trong, đắp hoặc ngâm thuốc thuốc bên ngoài, châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, sử dụng các món ăn - bài thuốc..., trong đó có một phương cách khá đơn giản và hiệu quả mà người bệnh có thể tự tiến hành được là sử dụng khí công liệu pháp.
     Có nhiều phương pháp khí công (công pháp) để phòng chống tảo tiết, nhưng đơn giản, dễ tập luyện và không gây phản ứng phụ là sử dụng Cường dương cố tinh công với các thao tác cụ thể sau đây :
- Chọn tư thế ngồi hoặc đứng tự nhiên, toàn thân thoải mái, đầu óc yên tĩnh, tinh thần vui vẻ. Nhẹ nhàng hít không khí vào bằng mũi sao cho có cảm giác căng đầy ổ bụng rồi từ từ thở ra hết cỡ, đồng thời tập trung chú ý vào Đan điền (vùng dưới rốn), tập chừng 5 lần.
- Dùng hai tay nắm nhẹ thành quả đấm rỗng vỗ vào hai bên eo lưng và vùng xương cụt. Tiếp đó dùng hai lòng bàn tay xát theo chiều lên xuống hai khối cơ cạnh cột sống thắt lưng và vùng xương cùng cụt sao cho nóng lên là được.
- Dùng hai tay xoa từ hai tinh hoàn lên hai bên háng 36 lần.
- Chuyển sang tư thế nằm ngửa, dùng ngón tay trỏ và ngón tay giữa của tay trái kẹp giữ gốc dương vật, hướng dương vật sang phía trong đùi trái và day 36 lần. Tiếp đó lại dùng tay phải kẹp giữ gốc dương vật, hướng dương vật sang phía trong đùi phải và day 36 lần. Cuối cùng dùng hai ngón cái và ngón trỏ giữ gốc dương vật  hướng về phía bụng dưới và day 36 lần.
- Dùng ngón tay trỏ và ngón tay giữa đặt tại bao da dương vật, ngón cái đặt ở mũ quy đầu, đối xứng từ trước ra sau mà đẩy miết. Tay kia nắm lấy âm nang và tinh hoàn kéo xuống. Hai tay đồng thời dùng lực, động tác phối hợp hài hoà, làm liên tục 3 - 4 lượt rồi đột ngột buông ra. Làm đi làm lại vài lần như vậy.
- Dùng bàn tay trái ấn vào âm nang (túi đựng tinh hoàn), gốc bàn tay áp vào gốc dương vật, day tròn 81 lần, tiếp đó lại dùng tay phải tiến hành thao tác tương tự.
- Co hai gối lại, tay phải ôm đỡ hai tinh hoàn, tay trái xoa bụng dưới 36 vòng, rồi lại đổi tay xoa 36 vòng nữa. Cứ như vậy hai tay một đỡ tinh hoàn, một xoa bụng dưới, thay phiên nhau đủ 9 lần thì nghỉ.
     Bài tập trên cần được tiến hành kiên trì, đều đặn, mỗi ngày 1 - 2 lần, mỗi lần từ 20 - 30 phút. Chú ý khi luyện phải tập trung tư tưởng, động tác cần nhẹ nhàng mềm mại, cần giữ ấm khi trời lạnh.

