Thứ Tư, ngày 03 tháng 12 năm 2014

Cháo lá sen

CHÁO LÁ SEN – MÓN ĂN MÁT BỔ VÀ PHÒNG CHỐNG BÉO PHÌ


     Thời tiết nóng nực, cơ thể cần một lượng nước khá lớn để điều hoà thân nhiệt, bới vậy nhu cầu dùng các đồ giải khát, các món ăn nhiều nước và dễ tiêu là hoàn toàn hợp lý, trong đó có việc chọn dùng các món cháo. Tuy nhiên, theo quan niệm của dinh dưỡng học cổ truyền, không phải loại cháo nào cũng thích hợp trong mùa hè. Bởi lẽ, ngoài gạo ra, các thực phẩm hoặc dược liệu kèm theo phải có tính thanh nhiệt và thanh đạm, nói nôm na là có thể làm mát cơ thể, dễ hấp thu và dễ tiêu.
     Ngoài các loại cháo thanh nhiệt hết sức dân dã và thông dụng như cháo đậu xanh, cháo đậu đen, cháo hến, cháo trai…có một loại cháo khá đặc biệt nhưng còn ít người biết đến, đó là cháo lá sen. Vậy món cháo này được nấu như thế nào ? Công dụng của nó ra sao ? Xin được giới thiệu cụ thể với bạn đọc như sau :

@ Nguyên liệu

     Lá sen tươi 1 tàu, gạo tẻ 100g, đường trắng vừa đủ, cũng có thể gia thêm đậu xanh để tăng sức thanh nhiệt giải độc. Nếu không có lá sen tươi có thể dùng lá sen khô cũng được nhưng trước khi dùng phải ngâm nước cho mềm.

@ Cách chế

     Lá sen rửa sạch, thái vụn, sắc kỹ lấy nước bỏ bã rồi cho gạo vào nấu nhừ thành cháo, chế thêm đường trắng, chia ăn vài lần trong ngày. Cũng có thể cho gạo vào nồi nấu thành cháo trước, sau đó dùng lá sen đã cắt bỏ cuống và viền quanh đậy lên trên mặt cháo, tiếp tục đun cho đến khi mùi thơm của lá sen thấm đượm vào cháo là được. Hoặc đơn giản dùng lá sen rửa sạch chần qua nước sôi, lót dưới đáy nồi rồi đổ cháo đang sôi lên trên, đậy kín vung trong 5 phút, sau đó bỏ lá sen ra, chế thêm đường là được.
     Nếu có thêm đậu xanh thì ninh đậu trước. Khi chín, cho gạo và lá sen vào nấu thành cháo loãng, chế thêm đường, chia ăn vài lần trong ngày.

@ Công dụng

     Cháo lá sen có công dụng thanh nhiệt giải thử, kiện não sinh tân dịch, hạ huyết áp và hạ mỡ máu. Là món ăn mát bổ rất thích hợp trong điều kiện thời tiết nắng nóng. Đặc biệt tốt với những người béo phì, cao huyết áp, rối loạn lipid máu (tăng cholesterol, triglycerid, lipoprotein có tỷ trọng thấp và apoprotein B ; giảm lipoprotein có tỷ trọng cao và apoprotein A), người bị viêm đường tiết niệu, rối loạn tiêu hoá do thấp nhiệt, phù thũng, một số chứng xuất huyết như chảy máu cam, băng huyết, lậu huyết, hoa mắt chóng mặt sau khi sinh con…

@ Phân tích ý nghĩa

     Theo dược lý học hiện đại, lá sen có chứa các chất như Roemerine, Nuciferine, Nornuciferine, D- N- Methylcoclaurine, Anonaine, Liriodenine, isoquercitrin, Gluconic acid…Trên mô hình thực nghiệm chuột gây tăng cholesterol máu bằng chế độ ăn, nước sắc lá sen có tác dụng làm giảm cholesterol rõ rệt. Nghiên cứu lâm sàng cũng cho thấy dịch chiết lá sen có thể điều trị hội chứng rối loạn lipid máu khi dùng liên tục 3 đợt, mỗi đợt 20 ngày, đạt hiệu quả 91,3 %. Với những người béo phì, mỗi ngày hãm uống 9g lá sen thay trà liên tục trong 3 tháng có tác dụng giảm béo khá tốt.
     Theo y học cổ truyền, lá sen vị đắng, tính bình, có công dụng thanh nhiệt lợi thấp, chỉ khát sinh tân, thăng phát thanh dương và cầm máu ; thường được dùng để chữa các chứng đi lỏng do thử thấp, chóng mặt, phù thũng, nôn ra máu, cháy máu cam, băng lậu huyết, đại tiện ra máu, chóng mặt sau khi sinh con…Kinh nghiệm dùng lá sen hãm uống thay trà hoặc uông tro lá sen để phòng chống béo phì, làm cho thân hình thon thả, gọn đẹp đã được người xưa biết đến từ rất lâu và ghi lại trong các y thư cổ như Bản thảo bị yếu, Bản thảo cương mục, Trấn nam bản thảo, Nhật dụng bản thảo…
     Như vậy có thể thấy, tuy rất đơn giản trong cấu trúc, giản dị trong cách chế, cách dùng nhưng món cháo lá sen lại rất có ý nghĩa trong những ngày thời tiết nóng bức. Nó cũng có vị trí khá đặc biệt đối với cuộc sống hiện đại khi người ta, do ăn quá nhiều đò bổ béo và lười vận động thể lực, đang lo sợ trước căn bệnh béo phì và tình trạng rối loạn lipid máu, một hội chứng có tính nền tảng để tạo nên các căn bệnh tim mạch đáng sợ như thiểu năng mach vành, nhồi máu cơ tim, rối loạn tuần hoàn não…


                                                                                 Hoàng Khánh Toàn


Về huyệt Cao hoang

                               TÌM HIỂU CÁCH DÙNG HUYỆT CAO HOANG
           CỦA NGUYỄN ĐẠI NĂNG TRONG “ CHÂM CỨU TIỆP HIỆU DIỄN CA”