                                                                            Hoàng Khánh Toàn


Ngọc bình phong ẩm

NGỌC BÌNH PHONG ẨM, MỘT LOẠI TRÀ DƯỢC QUÝ



     Ngọc bình phong ẩm là tên một bài trà thuốc cổ, được ghi lại trong y thư nổi tiếng Đan khê tâm pháp của Chu Đan Khê, một trong tứ đại gia trứ danh đời Kim Nguyên (Trung Quốc), có công dụng ích khí, cố biểu và chỉ hãn, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như hay đổ mồ hôi do biểu hư, cảm mạo ở những người thể chất hư nhược. "Bình phong" có nghĩa là tấm chắn, "Ngọc bình phong" là tấm chắn được chế bằng ngọc có công dụng che chắn bảo vệ cơ thể nhằm phòng chống ngoại tà (các nhân tố gây bệnh từ bên ngoài) xâm nhập vào cơ thể.
     Công thức loại trà dược này hết sức đơn giản, chỉ gồm có ba vị : hoàng kỳ sao 18g, bạch truật sao 12g, và phòng phong 6g. Cách dùng : ba vị sấy khô, tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 - 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
    Trong bài, hoàng kỳ vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ khí cố biểu, là một trong những dược liệu có tác dụng dược lý rất phong phú như tăng cường công năng miễn dịch của cơ thể, cải thiện quá trình chuyển hoá tế bào, điều tiết đường huyết, cường tim, nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống tạo huyết, bảo hộ tế bào gan và thận, chống lão hoá, chống mệt mỏi, chống phóng xạ, kháng khuẩn, kháng vi rút, chống viêm, tăng cường khả năng ghi nhớ, trấn tĩnh, giảm đau và ức chế các tế bào ung thư.
     Bạch truật vị đắng ngọt, tính ấm, có công dụng kiện tỳ ích khí, táo thấp lợi thuỷ, chỉ hãn an thai. Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, vj thuốc này cũng có khả năng tăng cường miễn dịch, chống lão hoá, làm giảm mỡ máu, hạ đường huyết, kháng khuẩn, lợi niệu, chống ung thư, lợi mật và bảo hộ tế bào gan.
     Phòng phong vị cay ngọt, tính hơi ấm, có công dụng trừ phong giải biểu, trừ thấp, trấn thống và giải kính. Theo dược lý học hiện đại, phòng phong có tác dụng giải nhiệt, kháng khuẩn, chống viêm, chống dị ứng, giảm đau, trấn tĩnh, chống co giật, kháng ung thư và nâng cao năng lực miễn dịch không đặc hiệu.
     Kết quả nghiên cứu dược lý và lâm sàng của các nhà khoa học Trung Quốc cho thấy, với cấu trúc phối hợp ba vị thuốc nói trên, Ngọc bình phong ẩm có tác dụng khá đặc biệt trên hệ thống miễn dịch của cơ thể, vừa nâng cao năng lực miễn dịch dịch thể, vừa cải thiện tích cực miễn dịch tế bào, ức chế phản ứng quá mẫn, tăng cường sức chống đỡ của niêm mạc đường hô hấp, từ đó phòng chống hữu hiệu tình trạng viêm nhiễm do vi khuẩn và vi rút gây nên. Bởi vậy, đây là loại trà dược đặc biệt tốt cho những người hay bị cảm mạo và các bệnh lý đường hô hấp. Trên thực tế, hiện nay người ta còn sử dụng Ngọc bình phong ẩm gia giảm để chữa khá nhiều chứng bệnh như tự hãn (vã mồ hôi nhiều khi thức), đạo hãn (hay đổ mồ hôi trộm), ho do nhiều nguyên nhân, viêm thận, liệt mặt, sốt khi hành kinh, khí hư, bí tiểu sau khi sinh con, chứng nhiều mồ hôi ở trẻ em, viêm mũi dị ứng, mày đay, hồng ban đa hình, hen phế quản, viêm nhiễm đường hô hấp trên
    Trong hoàn cảnh hiện nay, khi vấn đề ô nhiễm môi trường sống trở nên hết sức cấp bách, các bệnh lý trực tiếp hoặc có liên quan đến đường hô hấp đã và đang diễn biến rất phức tạp, đặc biệt là dịch SARS và cúm gà, thì việc tìm kiếm, nghiên cứu đánh giá và sử dụng các vị thuốc và bài thuốc của y học cổ truyền có ý nghĩa không nhỏ. Thiết nghĩ, Ngọc bình phong ẩm có lẽ cũng là một trong những loại trà dược cần được lưu tâm nghiên cứu và khuyến khích sử dụng.




Đan sâm ẩm

ĐAN SÂM ẨM, MỘT LOẠI TRÀ DƯỢC QUÝ



     Bất cứ ai có chút kiến thức về y học cổ truyền đều biết đến Tứ vật thang, một bài thuốc rất đơn giản chỉ gồm 4 vị : thục địa, đương quy, bạch thược và xuyên khung, nhưng lại là một phương thang “ bổ huyết điều huyết” kinh điển hết sức cơ bản và trọng yếu, được các thầy thuốc y học cổ truyền sử dụng thường xuyên trong công tác chẩn trị bệnh tật.
     Nhưng, cũng từ xa xưa giới chuyên ngành đông y, đông dược đã lưu truyền  câu ngạn ngữ : “ Nhất vị đan sâm ẩm, công đồng Tứ vật thang” (một vị đan sâm cũng có tác dụng ngang với cả bài thuốc Tứ vật). Y thư cổ Bản thảo hối ngôn cũng viết : “ Đan sâm nhất vật, nhi hữu Tứ vật chi công. Bổ huyết sinh huyết, công quá Quy, Thục ; điều huyết liễm huyết, lực kham Thược dược ; trục ứ sinh tân, tính bội Khung cùng” ( Chỉ mình vị Đan sâm mà có công năng như bài Tứ vật, bổ huyết và sinh huyết hơn cả Đương quy và Thục địa, điều huyết liễm huyết không thua kém Bạch thược, trừ huyết ứ sinh huyết mới vượt cả Xuyên khung). Dẫu cho cổ nhân có đánh giá hơi quá mức một chút, nhưng đủ thấy Đan sâm là vị thuốc rất có giá trị về phương diện huyết mạch, đặc biệt là công dụng hoạt huyết khứ ứ.
     Đan sâm ( Radix Salviae multiorrhizae) thực chất là rễ phơi hay sấy khô của cây đan sâm có tên khoa học là Salvia miltiorrhiza Bunge. “ Đan” là đỏ, “ sâm” là sâm, vì rễ cây này trông giống sâm mà lại có màu đỏ nên gọi là Đan sâm. Theo y thư cổ, Đan sâm vị đắng tính hơi lạnh, vào được hai kinh tâm và can, có công dụng hoạt huyết khứ ứ, tiêu thũng chỉ thống, lương huyết dưỡng huyết và an thần ; thường được dùng để chữa các chứng bệnh của đông y do huyết ứ gây nên như thống kinh, bế kinh, kinh nguyệt không đều, tâm thống, hung hiếp thống, quản phúc thống, phong thấp tý thống, ung thư thũng thống, tâm quý chính xung, trật đả thương tổn…
     Nghiên cứu hiện đại cho thấy, với thành phần chủ yếu gồm Tanshinone I, IIA và IIB ,  Cryptotanshinone, Salvianolic acid A, B và C, Tanshiquinone…, Đan sâm có tác dụng dược lý khá phong phú :
- Làm giãn và tăng lưu lượng động mạch vành, phòng chống tích cực tình trạng thiếu máu và hoại tử cơ tim, làm chậm nhịp tim .
- Cải thiện vi tuần hoàn, nâng cao sức chịu đựng của tế bào não và cơ tim trong điều kiện thiếu ô xy.
- Chống đông máu, ức chế chức năng tiểu cầu và ổn định màng hồng cầu.
- Điều chỉnh rối loạn lipid máu : làm giảm cholesterol và triglycerid ; ức chế và làm chậm quá trình hình thành các mảng vữa xơ động mạch.
- Bảo vệ và thúc đẩy sự tái sinh tế bào gan, bảo hộ và chống tình trạng loét niêm mạc dạ dày, cải thiện công năng thận và dự phòng cơn hen tái phát.
- Ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn coli, lỵ và thương hàn.
- Nâng cao năng lực miễn dịch, chống thương tổn do phóng xạ, thanh trừ và ức chế sự hình thành các gốc tự do, thúc đẩy quá trình liền sẹo vết thương.
- Trấn tĩnh và chống co giật.
     Trên cơ sở nghiên cứu dược lý này, người ta đã dùng Đan sâm và các chế phẩm của nó để điều trị khá nhiều mặt bệnh theo y học hiện đại như viêm gan, viêm thận cấp và mạn tính, hen phế quản, viêm thần kinh ngoại vi do đái đường, đau dây thần kinh tam thoa, đâu đầu do mạch máu, ù tai do nguyên nhân thần kinh, mụn nhọt...và đặc biệt là các bệnh lý tim mạch như thiểu năng tuần hoàn não, tai biến mạch não, cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, thiểu năng mạch vành, xuất huyết võng mạc, viêm động tĩnh mạch...
     Hiện nay, ngoài việc dùng Đan sâm đơn thuần hoặc phối hợp với các vị thuốc khác dưới dạng đơn sắc, viên hoàn hoặc bột thuốc theo lối cổ truyền, người ta còn ứng dụng công nghệ hiện đại để sản xuất và đưa vào sử dụng Đan sâm với hình thức dịch tiêm truyền, viên nén, viên nang, trà tan...Tuy nhiên, các dạng thuốc này đều khá phức tạp, khó chế, khó dùng và đắt tiền, chưa thích hợp với điều kiện kinh tế hiện nay và yêu cầu của công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu. Bởi vậy, việc chọn dùng Đan sâm dưới một dạng thuốc tương đối dân dã, dễ chế, dễ dùng và rẻ tiền mà vẫn giữ được tác dụng ở một mức độ đáng kể là điều hết sức cần thiết.
     Đan sâm ẩm, một loại trà dược được ghi trong sách Trung quốc dược thiện học, có lẽ đáp ứng được đầy đủ những yêu cầu này. Cách chế và cách dùng cụ thể như sau:
     Đan sâm 6 gam rửa sạch, thái mỏng rồi hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 - 20 phút có thể dùng được, uống thay trà trong một ngày. Chú ý chọn loại to chắc, khô, mềm, sắc ngoài đỏ tía, sắc trong vàng thâm mịn, không có xơ và không có rễ con là tốt. Nên dùng loại trà dược này với mục đích dự phòng tích cực, điều trị hỗ trợ hoặc điều trị duy trì cho những mặt bệnh đã nêu ở trên. Khi uống, nếu bị đi lỏng thì có thể sao qua Đan sâm trước khi dùng hoặc cho thêm vào ấm trà vài lát gừng tươi. Riêng đối với bệnh lý động mạch vành tim, để nâng cao hiệu quả trị liệu có thể phối hợp Đan sâm với một số vị thuốc hoạt huyết khác như Đàn hương, Tam thất, Hồng hoa, Nguyệt lý hoa... Ví dụ : Đan sâm 15g, Tam thất 100g, hai thứ tán vụn, mỗi ngày dùng 10g, bọc trong túi vải , hãm uống thay trà hoặc Đan sâm 9g, trà búp 3g, hai thứ tán vụn hãm uống thay trà trong ngày. Cũng cần lưu ý là Đan sâm ẩm không được dùng cho phụ nữ có thai và những người không có có hội chứng huyết ứ.