      Trong Châm cứu tiệp hiệu diễn ca, Phương sĩ chuyên khoa châm cứu Nguyễn Đại Năng đã dành nhiều trang nói về huyệt Cao hoang. Trên thực tế nghiên cứu và thực hành lâm sàng hiện nay, huyệt vị này ít được các nhà châm cứu chú ý đến. Nhưng  đọc lại và suy ngẫm những kiến giải của cổ nhân để rồi từ đó mạnh dạn đi sâu nghiên cứu, minh giải và vận dụng huyệt này trong thực tiễn chẩn trị âu cũng là một việc làm hết sức cần thiết. Vả lại, không phải đến bây giờ mà đương thời Nguyễn Đại Năng đã nói: " Cao hoang huyệt pháp thiểu nhân tri"( ít người biết phép dùng huyệt Cao hoang). Và danh y tiên liệt Tôn Tư Mạo cũng đã viết : Chỉ vì người vụng không thể sử dụng được huyệt này, thế nên những bệnh trầm kha ngoan cố khó hết, nếu có thể dụng tâm phương tiện tìm được để đốt, thì không bệnh gì là không hết. Vậy, Nguyễn Đại Năng đã kiến giải về huyệt Cao hoang như thế nào ?

   @ - Về công dụng

      Trước hết, Ông cho rằng Cao hoang có thể chữa được các chứng phế lao khái huyết, thổ huyết, khái thấu và khí suyễn. Ông viết:

" Hoặc ho, hoặc rãi, hoặc hen,
                              Lạnh liền đau bụng, nắng liền nhãn hoa.
 Ho đờm khạc huyết sinh ra,
                              Trong lòng bẩm nhẩm, ngoài da rùng rùng."

“ Có người lao trái truyền thi,
                              Cường tà ngoan quỷ nó thì cũng nên.”

     Ở đoạn khác, Ông khẳng định:

                             “ Cao hoang huyệt pháo thiểu nhân tri,  
                               Phá trái trừ tà chân bảo y.”
( ít người biết phép dùng huyệt Cao hoang
để trừ tà lao trùng rất là hiệu nghiệm.)

      Theo y thư cổ, huyệt Cao hoang trước kia vốn chỉ là kinh kỳ ngoại huyệt. Mãi tới đời Đường, Tôn Tư Mạo nhận thấy hiệu năng quá đặc biệt mới quan trọng hoá nó trong hai tác phẩm của mình là Thiên kim phươngThiên kim dực phương và sáp nhập Cao hoang vào Bàng quang kinh. Trên thực tế, tác dụng của huyệt vị này đối với một số chứng bệnh đường hô hấp như Nguyễn Đại Năng kiến giải đã được nhiều y gia khẳng định. Ví như, sách Thiên kim yếu phương viết: “ Cao hoang du vô sở bất trị, chủ luy sấu hư tổn, mộng trung thất tinh, thượng khí suyễn khái”; sách Châm cứu tư sinh kinh viết: “ Hữu quý nhân cửu hoạn suyễn, dạ ngoạ bất đắc nhi khởi hành…, lệnh cứu Cao hoang nhi dụ”; sách Bách chứng phú cũng đã viết: “ Lao sái truyền thi, xu Phách hộ, Cao hoang chi lộ” ( Mắc chứng phế lao phải dùng tới hai huyệt Phách hộ và Cao hoang); Sách Thần cứu kinh luân thì cho rằng, nếu bị ho do phong hàn thì nên cứu các huyệt Phế du, Cao hoang, Linh đài, Chí dương, Hợp cốc, Liệt khuyết, Thiên đột và Tam lý.
      Kinh nghiệm hiện nay thường dùng Cao hoang phối hợp với Phế du và Thận du để trị lao phổi; với Thiên đột, Đại chuỳ và Suyễn tức để trị hen suyễn. Một số tác giả Trung quốc như Chu Sơ Kiện (1989), Lý Chí Minh (1982), Châu Thụ Yến (1987)…đã có những công trình nghiên cứu dùng huyệt Cao hoang phối hợp với các huyệt vị khác để điều trị viêm phế quản mạn tính, hen phế quản, lao phổi…Ví như, Sử Quảng Vũ (1983) đã tiến hành cứu các huyệt Xích trạch, Phế du, Cao hoang, Đại chuỳ, Tam âm giao và Thái uyên để điều trị lao phổi thể âm hư hoả vượng theo phương thức : ôn cứu mỗi ngày 1 lần, mỗi huyệt cứu 15 phút, 10 lần là 1 liệu trình, giữa các liệu trình nghỉ 3 ngày. Đã khảo sát trên 30 bệnh nhân, kết quả sau điều trị 3 liệu trình 18 ca có chuyển biến tốt, 10 ca có chuyển biến khá, 2 ca không có kết quả
     Thứ hai, Nguyễn Đại Năng cho rằng Cao hoang có thể dùng để điều trị chứng hư lao (suy nhược cơ thể) biểu hiện bằng các triệu chứng mệt mỏi, chán ăn, dễ ẩu thổ, gầy mòn, da vàng nhợt…Ông viết:

“ Hoặc người bẩm khí bạc suy,
                              Mong manh sức cốt thường khi yếu liền.
Khí suy huyết thiểu thực song,
                              Chưa hè đã quạt, chưa đông đã vầy”

“ Da vàng mái mái chẳng tươi
                               Biếng ăn cơm gạo, muốn say mận đào.”

                                  " Bụng thì khi đói khi đầy,
Mặt xem bỗng tái, bỗng hây đỏ hồng.
     Khí thăng ưng ực nương long,
Ủa lên máy miệng phán dông phán dài."