                                                                                                                                                                                                                                               


Dưỡng sinh ăn uống mùa thu

DƯỠNG SINH ĂN UỐNG MÙA THU



     Mùa thu có ba tháng, bắt đầu từ tiết Lập thu trải qua các tiết Xử thử, Bạch lộ, Thu phân, Hàn lộ, Sương giáng và Lập đông, là mùa vạn vật thành thục, cây trái và mùa màng đến kỳ thu hoạch. Tiết thu, dương khí dần dần thu liễm bế tàng, âm khí từ từ tăng trưởng, thời tiết chuyển dần từ nóng sang lạnh, là giai đoạn quá dộ của “dương tiêu âm trưởng”. Lúc này, mưa ít gió nhiều, độ ẩm trong không khí giảm đi, “Táo” với đặc tính khô hanh là chủ khí. Thu táo dễ làm hao tổn chất dịch trong cơ thể gây nên các hiện tượng miệng, môi, mũi, họng đều khô, da dẻ khô ngứa thậm chí nứt nẻ, râu tóc không nhuận, đại tiện dễ táo. Khí táo mùa thu được phân ra Ôn táo và lương táo. Đầu thu, khí nóng của mùa hạ chưa hết kết hợp với khí táo mà thành Ôn táo ; cuối thu, khí lạnh tăng dần kết hợp với khí táo mà thành Lương táo. Từ mùa hạ nóng nực chuyển sang mùa thu mát mẻ trong người cảm thấy dễ chịu hơn, tình trạng ăn uống không ngon miệng trong mùa hạ mất dần, khẩu vị và tinh thần được phục hồi khiến cho mùa thu trở thành một mùa bồi bổ khá tốt trong năm.
      Ăn uống vào mùa thu, trước hết cần phải tuân thủ nguyên tắc “thu đông dưỡng âm”, “phòng táo giữ âm, tư thận nhuận phế”, nghĩa là nên bổ sung đầy đủ tân dịch và trọng dụng những thực phẩm có công dụng dưỡng âm nhuận táo. Đầu thu ôn táo nên chọn những thứ có tính mát để thanh nhiệt dưỡng âm, sinh tân dịch như củ cải, giá đỗ, củ đậu, ngó sen, khoai sọ, khoai môn, củ từ, mía, lê, táo, hồng xiêm, nho, trứng vịt, thịt thỏ, tiểu mạch, bách hợp, trà mạch môn...Cuối thu lương táo nên chọn dùng những thực phẩm có tính bình hoà để tư âm dưỡng huyết nhuận táp như củ mài, vừng, mộc nhĩ trắng (ngân nhĩ), thịt rùa, thịt ba ba, sò, gà ác, tổ yến, sữa bò, mật ong, nước dâu, kỷ tử, hà thủ ô...Sách ẩm thực chính yếu viết : “Thu khí táo, nghi thực ma dĩ nhuận khí táo” (mùa thu khí trời khô hanh nên ăn nhiều vừng để nhuận táo”. Để bồi bổ tân dịch, sách Y học nhập môn khuyên nên trọng dụng các loại cháo như cháo bách hợp hạt sen, cháo hồng táo gạo nếp, cháo đường phèn, cháo sa sâm, cháo hoàng tinh...với phương thức “sáng sớm dùng cháo có tác dụng tốt cho quá trình trao đổi chất, lợi cho dạ dày, sinh tân dịch...”. Theo cổ nhân, ăn cháo vào mùa thu rất có ích cho sức khoẻ, nhất là vào tiết đầu thu khi khí trời vẫn còn nóng ẩm dễ gây ra các bệnh lý đường tiêu hoá. Sách Tuỳ tức cư ẩm thực phổ  viết : “Gạo tẻ vị ngọt tính bình, hợp với việc nấu thành cháo, cháo là một trong những đồ ăn bổ dưỡng tốt nhất”