      Kiến giải này của Nguyễn Đại Năng cũng hoàn toàn phù hợp với quan niệm của các y gia tiên liệt. Theo đó huyệt vị này có tác dụng nâng cao chính khí và đề phòng bệnh tật. Tuy nhiên, Cao hoang bổ hư ích tổn nhưng chủ yếu là thanh nhiệt dưỡng âm, bổ nguyên điền tinh. Bởi vậy, cổ nhân thường cứu huyệt này cùng với Túc tam lý và Quan nguyên để tăng cường tác dụng hoặc phối hợp với Đào đạo, Thân trụ và Phế du để trị suy nhược do ngũ lao thất thương. Sách Châm cứu đại thành viết: " Cao hoang chủ trị các chứng bệnh ngoan cố, gầy gò, suy nhược, nóng trong xương". Sách Y tông kim giám viết: " Chủ trị chư hư bách tổn, ngũ lao thất thương, thân hình luy thụ". Sách Châm cứu ca phú tuyển giải cho rằng: " Uông Tỉnh Chi cho Cao hoang là chỗ ở của thần minh, tà khí phạm vào, đương sự sẽ yếu mệt, ốm gầy. Đến đây nếu được minh sư cứu cho ở đó tức bệnh nhân sẽ được khỏe mạnh và an nhiên vô sự". Sách Thần cứu kinh luân cũng ghi rằng: " Các hư lao nhiệt, Khí hải, Quan nguyên, Cao hoang, Túc tam lý, Nội quan trị lao nhiệt tốt", nghĩa là để chữa chứng lao tổn hư nhiệt biểu hiện bằng các triệu chứng lúc sốt lúc không, thường cảm thấy nóng lòng bàn tay bàn chân, kèm theo váng đầu, tinh thần mỏi mệt, gầy yếu, nóng trong xương, hay quên, ăn kém, đổ mồ hôi trộm, mạch hư vô lực thì phải chọn phương huyệt này, trong đó Khí hải, Cao hoang và Quan nguyên là tam huyệt đại bổ nguyên khí, điền bổ âm tinh.
     Liên hệ với bệnh danh của y học hiện đại, chứng hư lao mà huyệt Cao hoang có khả năng chữa trị nằm trong phạm vi các bệnh như suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể, thiếu máu, viêm thận mạn tính, lao phổi, lao xương…Kinh nghiệm hiện nay thường phối hợp dùng Cao hoang với Quan nguyên và Túc tam lý để chữa suy nhược cơ thể do các bệnh mạn tính gây nên ; phối hợp với Túc tam lý và Cách du để trị nóng âm ỉ trong xương. Một số tác giả Trung quốc như Vương Lập Tảo, Lý Vinh Phiên, Du Phương… đã dùng Cao hoang trong phác đồ chung để điều trị suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể, thiếu máu, chứng giảm thiểu bạch cầu…đạt hiệu quả khá tốt.
      Thứ ba, Nguyễn Đại Năng nhận thấy huyệt Cao hoang còn có tác dụng trị liệu chứng di mộng tinh. Trong Châm cứu tiệp hiệu diễn ca, Ông viết:

" Kìa ai nằm thường chiêm bao,
                           Đêm đêm nhấp thấy qủy giao dâm cùng.
   Ăn ở như hình vợ chồng,
                            Khiến tinh bất cấm làm song những là.
   Cứu huyệt Cao hoang trừ tà,
                           Cùng Qủy nhãn huyệt vậy hòa phải thay."

      Sách Loại kinh đồ dực viết: " Mộng di tinh qủy giao, Tâm du cứu không nên nhiều, Cao hoang , Thận du cứu tùy tuổi, thấy ngay hiệu quả" và cũng đã cấu tạo nên " Cố tinh phương" chuyên sáp tinh chỉ di, gồm các huyệt Tâm du, Cao hoang, Thận du, Mệnh môn, Bạch hoàn du, Trung cực, Tam âm giao, Trung phong và Nhiên cốc ; có công dụng thanh tâm bổ thận, ích khí cố tinh ; chủ trị di mộng tinh kèm theo hoa mắt chóng mặt, ù tai, tinh thần không phấn chấn, mỏi lưng, yếu sức, chân tay uể oải, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch tế nhược. Sách Châm cứu tư sinh kinh cho rằng: " Đàn ông mộng tinh tiết cứu Tam âm giao 50 mồi, Cao hoang du cứu mộng thất tinh, Chí âm, Khúc tuyền, Trung cực chữa thất tinh". Như vậy có thể thấy, kinh nghiệm dùng Cao hoang chữa di mộng tinh của Nguyễn Đại Năng cũng hoàn toàn phù hợp với nhận định của nhiều y gia khác.
      Thứ tư, Nguyễn Đại Năng cho rằng Cao hoang còn có tác dụng chữa đau vai, đau lưng ngực. Ông đã viết:

" Có khi trên ức đầy đầy,
                           Sái vai mỏi cổ lại hay ngáp dài."

      Sách Đông y bảo giám ghi rằng: " Đau vai do suy nhược, đau vai do nghề nghiệp, suy nhược do nữ sắc, cứu Cao hoang rất hay". Kinh nghiệm hiện nay cũng thường dùng Cao hoang chữa đau vai và đau lưng ngực, tuy nhiên rất tiếc là hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào khảo sát vấn đề này.
      Cuối cùng, Nguyễn Đại Năng còn phát hiện tác dụng chữa phụ nữ sau đẻ máu hôi ra không dứt và chữa phụ nữ kinh nguyệt không đều, ngủ thấy chiêm bao mê mộng, đẻ con khó nuôi của huyệt Cao hoang. Trong Châm cứu tiệp hiệu diễn ca, Ông đã viết:

" Kìa ai sản hậu làm xong,
                          Ác lộ bất chỉ trong lòng đau thay.
Đẻ được một tháng bằng nay,
                           Hoặc hai ba tháng máu rày thường ra.
Cứu huyệt Thủy phân chớ qua,
                           Cùng Quan nguyên huyệt vậy hòa cho hay.
Cứu Cao hoang huyệt bằng nay,
                           Tam âm giao huyệt ấy rày làm song."

"Kìa ai phải chứng qủy tà,
                           Bị mười lăm giống qủy ma luân hồi.
Có đẻ mà chẳng có nuôi,
                           Lại thêm mộng tưởng kìa ơi ngày rày.
Thoạt nhấp thấy chiêm bao nay,
                           Hình như rắn đỉa thuở rày vào ra.
Ta cứu Cao hoang trừ tà,
                           Cùng Giản sử huyệt vậy hòa ở đâu?".