     Thứ đến, theo học thuyết Ngũ hành, vị chua vào Can, vị cay vào Phế. Phế thuộc Kim, Can thuộc Mộc. “Vạn vật thu thu, phế khí kim vượng”, nghĩa là, mùa thu vạn vật thu vào, khí kim ở Phế vượng thịnh. Nếu ăn uống nhiều đồ có vị cay thì sẽ trợ giúp cho phế khí khiến cho phế khí càng thịnh, phế kim khắc can mộc thái quá dẫn đến công năng của tạng Can bị rối loạn. Vì vậy, cổ nhân khuyên về mùa thu nên ăn uống “thiểu tân tăng toan” (ít cay nhiều chua”, cần trọng dụng nhiều các thực phẩm có vị chua nhằm tăng cường chức năng của Can và phòng ngừa phế khí quá thịnh làm hại đến Can và dùng ít thực phẩm có vị cay như hành, gừng, tỏi, ớt, hạt tiêu...Sách Kim quỹ yếu lược viết : “Thu bất tư phế” (mùa thu không nên ăn những thứ bổ phế) cũng là nằm trong ý nghĩa sâu xa này.
     Thêm nữa, mùa thu là giai đoạn quá độ từ nóng chuyển sang lạnh vì vậy không nên ăn quá nhiều đồ sống lạnh hoặc bổ béo khó tiêu dễ gây thương tổn Tỳ và Vị. Tôn Tư Mạo, danh y đời Đường (Trung Quốc) đã viết : “Thu đông gian, noãn lý phúc” (giữa mùa thu và mùa đông chú ý ôn ấm vùng bụng). Tăng Đình Đống, y gia đời Thanh cũng cho rằng : “Hạ chí dĩ hậu, thu phân dĩ tiền...tối đương điều đình tỳ vị, vật tiến phí nồng”.
     Cuối cùng, mùa thu ăn uống bồi bổ nên điều hoà (bình bổ) vì thời tiết mát mẻ, âm dương tương đối cân bằng, đồ ăn thức uống không nên quá nóng và quá lạnh. Ví như về mùa hạ các loại dưa như dưa hấu, dưa chuột, dưa gang...là thực phẩm thượng hạng vì có tác dụng thanh nhiệt tiêu thử mạnh, nhưng sau tiết Lập thu thì bất luận loại dưa nào dù ngon đến mấy cũng không nên ăn nhiều vì dễ làm cho dương khí của Tỳ Vị hư hao. Sách thuốc cổ đã viết : “Thu qua hoại đỗ” (mùa thu ăn dưa thì có hại cho đường tiêu hoá).
     Mùa hạ đã qua, mùa thu đang tới, nhắc lại một vài quan niệm về ăn uống trong mùa thu của cổ nhân những mong chúng ta hiểu thêm về một đôi nét đặc sắc trong khoa học và nghệ thuật ẩm thực phương Đông xa xưa. Vẫn biết rằng, trong thời buổi công nghiệp hiện nay, khi hội nhập và hoà đồng đang là xu thế của thời đại, nhiều nếp cũ không còn giữ nữa, người ta có thể ăn dưa hấu quanh năm, thịt chó, thịt dê và các loại rượu mạnh được tiêu thụ bốn mùa, đồ ăn Âu Mỹ không còn là của hiếm...Nhưng, ngẫm cho kỹ, con người ta đâu có dễ gì thoát khỏi sự chi phối của quy luật tạo hoá, bởi vậy dưỡng sinh ăn uống theo mùa, xem ra, vẫn là điều khiến chúng ta phải lưu tâm nghiên cứu.