      Có thể nói đây là vấn đề rất lý thú, cần phải lưu ý tìm hiểu và khảo sát. Sách Châm cứu tứ thư viết: " Cao sinh vu tỳ, Hoang căn vu thận", huyệt Cao hoang lại nằm ở vùng lưng, cho nên trong trị liệu những bệnh liên quan đến tỳ, thận, phế nói chung và các bệnh sản phụ khoa nói riêng vai trò của huyệt vị này chắc hẳn là không nhỏ.

   @ - Về cách lấy huyệt

      Vấn đề xác định vị trí huyệt Cao hoang đã được Nguyễn Đại Năng chú ý diễn giải khá dài và rất cụ thể bằng 19 câu ca nôm. Kế đó, Ông lại tóm lược bằng mấy câu thơ:

" Lưỡng thủ tất vi linh chính tọa,
Song kiên giáp cốt sử khai ly.
Tam thiểu phân trừ tu bút ký,
Lưỡng tam bàng khứ huyệt tương kỳ.
Chân hạ phân minh u hữu tứ,
Châm câu tuy ngũ pháp vô nghi."

      (Bảo người bệnh ngồi hai tay bó gối, sao cho hai xương bả vai mở rộng ra. Lấy mốc vào khoảng 1/3 dưới đốt xương sống thứ 4, 2/3 trên đốt xương sống thứ 5, ngang thẳng ra hai bên, mỗi bên cách 3 thốn đồng thân, là huyệt).
        Theo sách Châm cứu đại thành, huyệt Cao hoang nằm ở hai bên xương sống, dưới đốt xương sống thứ 4 ngang ra 3 tấc. Hiện nay, các nhà châm cứu ở nước ta và Trung quốc đều lấy huyệt Cao hoang ở điểm gặp nhau của đường ngang qua đầu mỏm gai đốt sống lưng 4 và đường thẳng đứng ngoài mạch Đốc 3 tấc ( tay nọ ôm tay kia để xương bả vai kéo ra ngoài, cho huyệt lộ ra)
      Cho đến nay, có thể nói: Ở nước ta, Nguyễn Đại Năng là nhà châm cứu xưa nhất và duy nhất bàn luận sâu sắc và thực hành sáng tạo về huyệt Cao hoang. Ông thực sự yêu qúy và tâm đắc với huyệt vị này mà thể hiện qua mấy vần thơ khiến chúng ta ngày nay phải thực tâm suy ngẫm:

" Nếu mà cứu được huyệt này,
                            Như chim phá tổ, rắn nay dập đầu.
   Như thiên vạn qủy âu sầu,
                            Lục phủ ngũ tạng mấy hầu bổ nguyên.
   Bách bệnh chủ trị vi tiên,
                            Thượng cổ thánh hiền đã truyền Nội kinh."

" Tuy nhiều pho nọ sách kia,
                            Tiên hiền di bút người thì dấu ai.
    Bởi ta sức học vắn dài,
                           Chữ đen đã thấu nghĩa vai còn ngờ.
  Nghe hơi bắt chước tình cờ,
                           Khổ dê ỷ núi bây giờ chan chan.
  Cậy rằng đắc thế làm càn,
                           Chẳng nề kinh chỉ, chẳng toan đắc truyền."

                                                                              Hoàng Khánh Toàn



Nước cà chua bổ dưỡng

NƯỚC CÀ CHUA BỔ DƯỠNG VÀ PHÒNG CHỐNG BỆNH TẬT



     Về mùa đông xuân, cà chua là một trong những thực phẩm hết sức thông dụng. Người ta mến dùng cà chua không phải chỉ vì nó tham gia vào khá nhiều món ăn thường nhật, mà còn bởi đó là một loại quả có thành phần dinh dưỡng rất cao. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết rằng từ những quả cà chua đỏ hồng và chín mọng người ta có thể chế ra nhiều thứ nước giải khát vừa bổ dưỡng lại vừa có công dụng phòng chống bệnh tật hết sức độc đáo. Bài viết này xin được giới thiệu với độc giả một số công thức điển hình.

   @ Công thức 1 :  Cà chua 1000g, đường trắng 100g. Cà chua rửa sạch, thái miếng, dùng máy ép lấy nước rồi hoà với đường, đun sôi một lát là được, để nguội, chia uống vài lần trong ngày. Đây là một loại nước giải khát rất tốt, vừa giàu chất dinh dưỡng lại vừa có khả năng phòng chống bệnh cao huyết áp và thanh nhiệt giải độc.

   @ Công thức 2 :  Cà chua 150g, dứa 150g, nước ép quả chanh 15 ml. Cà chua rửa sạch, thái miếng ; dứa gọt vỏ, cắt nhỏ, ngâm trong nước muối nhạt chừng 10 phút ; hai thứ dùng máy ép lấy nước rồi hoà với nước chanh, chia uống vài lần trong ngày. Loại nước giải khát này ngoài công dụng bổ dưỡng còn có tác dụng phòng chống cao huyết áp, đái tháo đường và béo phì.

   @ Công thức 3 :  Cà chua 500g, rau cần 250g, chanh 80g. Cà chua rửa sạch, thái miếng ; rau cần rửa sạch cắt đoạn ngắn ; hai thứ dùng máy ép lấy nước rồi vắt thêm nước chanh, hoà đều, chia uống nhiều lần. Đây là loại nước giải khát rất giàu sinh tố và chất khoáng, có tác dụng thúc đẩy chuyển hoá các chất trong cơ thể, bổ dưỡng và giải trừ mệt mỏi, đồng thời còn dự phòng cao huyết áp và tình trạng vữa xơ động mạch.

   @ Công thức 4 :  Cà chua 200g, mía 150g. Cà chua rửa sạch, thái miếng ; mía róc vỏ, chặt nhỏ ; hai thứ dùng máy ép lấy nước, chia uống vài lần trong ngày. Đây là loại nước giải khát rất tốt, có tác dụngkích thích tiêu hoá, phòng chống hữu hiệu tình trạng miệng khô, lưỡi nhiệt, trúng nắng, trúng nóng, chảy máu chân răng

   @ Công thức 5 :  Cà chua 150g, khổ qua 100g. Cà chua rửa sạch, thái miếng ; khổ qua rửa sạch, bổ dọc, bỏ hạt, cắt đoạn ngắn ; hai thứ dùng máy ép lấy nước, chia uống vài lần trong ngày. Loại nước giải khát này có công dụng thanh nhiệt giải độc, phòng chống tích cực tình trạng viêm nhiễm, làm đẹp da và hạ đường huyết.