                                                                                             


Đàn ông m,ãn kinh ăn gì ?

ĐÀN ÔNG “MÃN KINH” NÊN ĂN GÌ ?



     Ở vào độ tuổi 50 - 65, dù muốn hay không, người đàn ông nào cũng phải đối mặt với những “cơn khủng hoảng” tâm sinh lý ở các mức độ khác nhau. Giai đoạn “xuống sắc” này được nhiều người định danh bằng một cụm từ khá thú vị là  “Hội chứng mãn kinh đàn ông” (Male climacteric syndrome). Trong y học cổ truyền, trạng thái này đã được các y thư cổ đề cập đến từ rất sớm với cơ chế bệnh sinh chủ yếu là do Thiên quý, Tinh khí Thận khí suy giảm. Có thể hiểu một cách đơn giản đó là sự biến đổi theo chiều hướng đi xuống của hệ thống nội tiết tố, trong đó vai trò của các hormone sinh dục có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
     Để làm chậm quá trình này, các biện pháp của y học phương Đông là hết sức phong phú như dùng thuốc, châm cứu bấm huyệt, tập luyện khí công dưỡng sinh, trong đó có một phương thức khá đơn giản và độc đáo là lựa chọn và  sử dụng các thực phẩm thông dụng hàng ngày một cách hợp lý dựa trên quan điểm “biện chứng luận trị” của y học cổ truyền cho từng thể bệnh khác nhau. Cụ thể như sau :