   @ Công thức 6 :  Cà chua 80g, rau mùi 25g, lô hội 8g, rau cần 60g, táo tây 80g, mật ong 5 ml, nước ép quả chanh 15 ml. Cà chua rửa sạch, thái miếng ; rau mùi, rau cần và lô hội rửa sạch, cắt ngắn ; táo tây gọt vỏ, thái nhỏ ; tất cả cho vào máy ép lấy nước, hoà thêm mật ong và nước chanh, chia uống vài lần. Đây là loại nước giải khát rất hấp dẫn, giàu dinh dưỡng và có tác dụng tăng cường chức năng gan.

   @ Công thức 7 :  Cà chua 200g, táo tây 150g, chanh quả 80g, chuối tiêu chín 100g, cải bắp 100g. Cà chua rửa sạch, thái miếng ; táo tây gọt vỏ, cắt nhỏ ; chanh vắt lấy nước ; bắp cải thái mhỏ ; ba thứ dùng máy ép lấy nước ; chuối tiêu bóc vỏ, đánh nhuyễn rồi hoà đều với dịch ép, chế thêm nước chanh, quấy đều, chia uống vài lần. Thứ nước giải khát này có mùi vị thơm ngon, có tác dụng bổ dưỡng rất tốt, đồng thời còn làm đẹp da và kích thích tiêu hoá.
     Theo y học cổ truyền, cà chua vị ngọt chua, tính mát, có công dụng thanh nhiệt, chỉ khát, dưỡng âm và lương huyết, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như nhiệt bệnh phiền khát, môi khô hang khát do vị nhiệt, can âm bất túc, hay hoa mắt chóng mặt, âm hư huyết nhiệt, chảy máu cam, chảy máu chân răng, tiêu hoá kém, loét dạ dày, huyết áp caoNghiên cứu hiện đại cho thấy, cà chua rất giàu sinh tố và các nguyên tố vi lượng, chất tomatin có trong thành phần của nó có tác dụng ức chế nhiều loại vi khuẩn và nấm, vitamin P rất có ích cho việc phòng chống cao huyết áp. Gần đây, người ta còn phát hiện thấy cà chua còn có khả năng phòng chống ung thư và làm chậm quá trình lão hoá.



                                                                                    Hoàng Khánh Toàn

Người bình thường có nên dùng thuốc bổ đông y

NGƯỜI BÌNH THƯỜNG CÓ NÊN DÙNG THUỐC BỔ ĐÔNG Y ?



    Thông thường mà nói, khi cơ thể suy nhược vì đau ốm thì người ta mới tìm đến các thầy lang để cắt thuốc bồi bổ nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ cho cơ thể. Vậy thì, những người vô bệnh tật có nên dùng thuốc bổ của y học cổ truyền không? Câu trả lời cần khẳng định là có, vì theo quan niệm của y học cổ truyền, “ bổ” có nghĩa là bù đắp, bổ sung những cái mà cơ thể đang thiếu. Âm hư thì bổ âm, dương hư thì bổ dương, tâm huyết hư thì bổ tâm huyết, tỳ khí hư thì bổ tỳ khí…nghĩa là phần nào, bộ phận nào của cơ thể hư thiếu, sút kém thì phải bằng mọi cách bồi phụ cho đầy đủ để nhằm mục đích lập lại và duy trì thế cân bằng động cho cơ thể. Với cách hiểu này thì người vô bệnh cũng thường xuyên ở trạng thái thiếu bởi nhiều nguyên nhân khác nhau:
      * Do bẩm thụ tiên thiên bất túc, nghĩa là từ nhỏ cơ thể vốn đã hư yếu toàn thân hoặc một bộ phận nào đó, khi trưởng thành mặc dù không có bệnh tật cụ thể nhưng vẫn rất cần bồi bổ thường xuyên. Vả lại, con người ta sinh ra, thể chất và khí chất thường thiên lệch về một mặt nào đó, có người thiên âm hoặc thiên dương, có người thiên  hàn hoặc thiên nhiệt…, mà sự thiên lệch có thể thuộc hư hoặc thuộc thực, hư thì phải bồi bổ cho đầy đủ, thực thì phải bỏ bớt đi để tránh thái quá. Bởi thế, mặc dù vô bệnh nhưng những người thiên hư vẫn cần phải bồi bổ cho hợp lý.
       * Do sự tiêu hao không ngừng để duy trì hoạt động sống của cơ thể. Quá trình này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, tình trạng dinh dưỡng, điều kiện sống, khí hậu, môi trường…Tuỳ theo đặc điểm của từng yếu tố mà sự tiêu hao mang tính chất khác nhau. Theo quan niệm của y học cổ truyền, từ 40 tuổi trở đi âm khí trong cơ thể con người đã hao đi một nửa; nữ giới phần huyết dễ hư, nam giới phần khí dễ hư ; người béo bệu dương khí dễ hư, người gầy khô âm huyết dễ hư ; người sống ở xứ nóng dễ hao tổn phần âm, người sống ở xứ lạnh dễ hao tổn phần dương; “xuân hạ dưỡng dương, thu đông dưỡng âm”, nghĩa là mùa xuân và mùa hạ cần chú ý bổ dưỡng phần dương, mùa thu và mùa đông cần chú ý bổ dưỡng phần âm…
       * Do nhu cầu phải thường xuyên nâng cao sức đề kháng để phòng chống bệnh tật, y học cổ truyền gọi là bồi bổ chính khí. Điều này đặc biệt quan trọng đối với trẻ em, người già, phụ nữ sau khi sinh con, người mới ốm dậy. Những đối tượng này tuy vô bệnh nhưng cân bằng âm dương, khí huyết dễ bị rối loạn, khả năng chống đỡ bệnh tật hạn chế, rất cần phải bồi bổ để nâng cao chính khí nhằm đạt mục đích “ chính khí tồn nội, tà bất khả can”, nghĩa là sức đề kháng của cơ thể luôn luôn sung mãn thì các tác nhân gây bệnh không thể xâm nhập và phát huy tác hại được.
      * Do phải đáp ứng thường xuyên cho nhu cầu phát triển của cơ thể. Điều này đặc biệt quan trọng đối với lứa tuổi vị thành niên, phụ nữ có thai và đang cho con bú. Những đối tượng này rất cần phải bồi bổ một cách toàn diện và liên tục nhằm cung cấp đầy đủ và kịp thời các yếu tố cần thiết cho sự phát triển và hoàn thiện cơ thể.
      * Do phải đáp ứng các nhu cầu đặc biệt khác như nâng cao hiệu suất công tác, cải thiện khả năng sinh lý, kéo dài tuổi thọ và nâng cao chất lượng cuộc sống, nhu cầu thẩm mỹ…
     Như vậy, xét cho cùng, theo quan niệm của y học cổ truyền, con người ta không khi nào là không phải tiến hành bồi bổ. Mỗi ngày ăn cơm ba bữa chẳng phải cũng chính là phương thức bồi bổ cơ bản nhất hay sao ? Tuy nhiên, điều quan trọng là nên lựa chọn cách thức bồi bổ như thế nào cho có hiệu quả nhất, vấn đề này xin được bàn đến cùng độc giả trong bài viết tiếp theo.


                                                                                 Hoàng Khánh Toàn


Bệnh thận IgA

CẦN CẢNH GIÁC VỚI BỆNH THẬN IgA



     Khi nói đến bệnh lý của thận, người ta thường chỉ nhắc đến những bệnh như viêm cầu thận cấp và mạn tính, viêm bể thận, lao thận, sỏi thận, ung thư thận, hội chứng thận hưvới các biểu hiện thường gặp như phù toàn thân, đái buốt, đái rắt, huyết niệu, protein niệumà ít ai đề cập đến một căn bệnh không phải là hiếm gặp với dấu hiệu chủ yếu là đái ra máu mà không kèm theo các triệu chứng nào khác hoặc nếu có thì chỉ là tình trạng đau mỏi lưng hay có protein niệu ở mức độ nhẹ.
     Khi mắc bệnh lý này, người bệnh nhiều khi không cảm thấy gì nghiêm trọng và bác sỹ cũng dễ bỏ qua hoặc nếu có để ý thì cũng không đi đến kết luận chính xác cuối cùng do nhiều lý do khác nhau. Hậu quả là, người bệnh không biết mình mắc bệnh gì và cũng không trị liệu triệt để cho đến khi xuất hiện tình trạng suy thận thì mọi việc đã trở nên quá muộn màng và hết sức tốn kém. Căn bệnh đó có tên gọi là Bệnh thận IgA.

@ Bệnh thận IgA là gì ?

     Đó chính là một thể viêm cầu thận mạn tính được Berger và Hinglais mô tả lần đầu tiên vào năm 1968 với đặc điểm giải phẫu bệnh là có một loại globulin miễn dịch được gọi là IgA ngưng đọng lan toả trong gian mạch của tiểu cầu thận và biểu hiện lâm sàng đặc trưng là đái ra máu đại thể (mắt thường có thể nhìn thấy nước tiểu có màu hồng như nước rửa thịt hoặc thậm chí đỏ như máu tươi) tái đi tái lại nhiều lần xen kẽ với đái ra máu vi thể (chỉ nhìn thấy dưới kính hiển vi). Bệnh thường gặp ở trẻ lớn và người mới trưởng thành, hầu hết là nam giới. Bệnh tiến triển chậm, tương đối lành tính, ngoại trừ những ca có hội chứng thận hư, nhưng nếu không được chữa trị một cách có hệ thống thì sau chừng 10 - 15 năm bệnh có thể tiến triển đến giai đoạn suy thận. Khoảng 50% bệnh nhân có suy thận giai đoạn cuối trong vòng 25 năm kể từ khi được chẩn đoán.

@ Làm thế nào để chẩn đoán chính xác bệnh thận IgA ?

     Khi có dấu hiệu đái ra máu đại thể tái đi tái lại nhiều lần hoặc đái ra máu vi thể kéo dài thì nhất thiết phải đi khám để tiến hành các biện pháp chẩn đoán định vị. Nếu khẳng định được đái ra máu là do bệnh lý tiểu cầu thận thì bước tiếp theo là phải làm sinh thiết thận và dưới kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang khi phát hiện có IgA ngưng đọng lan toả trong gian mạch của tiểu cầu thận thì chẩn đoán bệnh thận IgA được xác định.

@ Y học hiện đại điều trị bệnh thận IgA như thế nào ?

     Hiện tại chưa có chứng cứ về ảnh hưởng của điều trị đến tiến trình tự nhiên của bệnh mặc dù trị liệu bằng corticoid hoặc kháng sinh có phạm vi công hiệu rộng có thể làm giảm tần số các đợt huyết niệu đại thể. Glucocorticoid có thể làm giảm protein niệu ở những bệnh nhân có dị thường nhẹ ở cầu thận khi nhìn dưới kính hiển vi quang học. Metylpretnisolon liều cao đường tĩnh mạch, các chất độc hại tế bào và trao đổi huyết tương có thể giúp ích cho bệnh nhân viêm cầu thận tiến triển nhanh với tổn thương hơn 50% số cầu thận. Các thuốc cầm máu không tác dụng đối với xuất huyết ở tiểu cầu thận. Thầy thuốc có thể chỉ kê một số thuốc với hy vọng cải thiện sức bền thành mạch và chống ngưng tụ tiểu cầu nhưng kết quả cũng rất hạn chế.

@ Y học cổ truyền quan niệm về bệnh thận IgA ra sao ?