   @ Thể Can thận âm hư : được biểu hiện bằng các triệu chứng như người gầy, hay hoa mắt chóng mặt, tính tình dễ cáu giận, lưng đau gối mỏi, tai ù tai điếc, trí nhớ giảm sút, lòng bàn tay bàn chân nóng, bức bối trong ngực, hay có cảm giác sốt nhẹ về chiều, môi khô miệng khát, dương vật dễ cương nhưng nhanh xỉu, tinh dịch bài tiết chậm và ít, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, lưỡi đỏ và ít rêu. Nên trọng dùng các thực phẩm sau :
     + Vừng đen : vị ngọt, tính bình, có công dụng bổ can thận, nhuận ngũ tạng, làm khoẻ gân cốt, đen râu tóc và chống lão hoá. Dân gian thường dùng vừng đen phối hợp với hồ đào nhục và tang thầm lượng bằng nhau, tán nhuyễn rồi chưng với mật ong thành dạng cao lỏng, uống khi bụng đói, mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 2 thìa canh hoặc vừng đen (xát bỏ vỏ, đồ chín) 1 phần phối hợp với lá dâu non (hái lúc mặt trời chưa mọc) 2 phần, hai thứ sấy khô tán mịn, luyện với mật ong thành dạng viên to bằng hạt ngô đồng, uống mỗi ngày 100 viên với nước ấm vào lúc đói.
     + Hoài sơn (củ mài) : vị ngọt, tính bình, có công dụng tư thận bổ phế, kiện tỳ ích tinh. Sách Bản thảo chính viết : “Sơn dược năng kiện tỳ bổ hư, tư tinh cố thận, trị chư hư bách tổn, trị ngũ lao thất thương” (Củ mài có khả năng bổ tỳ thận và ích tinh, trị được mọi chưng hư tổn). Sách Bản thảo kinh độc cũng cho rằng hoài sơn “năng bổ thận điền tinh, tinh túc tắc âm cường, mục minh, nhĩ thông”.
     + Ô tặc ngư (cá mực) : vị mặn, tính bình, có công dụng tư âm dưỡng huyết. Sách Biệt lục cho rằng cá mực có tác dụng “ích khí cường trí”. Sách Y lâm cải thác cũng đã viết : “Ô tặc ngư bổ tâm thông mạch, hoà huyết thanh thận, khứ nhiệt bảo tinh”. Bởi vậy, với đàn ông “mãn kinh” thuộc thể Can thận âm hư, cá mực là thức ăn rất có lợi.
     + Trai hến : vị ngọt mặn, tính lạnh, có công dụng tư âm thanh nhiệt, dưỡng can minh mục. Sách Tuỳ tức cư ẩm thực phổ viết : “Bạng nhục (thịt trai) thanh nhiệt tư âm, dưỡng can lương huyết, minh mục định cuồng”. Sách Bản thảo tái tân cũng cho rằng trai hến có khả năng “trị can nhiệt, thận nhược, thanh lương chỉ khát”. Theo dinh dưỡng học hiện đại, trong trai hến có chứa nhiều kẽm nên rất có lợi cho việc phòng chống u phì đại tiền liệt tuyến lành tính, căn bệnh rất hay gặp ở đàn ông trung lão niên.
     + Tang thầm (quả dâu chín) : vị ngọt, tính lạnh, có công dụng bổ can ích thận, tư âm minh mục. Sách Bản thảo kinh sơ viết : “Tang thầm cam hàn, ích huyết nhi trừ nhiệt, vị lương huyết bổ huyết ích âm chi dược. Ngũ tạng giai thuộc âm, ích âm cố lợi ngũ tạng. Thoái nhiệt âm sinh, tắc can tâm vô hoả, thần thanh tắc thông minh nội phát”. Dân gian thường dùng tang thầm dưới dạng ngâm đường để pha nước giải khát, ngâm rượu hoặc chế thành mứt dâu.
      Ngoài ra, các thực phẩm có công dụng bổ can thận âm khác như bồ dục lợn, thịt vịt, ba ba, cá quả, hàu, ếch, hải sâm, hà thủ ô, kỷ tử, ngân nhĩ (mộc nhĩ trắng), tổ yến...đều rất thích hợp với thể bệnh này.