     Với biểu hiện chủ yếu là đái ra máu, bệnh thận IgA  thuộc phạm vi các chứng Huyết niệu, Huyết trọc của y học cổ truyền. Nếu có kèm theo tình trạng phù thũng, lưng đau gối mỏi, suy nhược cơ thể thì có thể tham khảo thêm các chứng Yêu thốngHư lao. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh chủ yếu có ba khả năng : (1) Phong nhiệt xâm phạm vào tạng phế làm cho phế mất chức năng tuyên giáng, nhiệt tà truyền xuống phần dưới làm thương tổn tạng thận mà dẫn đến huyết niệu ; (2) Do nhiều yếu tố như bẩm thụ tiên thiên, lao phiền quá độlàm cho phần âm bị hư tổn, âm hư sinh nội nhiệt, hư nhiệt làm tổn thương tạng thận mà phát sinh huyết niệu ; (3) Vì nhiều nguyên nhân dẫn đến tỳ thận khí hư, tỳ hư không nhiếp huyết được nên huyết dịch thấm vào nước tiểu mà sinh ra huyết niệu. Nhìn chung, theo y học cổ truyền (YHCT) cơ chế bệnh sinh của bệnh thận IgA không ngoài ba nhân tố Nhiệt, Hư, trong đó âm hư, khí hư là bản (gốc), phong thấp nhiệt và huyết ứ là tiêu (ngọn), âm hư thường kèm thấp nhiệt, khí hư thường kèm huyết ứ.

@ Cách chữa bệnh thận IgA của YHCT ra sao ?

     Cũng như đối với nhiều chứng bệnh khác, biện pháp trị liệu bệnh thận IgA của YHCT khá phong phú và mang tính chất tổng hợp. Nguyên tắc chung là phải kết hợp chặt chẽ giữa dùng thuốc, châm cứu, tập luyện dưỡng sinh và ăn uống hợp lý. Khi dùng thuốc, có thể lựa chọn các vị thuốc, đơn thuốc theo biện chứng luận trị hoặc đơn phương, nghiệm phương, trong đó phương thức biện chứng trị liệu là hay được dùng hơn cả.
     Căn cứ vào chứng trạng cụ thể, các nhà YHCT thường chia bệnh thận IgA thành nhiều thể và từ đó lựa chọn các bài thuốc kinh điển hoặc xây dựng các đơn thuốc mới cho phù hợp. Thông thường người ta chia thành 2 giai đoạn cấp tính tái phát và mạn tính kéo dài với các thể bệnh như :
   * Giai đoạn cấp tính có 3 thể : Phong nhiệt nhiễu lạc dùng đơn Ngân kiều tán gia giảm, Hạ tiêu thấp nhiệt dùng đơn Tiểu kế ẩm tử gia giảm và Tâm hoả cang thịnh dùng đơn Đạo xích tán gia giảm.
   * Giai đoạn mạn tính có 3 thể : Âm hư hoả vượng dùng đơn Tri bá địa hoàng thang hợp Nhị chí hoàn gia giảm, Khí bất nhiếp huyết dùng đơn Quy tỳ thang gia giảm và Khí trệ huyết ứ dùng đơn Đào hồng tứ vật thang hoặc Bổ dương hoàn ngũ thang gia giảm.
     Trong mươi năm gần đây, các nhà y học cổ truyền trong và ngoài nước, đặc biệt là ở Trung Quốc, đã nghiên cứu và mạnh dạn sử dụng nhiều biện pháp đông y để điều trị bệnh thận IgA và bước đầu thu được kết quả rất đáng khích lệ. Đây thực sự đã mở ra một hướng nghiên cứu và điều trị mới cho căn bệnh còn nhiều nan giải này.


Chủ Nhật, ngày 02 tháng 11 năm 2014

Phòng chống xuất tinh sớm bằng khí công

PHÒNG CHỐNG TẢO TIẾT BẰNG KHÍ CÔNG


     Tảo tiết là tình trạng nam giới xuất tinh quá sớm khi sinh hoạt tình dục, nhẹ là khi dương vật cho vào âm đạo trong thời gian ngắn (dưới một phút), nặng là khi dương vật vừa mới cương cứng chưa đưa vào âm đạo mới chỉ chạm vào thân thể nữ giới mà đã xuất tiết tinh dịch. Nam giới bình thường đôi khi cũng có hiện tượng này, nhưng nếu xuất hiện thường xuyên khiến cho quá trình giao cấu không thể hoàn thành thì được coi là trạng thái bệnh lý.
     Y học cổ truyền giải quyết tảo tiết bằng nhiều biện pháp như dùng thuốc uống trong, đắp hoặc ngâm thuốc thuốc bên ngoài, châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, sử dụng các món ăn - bài thuốc..., trong đó có một phương cách khá đơn giản và hiệu quả mà người bệnh có thể tự tiến hành được là sử dụng khí công liệu pháp.
     Có nhiều phương pháp khí công (công pháp) để phòng chống tảo tiết, nhưng đơn giản, dễ tập luyện và không gây phản ứng phụ là sử dụng Cường dương cố tinh công với các thao tác cụ thể sau đây :
- Chọn tư thế ngồi hoặc đứng tự nhiên, toàn thân thoải mái, đầu óc yên tĩnh, tinh thần vui vẻ. Nhẹ nhàng hít không khí vào bằng mũi sao cho có cảm giác căng đầy ổ bụng rồi từ từ thở ra hết cỡ, đồng thời tập trung chú ý vào Đan điền (vùng dưới rốn), tập chừng 5 lần.
- Dùng hai tay nắm nhẹ thành quả đấm rỗng vỗ vào hai bên eo lưng và vùng xương cụt. Tiếp đó dùng hai lòng bàn tay xát theo chiều lên xuống hai khối cơ cạnh cột sống thắt lưng và vùng xương cùng cụt sao cho nóng lên là được.
- Dùng hai tay xoa từ hai tinh hoàn lên hai bên háng 36 lần.
- Chuyển sang tư thế nằm ngửa, dùng ngón tay trỏ và ngón tay giữa của tay trái kẹp giữ gốc dương vật, hướng dương vật sang phía trong đùi trái và day 36 lần. Tiếp đó lại dùng tay phải kẹp giữ gốc dương vật, hướng dương vật sang phía trong đùi phải và day 36 lần. Cuối cùng dùng hai ngón cái và ngón trỏ giữ gốc dương vật  hướng về phía bụng dưới và day 36 lần.
- Dùng ngón tay trỏ và ngón tay giữa đặt tại bao da dương vật, ngón cái đặt ở mũ quy đầu, đối xứng từ trước ra sau mà đẩy miết. Tay kia nắm lấy âm nang và tinh hoàn kéo xuống. Hai tay đồng thời dùng lực, động tác phối hợp hài hoà, làm liên tục 3 - 4 lượt rồi đột ngột buông ra. Làm đi làm lại vài lần như vậy.
- Dùng bàn tay trái ấn vào âm nang (túi đựng tinh hoàn), gốc bàn tay áp vào gốc dương vật, day tròn 81 lần, tiếp đó lại dùng tay phải tiến hành thao tác tương tự.
- Co hai gối lại, tay phải ôm đỡ hai tinh hoàn, tay trái xoa bụng dưới 36 vòng, rồi lại đổi tay xoa 36 vòng nữa. Cứ như vậy hai tay một đỡ tinh hoàn, một xoa bụng dưới, thay phiên nhau đủ 9 lần thì nghỉ.
     Bài tập trên cần được tiến hành kiên trì, đều đặn, mỗi ngày 1 - 2 lần, mỗi lần từ 20 - 30 phút. Chú ý khi luyện phải tập trung tư tưởng, động tác cần nhẹ nhàng mềm mại, cần giữ ấm khi trời lạnh.

                                                                            Hoàng Khánh Toàn


Ngọc bình phong ẩm

NGỌC BÌNH PHONG ẨM, MỘT LOẠI TRÀ DƯỢC QUÝ



     Ngọc bình phong ẩm là tên một bài trà thuốc cổ, được ghi lại trong y thư nổi tiếng Đan khê tâm pháp của Chu Đan Khê, một trong tứ đại gia trứ danh đời Kim Nguyên (Trung Quốc), có công dụng ích khí, cố biểu và chỉ hãn, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như hay đổ mồ hôi do biểu hư, cảm mạo ở những người thể chất hư nhược. "Bình phong" có nghĩa là tấm chắn, "Ngọc bình phong" là tấm chắn được chế bằng ngọc có công dụng che chắn bảo vệ cơ thể nhằm phòng chống ngoại tà (các nhân tố gây bệnh từ bên ngoài) xâm nhập vào cơ thể.
     Công thức loại trà dược này hết sức đơn giản, chỉ gồm có ba vị : hoàng kỳ sao 18g, bạch truật sao 12g, và phòng phong 6g. Cách dùng : ba vị sấy khô, tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 - 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
    Trong bài, hoàng kỳ vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ khí cố biểu, là một trong những dược liệu có tác dụng dược lý rất phong phú như tăng cường công năng miễn dịch của cơ thể, cải thiện quá trình chuyển hoá tế bào, điều tiết đường huyết, cường tim, nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống tạo huyết, bảo hộ tế bào gan và thận, chống lão hoá, chống mệt mỏi, chống phóng xạ, kháng khuẩn, kháng vi rút, chống viêm, tăng cường khả năng ghi nhớ, trấn tĩnh, giảm đau và ức chế các tế bào ung thư.
     Bạch truật vị đắng ngọt, tính ấm, có công dụng kiện tỳ ích khí, táo thấp lợi thuỷ, chỉ hãn an thai. Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, vj thuốc này cũng có khả năng tăng cường miễn dịch, chống lão hoá, làm giảm mỡ máu, hạ đường huyết, kháng khuẩn, lợi niệu, chống ung thư, lợi mật và bảo hộ tế bào gan.
     Phòng phong vị cay ngọt, tính hơi ấm, có công dụng trừ phong giải biểu, trừ thấp, trấn thống và giải kính. Theo dược lý học hiện đại, phòng phong có tác dụng giải nhiệt, kháng khuẩn, chống viêm, chống dị ứng, giảm đau, trấn tĩnh, chống co giật, kháng ung thư và nâng cao năng lực miễn dịch không đặc hiệu.
     Kết quả nghiên cứu dược lý và lâm sàng của các nhà khoa học Trung Quốc cho thấy, với cấu trúc phối hợp ba vị thuốc nói trên, Ngọc bình phong ẩm có tác dụng khá đặc biệt trên hệ thống miễn dịch của cơ thể, vừa nâng cao năng lực miễn dịch dịch thể, vừa cải thiện tích cực miễn dịch tế bào, ức chế phản ứng quá mẫn, tăng cường sức chống đỡ của niêm mạc đường hô hấp, từ đó phòng chống hữu hiệu tình trạng viêm nhiễm do vi khuẩn và vi rút gây nên. Bởi vậy, đây là loại trà dược đặc biệt tốt cho những người hay bị cảm mạo và các bệnh lý đường hô hấp. Trên thực tế, hiện nay người ta còn sử dụng Ngọc bình phong ẩm gia giảm để chữa khá nhiều chứng bệnh như tự hãn (vã mồ hôi nhiều khi thức), đạo hãn (hay đổ mồ hôi trộm), ho do nhiều nguyên nhân, viêm thận, liệt mặt, sốt khi hành kinh, khí hư, bí tiểu sau khi sinh con, chứng nhiều mồ hôi ở trẻ em, viêm mũi dị ứng, mày đay, hồng ban đa hình, hen phế quản, viêm nhiễm đường hô hấp trên
    Trong hoàn cảnh hiện nay, khi vấn đề ô nhiễm môi trường sống trở nên hết sức cấp bách, các bệnh lý trực tiếp hoặc có liên quan đến đường hô hấp đã và đang diễn biến rất phức tạp, đặc biệt là dịch SARS và cúm gà, thì việc tìm kiếm, nghiên cứu đánh giá và sử dụng các vị thuốc và bài thuốc của y học cổ truyền có ý nghĩa không nhỏ. Thiết nghĩ, Ngọc bình phong ẩm có lẽ cũng là một trong những loại trà dược cần được lưu tâm nghiên cứu và khuyến khích sử dụng.