   @ Thể Tỳ thận dương hư : được biểu hiện bằng các triệu chứng như người béo trệ, dễ mệt, sợ lạnh, tay chân lạnh, ăn kém, đại tiện lỏng loãng, tiểu tiện trong dài, hay đi tiểu đêm, suy giảm ham muốn tình dục, tinh dịch lạnh loãng, miệng nhạt, lưỡi nhợt ướtNên trọng dùng các thực phẩm sau :
     + Thịt dê : vị ngọt, tính ấm, có công dụng ích thận khí, ôn thận dương, bổ trung khí và làm ấm tỳ vị. Sách Biệt lục viết : “Dương nhục chủ hư lao hàn lãnh, bổ trung ích khí”. Các y thực gia cổ cũng đều ca ngợi công dụng của thịt dê trong việc bồi bổ thận khí, làm mạnh dương đạo, chữa trị các chứng bệnh hư hàn. Bởi vậy, thịt dê là một trong những thực phẩm rất hữu ích cho đàn ông “mãn kinh” thuộc thể Tỳ thận dương hư.
     + Thịt chó : vị mặn, tính ấm, có công dụng bổ trung ích khí, ôn thận trợ dương. Y thực gia trứ danh đời Đường (Trung Quốc) cho rằng thịt chó có khả năng “bổ huyết mạch, hậu tràng vị, thực hạ tiêu, điền tinh tuỷ” (bồi bổ huyết mạch, làm khoẻ dạ dày ruột, làm mạnh 1/3 dưới cơ thể, làm tăng tinh tuỷ). Sách Nhật hoa tử bản thảo cũng viết : “ Cẩu nhục (thịt chó) bổ vị khí, tráng dương, noãn yêu tất, bổ hư lao, ích khí lực”. Đối với đàn ông trung lão niên dương sự yếu đuối, hay đi tiểu đêm, đại tiện thường xuyên lỏng loãng, sợ lạnh thích ấm, thịt chó là thực phẩm rất phù hợp.
     + Đông trùng hạ thảo : vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ hư tổn, ích tinh khí, có lợi cho ngũ tạng và chống lão hoá. Sách Dược tính khảo viết : “Đông trùng hạ thảo bí tinh ích khí, chuyên bổ mệnh môn”. Mệnh môn, theo y học cổ truyền, là cái gốc của dương khí, là nhân tố cực kỳ quan trọng đối với sự sống, cho nên bổ được mệnh môn thì sẽ giúp cho tỳ dương và thận dương được phục hồi, nhờ đó mà cơ thể trở nên cường tráng.
     + Nhân sâm : vị ngọt hơi đắng, tính ấm, có công dụng đại bổ nguyên khí, cường tráng thể chất. Đây là một trong những vị thuốc quý giá của y học cổ truyền mà tác dụng bồi bổ đã được dược lý học hiện đại nghiên cứu và khẳng định. Dân gian thường dùng dưới dạng chế thành các món ăn - bài thuốc (dược thiện), trà dược hoặc tửu dược.
     Ngoài ra, ở thể bệnh này cũng nên trọng dụng một số thực phẩm có công dụng ôn bổ tỳ thận như thịt bò, gan bò, xương bò, xương dê, gan dê, ngẩu pín, thịt thỏ, thịt chịm sẻ, thịt chim cút, trứng gà, trứng chim cút, sữa dê, cá ngựa, hải sâm, hạt dẻ, nhục quế, nhục dung, đỗ trọng, toả dương, ba kích, dâm dương hoắc, nhau thai

   @ Thể Tâm khí hư : được biểu hiện bằng các triệu chứng như mệt mỏi, mất ngủ triền miên, hay mê mộng, dễ kinh sợ, suy giảm ham muốn tình dục, thậm chí sợ hãi, liệt dương, di mộng tinh, xuất tinh sớm, trí nhớ giảm sút, tâm thần bất định, ăn ngủ kém, lưỡi hồng nhạtNên trọng dùng các thực phẩm sau :
     + Hạt sen : vị ngọt, tính bình, có công dụng dưỡng tâm an thần, kiện tỳ ích thận. Nhà dược học vĩ đại Lý Thời Trân (đời Thanh,Trung Quốc) cho rằng hạt sen có khả năng “giao tâm thận, hậu tràng vị, cố tinh khí, cường cân cốt, bổ hư tổn” (Bản thảo cương mục). Bởi vậy, loại thực phẩm này rất hữu ích cho đàn ông “mãn kinh” thuộc thể Tâm khí hư. Dân gian hay dùng dưới dạng hầm với xương thịt, nấu chè hoặc làm thành các loại bánh.
     + Long nhãn : vị ngọt, tính ấm, có công dụng ích tâm kiện tỳ, bổ khí dưỡng huyết, an thần định trí. Sách Nhật dụng bản thảo viết : “Long nhãn ích trí định thần”. Sách Tuyền châu bản thảo cũng viết : “Long nhãn tráng dương ích khí, bổ tâm kiện tỳ”. Dân gian hay dùng dưới dạng làm mứt, nấu chè, ngâm rượu hoặc chế thành các loại nước giải khát.
      + Tim lợn : vị ngọt mặn, tính bình, có công dụng bổ hư, dưỡng tâm, an thần. Dân gian hay dùng dưới dạng hầm cách thuỷ với thần sa, chế thành các món ăn hoặc các món dược thiện. Điều cần lưu ý là : những người có rối loạn lipid máu thì nên dùng ở mức độ vừa phải theo hướng dẫn của thầy thuốc.
     Ngoài ra, với thể bệnh này nên trọng dụng một số thực phẩm khác như tổ yến, đậu tương, gạo nếp, đại táo, mộc nhĩ trắng, bá tử nhân, toan táo nhân, nhân sâm, nấm linh chi, đẳng sâm, cam thảo, bách hợp, nhau thai